Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC HÒA

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 65/2025/DS-ST

Ngày: 04-4-2025

“V/v Tranh chấp thừa kế

quyền sử dụng đất”.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Cương.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Thị Đổi.
  2. Ông Nguyễn Chí Lin.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ Quân - là thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lê Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1113/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 11 tháng 2024 về việc “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2025/QĐXXST-DS ngày 10/3/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 64/2025/QĐST-DS ngày 24/3/2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Bùi Thị T, sinh năm 1961.
  2. Địa chỉ: Ấp H, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  3. Bà Bùi Thị S, sinh năm 1969.
  4. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  5. Ông Bùi Đức T1, sinh năm 1957.
  6. Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của bà T, bà S, ông T1: Bà Dương Thị Kim T2 (Theo giấy ủy quyền ngày 31/10/2024 tại Văn phòng C).

- Bị đơn: Bà Phan Thị Đ, sinh năm 1934.

Địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1967.
  2. Bà Bùi Thị Ngọc Đ1, sinh năm 2004.
  3. Bà Bùi Trọng H, sinh năm 2005.

Cùng địa chỉ: Ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

(Bà T2 có mặt, bà Đ có đơn xin vắng mặt; bà B, bà Đ1, ông H vắng mặt không rõ lý do).


NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28/10/2024, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và tại phiên tòa, các nguyên đơn là bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị S, ông Bùi Đức T1 có người đại diện theo ủy quyền là bà Dương Thị Kim T2 trình bày:

Cha mẹ các ông bà là ông Bùi Văn T3 (chết năm 1995) và bà Phan Thị Đ chung sống với nhau có 05 người con gồm: Bùi Đức T1, Bùi Thị T, Bùi Thị S, Bùi Thị H1 (đã chết, không có chồng con), Bùi Tiến Đ2 (đã chết, có vợ là bà Nguyễn Thị B và hai con là bà Bùi Thị Ngọc Đ1 và ông Bùi Trọng H). Ngoài những người kể trên, cha mẹ các ông bà không có con riêng, con nuôi nào khác và cha mẹ ông T3 cũng đã chết trước ông T3.

Thời gian chung sống, cha mẹ ông bà có tạo lập được khối tài sản là quyền sử dụng đất diện tích 7483m² bao gồm các thửa sau: Thửa 94 (diện tích 2657,9m²), thửa 97 (diện tích 2435,5m²), thửa 528 (diện tích 278m²), thửa 594 (diện tích 2111,6m²), cùng tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và 01 căn nhà tình nghĩa do Nhà nước cấp cho bà Đ, được xây dựng trên thửa đất số 528, tờ bản đồ số 33, đất tại xã Đ.

Năm 1995, ông T3 chết, không để lại di chúc, toàn bộ diện tích đất trên do bà Đ trực tiếp quản lý, sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • Số DP 498689, thửa số 97, tờ bản đồ số 33, diện tích 2435,5m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498229, thửa số 528, tờ bản đồ số 33, diện tích 278m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498688, thửa số 594, tờ bản đồ số 33, diện tích 2111,6m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498230, thửa số 94, tờ bản đồ số 33, diện tích 2657,9m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.

Hiện nay, các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên, bà Đ đang quản lý, không thế chấp cho các nhân, tổ chức nào.

Sau khi ông T3 chết, các ông bà đã họp để phân chia di sản nhưng không thống nhất được cách phân chia di sản của ông T3.

Nay các ông bà khởi kiện để yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa giải quyết:

  • Buộc bà Phan Thị Đ chia di sản của ông Bùi Văn T3 để lại là ½ khối tài sản chung của cha và mẹ ông bà là 7483m² theo pháp luật. Cụ thể là (½ x 7483m²) chia làm 05 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng một kỷ phần là 748,3m², bao gồm: bà Phan Thị Đ, bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị S, ông Bùi Đức T1 và bà Nguyễn Thị B (cùng với Bùi Thị Ngọc Đ1, Bùi Trọng H).
  • Đối với căn nhà tình nghĩa xây dựng trên thửa đất số 528, đây là tài sản của nhà nước cấp cho bà Đ, các nguyên đơn đồng ý để lại cho bà Phan Thị Đ quản lý, sử dụng. Còn giá trị nhà thì các ông bà không yêu cầu bà Đ trả lại, các ông bà cũng không tranh chấp gì.

Bị đơn là bà Phan Thị Đ trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của các nguyên đơn về con chung và tài sản chung giữa bà với ông T3. Hiện bà đang trực tiếp quản lý, sử dụng các tài sản trên. Nay đối với yêu cầu chia di sản của ông T3, bà đồng ý chia như sau:

  • Đối với thửa đất số 594, diện tích 2.111,6m²: Chia cho Bùi Thị T và Bùi Thị S.
  • Đối với thửa đất số 97, diện tích 2.435,5m²: Chia cho vợ, con Bùi Tiến Đ2 là 1.435,5m² và Bùi Đức T1 là 1.000m².
  • Phần tài sản còn lại gồm các thửa đất số 528 và 94 cùng căn nhà tình nghĩa trên thửa đất 528 thuộc quyền sở hữu của bà.

Tuy nhiên, trong quá trình sống chung, vợ chồng ông Bùi Tiến Đ2 có đóng góp một phần trong việc xây dựng nhà nhưng bà B cùng hai con không có yêu cầu trong vụ án nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, nếu có tranh chấp thì sẽ khởi kiện một vụ án khác.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị B, Bùi Thị Ngọc Đ1 và Bùi Trọng H: Mặc dù được tống đạt các văn bản hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không rõ lý do, không có văn bản trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông T3 và bà Đ chung sống với nhau có 05 người con là Bùi Thị T, Bùi Thị S, Bùi Đức T1, Bùi Thị H1 (đã chết, không có chồng con) và Bùi Tiến Đ2 (đã chết, có vợ là Nguyễn Thị B và con là Bùi Thị Ngọc Đ1 và Bùi Trọng H). Bà T, bà S, ông T1 yêu cầu chia di sản của cha các ông bà là ông Bùi Văn T3 theo pháp luật. Bà Đ cũng đồng ý. Riêng bà B và các con bà B không có văn bản trình bày ý kiến.

Đối với căn nhà trên đất các đương sự thống nhất để bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng, do đó là nhà tình thương, cấp cho bà Đ và các nguyên đơn cũng không yêu cầu bà Đ trả lại phần giá trị mà các ông bà được hưởng thừa kế. Bà B và các con cũng không có ý kiến hay yêu cầu gì, nếu có tranh chấp thì bà B cùng hai con sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

Xét thấy, việc yêu cầu chia thừa kế của các nguyên đơn cùng với lời trình bày của bà Đ là có căn cứ.

Đối với bà B (cùng hai con) không có văn bản trình bày ý kiến nên đề nghị HĐXX không đề cập, xem xét đến, nếu có tranh chấp thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

Từ những nhận định như trên, đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định như sau:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đối với bị đơn bà Phan Thị Đ nên Tòa án xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất”. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa theo quy định tại khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS).

[2] Về thủ tục tố tụng: Bà Phan Thị Đ có đơn xin xét xử vắng mặt. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của BLTTDS.

[3] Về nội dung:

[3.1] Về xác định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh trong vụ án theo quy định tại Điều 92 BLTTDS:

Các ông bà Bùi Thị T, Bùi Thị S, Bùi Đức T1, Bùi Thị H1 (đã chết, không có chồng con) và Bùi Tiến Đ2 (đã chết, có vợ là Nguyễn Thị B và con là Bùi Thị Ngọc Đ1 và Bùi Trọng H) là con của ông T3 và bà Đ. Ông T3 và bà Đ có tạo lập được khối tài sản chung và đang được bà Đ quản lý theo các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:

  • Số DP 498689, thửa số 97, tờ bản đồ số 33, diện tích 2435,5m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498229, thửa số 528, tờ bản đồ số 33, diện tích 278m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498688, thửa số 594, tờ bản đồ số 33, diện tích 2111,6m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498230, thửa số 94, tờ bản đồ số 33, diện tích 2657,9m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.

Ông T3 chết năm 1995 theo Trích lục khai tử số 1267/TLKT-BS ngày 04/12/2020 của UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

[3.2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.2.1] Các thửa đất số 94 (diện tích 2657,9m²), thửa 97 (diện tích 2435,5m²), thửa 528 (diện tích 278m²), thửa 594 (diện tích 2111,6m²), cùng tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An: Tất cả các thửa đất nêu trên hiện do bà Đ đứng tên trên Giấy chứng nhận QSDĐ. Bà Đ cũng thừa nhận đây là tài sản chung của bà và ông T3. Vì vậy, khi ông T3 chết, các thửa đất nêu trên có ½ là di sản của ông T3 để lại. Tổng diện tích của các thửa đất số 94, 97, 528 và 594 là 7.483m², như vậy, phần di sản của ông T3 để lại là 3.741,5m². Như vậy, phần di sản của ông Đ sẽ chia làm 05 phần, bao gồm: bà Đ, bà T, bà S, ông T1 và bà B (cùng 02 con của ông Đ2), cụ thể mỗi người sẽ được 748,3m².

[3.2.1.1] Như nhận định ở trên, phần đất mà bà Phan Thị Đ được chia diện tích đất 748,3m²+ 3.741,5m² = 4.489,8m² (giá trị 8.061.398.401đồng). Tuy nhiên, bà Đ xin nhận toàn bộ thửa đất số 528 và 94, cùng tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, tổng diện tích 2.935,5m² (giá trị 8.588.455.300đồng). Xét thấy, trên thửa đất này có một căn nhà tình nghĩa do Nhà nước cấp cho bà Đ, hiện cũng do bà Đ đang quản lý, sử dụng. Vì vậy, bà Đ được chia 2 thửa đất nêu trên là hoàn toàn có căn cứ nên HĐXX ghi nhận ý kiến của bà Đ. Bà Đ được quản lý, sử dụng đối với hai thửa đất trên theo theo Mảnh trích đo địa chính số 459-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023.

Bà Đ có trách nhiệm trả lại số tiền chênh lệch giá đất cho bà T, bà S, ông T1 và bà B (cùng hai con), mỗi người số tiền 131.764.225đồng ((8.588.455.300đồng - 8.061.398.401đồng) : 4). Tuy nhiên, bà T, bà S, ông T1 đồng ý phần giá trị này cho bà Đ, không yêu cầu gì nên HĐXX không buộc bà Đ trả lại giá trị đất này cho bà T, bà S, ông T1. Đối với số tiền này, bà B (cùng hai con) không có văn bản trình bày nên bà Đ tiếp tục quản lý, nếu bà B (cùng hai con) có tranh chấp thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[3.2.1.2] Bà Đ không yêu cầu chia công sức đóng góp nên HĐXX không xem xét, đề cập đến.

[3.2.1.3] Đối với bà T, bà S, ông T1, bà B (cùng 02 con), cụ thể mỗi người sẽ được hưởng một phần di sản thừa kế, tương đương là 748,3m². Tuy nhiên, các nguyên đơn cũng như bà Đ đồng ý phân chia với diện tích đất nhiều hơn, xét sự phân chia này là có lợi cho các nguyên đơn cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên HĐXX ghi nhận.

[3.2.1.4] Bà Bùi Thị T: Được chia ½ diện tích đất 2111,6m², tương đương 1055,8m² thuộc thửa đất số 594, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023 và khu A M trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025.

[3.2.1.5] Bà Bùi Thị S: Được chia ½ diện tích đất 2111,6m², tương đương 1055,8m² (có giá trị 1.125.048.280đồng) thuộc thửa đất số 594, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023, khu B của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025.

[3.2.1.6] Ông Bùi Đức T1: Được chia diện tích đất 1000m², thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023, thuộc khu C của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025.

Xét trên phần đất này, có 01 ngôi mộ của ông Đ2. Ông T1 xin nhận phần đất này để sau này làm khu đất chôn cất họ tộc. Đồng thời, giao phần đất trống cho bà B cùng hai con quản lý, sử dụng, để tiện xây dựng nhà ở. Xét lời trình bày của ông T1 là có lợi cho bà B cùng hai con nên HĐXX ghi nhận.

[3.2.1.7] Bà Đ, bà T, bà S và ông T1 đều thống nhất trình bày, không yêu cầu các đương sự còn lại trả giá trị chênh lệch đất cho ông bà nên HĐXX không đề cập, xem xét đến.

[3.2.1.8] Bà Nguyễn Thị B, Bùi Thị Ngọc Đ1 và Bùi Trọng H (vợ con ông Bùi Tiến Đ2): Phần thừa kế của các ông bà được nhận là 748,3m² x (13.435.664.000đồng : 7.483m²) = 1.343.566.400đồng. Trong khi đó, các nguyên đơn và bị đơn đồng ý chia diện tích đất 1435,5m² (1.066.000đồng x 1435,5m² = 1.530.243.000đồng) thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023, thuộc khu D của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025 là có lợi có bà B (cùng hai con) là có lợi cho các ông bà nên HĐXX ghi nhận.

Tuy nhiên, Bà Nguyễn Thị B, Bùi Thị Ngọc Đ1 và Bùi Trọng H không có yêu cầu gì trong vụ án này nên tiếp tục giao cho bà Đ quản lý, sử dụng. Nếu bà B, bà Đ1, ông H có tranh chấp thì sẽ khởi kiện trong một vụ án khác.

[3.2.2] Đối với căn nhà trên thửa đất số 528, là nhà tình thương, do nhà nước cấp cho bà Đ nên đây là tài sản của bà Đ, giao cho bà Đ tiếp tục quản lý, sử dụng. Bà Đ cho rằng, gia đình bà B có một phần công sức đóng góp trong việc tu sửa nhà, bà B cùng hai con không có ý kiến phản hồi. Do đó, bà B cùng hai con có tranh chấp về công sức đóng góp trong căn nhà thì khởi kiện một vụ án khác.

[4] Từ những nhận định như trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp nên HĐXX chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí là 40.000.000 đồng (Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 3.000.000 đồng; Chi phí định giá là 27.000.000 đồng và M trích đo là 10.000.000 đồng). Bà T, bà S, ông T1 tự nguyện chịu chi phí này. Các ông bà đã nộp và chi phí xong.

[6] Về án phí: Bà Phan Thị Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bà Đ là người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009), do đó căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà Đ được miễn nộp tạm ứng án phí.

Bà T, ông T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản ông bà được nhận. Tuy nhiên, ông bà là người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009), do đó căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bà T, ông T1 được miễn nộp tạm ứng án phí.

Bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 45.764.484đồng (36.000.000đồng + 3% x (1.125.048.280đồng – 800.000.000đồng) án phí dân sự sơ thẩm, sung Ngân sách nhà nước. Bà S được khấu trừ số tiền đã nộp là 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006606 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà S phải nộp thêm 42.014.484đồng.

Tất cả các đương sự có trách nhiệm nộp số tiền này tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyên Đức Hoà.

Vì các lẽ trên,


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 35, Điều 39, Điều 86, Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 612, 656, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 12; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Bùi Thị T, bà Bùi Thị S và ông Bùi Đức T1 về việc “Tranh chấp chia thừa kế quyền sử dụng đất” đối với bị đơn bà Phan Thị Đ:

  • Công nhận ½ tài sản thuộc các thửa đất số 94, 97, 528 và 594, tờ bản đồ số 33, đất tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An là di sản của ông Bùi Văn T3.
  • Chia di sản của ông Bùi Văn T3 (diện tích 7.483m² : 2) thuộc các thửa đất số 94, 97, 528 và 594, tờ bản đồ số 33, đất tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An làm 05 phần bằng nhau, mỗi người được hưởng một kỷ phần. Cụ thể như sau:
  • - Bà Bùi Thị T được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1055,8m² thuộc thửa đất số 594, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023, thuộc khu A của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025.
  • - Bà Bùi Thị S được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1055,8m² thuộc thửa đất số 594, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023 và thuộc khu B của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025
  • - Ông Bùi Đức T1 được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 1000m² thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023, thuộc khu C của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025.
  • - Bà Phan Thị Đ được quyền quản lý, sử dụng diện tích đất 278m² thuộc thửa đất số 528, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và diện tích đất số 2657,9m² thuộc thửa đất số 94, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 459-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023.
  • - Giao một căn nhà tình nghĩa được xây dựng trên thửa đất số 528, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An cho bà Phan Thị Đ quản lý, sử dụng.
  • - Giao cho bà Phan Thị Đ tiếp tục quản lý phần di sản mà bà Nguyễn Thị B, bà Bùi Thị Ngọc Đ1 và ông Bùi Trọng H (vợ con ông Bùi Tiến Đ2) được nhận, cụ thể diện tích đất 1435,5m² thuộc thửa đất số 97, tờ bản đồ số 33, đất tại ấp Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An theo Mảnh trích đo địa chính số 458-2023 do Công ty TNHH Đ3 và được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 07/9/2023 và khu D của Mảnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 duyệt ngày 10/3/2025 và số tiền 131.764.225đồng (Một trăm ba mươi mốt triệu, bảy trăm sáu mươi bốn ngàn, hai trăm hai mươi lăm đồng).

Nếu bà Nguyễn Thị B, Bùi Thị Ngọc Đ1 và Bùi Trọng H có tranh chấp về phần di sản này thì khởi kiện trong một vụ án khác.

2. Các đương sự có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định pháp luật về đất đai đối với thửa đất số thửa đất số các thửa đất số 94, 97, 528 và 594, tờ bản đồ số 33, đất tại xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại Giấy chứng nhận QSDĐ phù hợp với kết quả giải quyết vụ án.

3. Bà Đ có trách nhiệm giao các bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như sau:

  • Số DP 498689, thửa số 97, tờ bản đồ số 33, diện tích 2435,5m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498229, thửa số 528, tờ bản đồ số 33, diện tích 278m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498688, thửa số 594, tờ bản đồ số 33, diện tích 2111,6m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.
  • Số DP 498230, thửa số 94, tờ bản đồ số 33, diện tích 2657,9m² do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ cấp ngày 17/9/2024.

Cho bà Bùi Thị T, Bùi Thị S, Bùi Đức T1 để thi hành án.

4. Về chi phí tố tụng: Tổng chi phí là 40.000.000 đồng. Bà T, bà S, ông T1 tự nguyện chịu chi phí này. Các ông bà đã nộp và chi phí xong.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Bà Phan Thị Đ, bà Bùi Thị T và ông Bùi Đức T1 là người cao tuổi (người từ đủ 60 tuổi trở lên theo Điều 2 Luật Người cao tuổi năm 2009), do đó căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội nên các ông bà được miễn án phí.

Bà S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 45.764.484đồng (36.000.000đồng + 3% x (1.125.048.280đồng – 800.000.000đồng), sung Ngân sách nhà nước. Bà được khấu trừ số tiền đã nộp là 3.750.000 đồng (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) theo biên lai thu số 0006606 ngày 12/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Bà S phải nộp thêm 42.014.484đồng.

6. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm công khai, đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Đức Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Đức Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Nguyễn Thị Kim Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/DS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 65/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị T tranh chấp Phan Thị Đừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger