Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2025/DS-PT

Ngày: 24-01-2025

V/v Tranh chấp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tâm

Các thẩm phán: Ông Hoàng Liên Sơn

Bà Đặng Mai Hoa

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hương - Thẩm tra viên chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Đặng Thị Sơn Cầm - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 519/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 572/2024/QĐ-PT ngày 19/12/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1);

Trụ sở: Số B - B N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D-Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S2) do ông Lê Ngọc T - Tổng Giám đốc. Trụ sở: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022.

Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H - Nhân viên Công ty S2. Địa chỉ: Tầng G, số F N, quận Đ, thành phố Hà Nội. Theo Giấy ủy quyền ngày 15/01/2025. Xin vắng mặt.

Bị đơn: Bà Trần Hồng A, sinh năm 1993; Vắng mặt.

Nơi cư trú: G T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội.

Do có kháng cáo của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S (S1);

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:

* Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các văn bản tố tụng khác, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 09/02/2021, bà Trần Hồng A có ký với Ngân hàng TMCP S Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Hồng A, ngày 09/02/2021 Ngân hàng đã chấp thuận đề nghị của bà Hồng A và phê duyệt cấp thẻ tín dụng thẻ Visa Platinum cho bà Hồng A với hạn mức 75.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.

Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Hồng A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 1.207.805.326 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Hồng A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 1.136.849.326 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng trừ phí, lãi trước, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Hồng A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Hồng A vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 26/12/2022 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn: (2,482%/tháng x 150%) = 3,723%/tháng.

Tính đến ngày 15/8/2024, bà Hồng A còn nợ cụ thể các khoản sau: nợ gốc là 85.828.365 đồng, lãi quá hạn là: 63.801.287 đồng, tổng nợ là 149.629.652 đồng. Ngân hàng TMCP S đề nghị Tòa án nhân dân quận HM giải quyết:

Buộc bà Trần Hồng A phải trả ngay cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 15/8/2024 là 149.629.652 đồng, trong đó: nợ gốc là 85.828.365 đồng, lãi quá hạn là 63.801.287 đồng.

Bà Trần Hồng A có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh sau ngày 15/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ gốc theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

* Bị đơn là bà Trần Hồng A: không đến Tòa án để trình bày ý kiến, giao nộp tài liệu, chứng cứ theo các thông báo của Tòa án cấp sơ thẩm.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST, ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội đã xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc đòi bà Trần Hồng A trả số tiền nợ phát sinh theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký kết ngày 09/02/2021.

Buộc bà Trần Hồng A trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tính đến ngày 24/9/2024 là 145.252.773 đồng (Một trăm bốn mươi lăm triệu, hai trăm năm mươi hai nghìn, bảy trăm bảy mươi ba đồng), gồm: Nợ gốc là 74.996.729 đồng (Bảy mươi tư triệu, chín trăm chín mươi sáu nghìn, bảy trăm hai mươi chín đồng); tiền lãi trong hạn là 8.195.034 đồng và các loại phí là 2.636.602 đồng, tổng là 10.831.636 đồng (Mười triệu, tám trăm ba mươi mốt nghìn, sáu trăm ba mươi sáu đồng); tiền lãi quá hạn là 59.424.408 đồng (Năm mươi chín triệu, bốn trăm hai mươi tư nghìn, bốn trăm linh tám đồng).

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, thi hành án.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm, Ngân hàng TMCP S kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội với lý do là Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận số tiền nợ gốc và tiền lãi quá hạn mà Ngân hàng yêu cầu. S1 yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm ngày 24/9/2024 và chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Đại diện Ngân hàng TMCP S (S1) có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 10/01/2025 và có ý kiến: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với bà Nguyễn Thu T1 và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. S1 đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận toàn bộ đơn khởi kiện của S1.

Bị đơn vắng mặt nên các đương sự không thoả thuận được cách giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

  • - Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án: Đã thực hiện đúng và đầy đủ các bước tố tụng theo quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án.
  • - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: các đương sự đã chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của nguyên đơn trong thời hạn luật định và nộp tạm ứng án phí đầy đủ nên về hình thức là hợp lệ.

Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: S1 áp dụng cách tính lãi suất không phù hợp với quy định. Tòa án cấp sơ thẩm tính lại lãi suất là đảm bảo quyền lợi cho bị đơn. Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn đã nộp đơn kháng cáo và tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm trong thời hạn quy định của pháp luật nên được chấp nhận về mặt hình thức.

Tại phiên tòa, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử theo quy định.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của S1:

[2.1] Về khoản nợ gốc: Theo Tóm tắt sao kê tài khoản của bà Trần Hồng A do Ngân hàng TMCP S cung cấp thể hiện: quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ngày cuối cùng bà Hồng A trả nợ là ngày 25/8/2022, số tiền là 75.000.000 đồng. Từ kỳ ngày 25/9/2022, dư nợ kỳ trước chuyển sang là 74.996.729 đồng và bà Hồng A không thực hiện thêm giao dịch nào khác cho đến khi bị chấm dứt quyền sử dụng thẻ là ngày 26/12/2022. Như vậy, cấp sơ thẩm xác định dư nợ gốc của bà Hồng A từ 25/9/2022 là 74.996.729 đồng là có căn cứ. Việc S1 tính gộp số tiền lãi, phí từ thời gian 25/9/2022 đến 26/12/2022 vào dư nợ gốc của bà Hồng A thành gốc mới (85.828.365 đồng) là không phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự 2015; Điều 7 Nghị quyết số 01/2019 ngày 01/11/.2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm a khoản 11 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng; Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N; để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của S1 là có căn cứ. Do vậy, kháng cáo của S1 về số nợ gốc không được chấp nhận.

Hội đồng xét xử xác nhận số tiền nợ gốc mà bà Hồng A còn nợ S1 là 74.996.729 đồng và buộc bà Trần Hồng A trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc là 74.996.729 đồng.

[2.2] Đối với số tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn, các loại phí phát sinh trong thời gian thẻ tín dụng còn hiệu lực: cấp sơ thẩm buộc bà Trần Hồng A phải trả S1 khoản lãi trong hạn, lãi quá hạn, các loại phí phát sinh trong thời gian thẻ tín dụng còn hiệu lực là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm, bà Trần Hồng A không đến Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên cấp sơ thẩm căn cứ các tài liệu, chứng cứ do S1 cung cấp để xét xử vụ án đã đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Nên không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của S1. Xác định bà Trần Hồng A phải trả S1 khoản tiền lãi trong hạn là 8.195.034 đồng, các loại phí là 2.636.602, lãi quá hạn tính trên số nợ gốc từ ngày 26/12/2022 đến ngày xét xử sơ thẩm là 59.424.408 đồng.

Kể từ ngày kế tiếp sau ngày xét xử sơ thẩm, bà Trần Hồng A phải tiếp tục chịu lãi suất đối với khoản nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết giữa các bên tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi tất toán toàn bộ số nợ gốc.

Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của S1, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST, ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội.

Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[3] Về án phí:

- Ngân hàng TMCP S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm.

- Bà Trần Hồng A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • - Khoản 3, Điều 26; Điểm b, khoản 2; Điều 227; Khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 147, Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Khoản 2, Điều 91; Điều 95; Khoản 3, Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng;
  • - Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • - Khoản 4, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm b khoản 1.3 Điều 1 Mục II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo.

Xử:

[1]. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ngân hàng TMCP S (S1).

[2]. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 69/2024/DS-ST ngày 24/9/2024 của Tòa án nhân dân quận HM, thành phố Hà Nội.

[3]. Về án phí:

3.1. Ngân hàng TMCP S phải chịu 431.869 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Đối trừ với số tiền 3.144.000 (Ba triệu một trăm bốn mươi tư nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu số 0033753 ngày 08/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận HM, thành phố Hà Nội. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 2.412.131 đồng (Hai triệu, bốn trăm mười hai nghìn, một trăm ba mươi mốt đồng).

Ngân hàng TMCP S phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0033723 ngày 04/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận HM, thành phố Hà Nội.

3.2. Bà Trần Hồng A phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 7.262.638 đồng (Bảy triệu hai trăm sáu mươi hai nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự. Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDTP Hà Nội;
  • - TAND quận HM;
  • - Chi cục THADS quận HM;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu văn phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2025/DS-PT ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng

  • Số bản án: 65/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án Dân sự phúc thẩm giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín và bị đơn là bà Trần Hồng Anh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger