|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2025/DS-PT
Ngày: 13 - 02 - 2025
V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản và
yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn An
Ông Nguyễn Văn Khương
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thanh Bình - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đỗ Phước Trung - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 764/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 10 năm 2024, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm 50/2024/DS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024, của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm 124/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Tôn T, sinh năm 1929; chết ngày 30/7/2024.
- - Bà Nguyễn Thị Ô; Địa chỉ: số E, đường B, Phường A, quận Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Kim C; Địa chỉ: G P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Tôn T1; Địa chỉ: số A N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- - Ông Nguyễn Tôn N; Địa chỉ: số C Tầng F Tháp B Cao ốc B L, phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ô, sinh năm 1949; Địa chỉ: số E, đường B, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tôn T:
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Dương Thị Hương T2, sinh năm 1997 và bà Nguyễn Vũ Ngọc N1, sinh năm 1999; cùng địa chỉ: số B, đường H, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 26/6/2023); Bà T2 và bà N1 có mặt.
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T3, Luật sư Công ty L và Cộng sự, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1959, địa chỉ: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Thanh S, sinh năm 1994; địa chỉ: ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai; có mặt.
Địa chỉ liên hệ: số F, đường P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/5/2022).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1963, địa chỉ: số A, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Công ty T6, địa chỉ: số G, đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1963; địa chỉ: số H, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957, địa chỉ: số G, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Ủy ban nhân dân phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: ông Võ Đình T4 - Chức vụ Giám đốc.
Người đại diện hợp pháp của ông Võ Đình T4: Ông Bùi Văn H, chức vụ: Giám đốc Truyền tải điện Miền Đông 2; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp: Ông Tôn Quang V - Chức vụ: Chủ tịch phường; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo Đơn khởi kiện ngày 21/12/2021, Đơn khởi kiện bổ sung ngày 14/3/2022; Đơn xin sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 12/6/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T trình bày:
Ngày 15/11/2004, UBND huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T được quyền sử dụng 3.220m², tại xã (nay là phường) B, huyện (thành phố) T, tỉnh Bình Dương, tờ bản đồ số 15, thuộc các thửa 325, diện tích 44m²; thửa 326, diện tích 170m²; thửa 327, diện tích 180m²; thửa 328, diện tích 1180²; thửa 329, diện tích 28m² đã trừ 51m² hành lang bảo vệ đường bộ (viết tắt là HLBVĐB); thửa 344, diện tích 411² đã trừ 68m² HLBVĐB; thửa 435, diện tích 170m²; thửa 436, diện tích 2.093m² đã trừ 211m² HLBVĐB.
Ngày 29/11/2004, UBND huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3088 về việc chấp thuận cho bà Ô, ông T được chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang diện tích đất thổ cư 1.000m² (cụ thể gồm: 63m² thuộc thửa số 344 và 937m² thuộc thửa số 436, diện tích đất còn lại là 2.222m² đã trừ đất HLBVĐB là 330m²).
Qua tìm hiểu, bà Ô, ông T mới biết ông Nguyễn Văn M tự ý xây dựng nhà trọ trên một phần đất thuộc quyền sử dụng đất của bà Ô, ông T từ năm 2004 đến nay gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Ô, ông T nên bà Ô, ông T yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau: Buộc ông Nguyễn Văn M phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên thửa đất của bà Ô, ông T và trả lại hiện trạng đất ban đầu có diện tích 338,8m² được đo đạc thực tế 313m² và công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho ông T, bà Ô; ông T, bà Ô tự nguyện rút lại một phần yêu cầu ông M phải bồi thường giá trị đất đã sử dụng để thu lợi bất chính từ năm 2004 đến nay là 1.700.000.000 đồng.
- Theo Đơn phản tố ngày 26/9/2022, Đơn phản tố bổ sung ngày 20/02/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn M trình bày:
Tại thời điểm bà Ô, ông T được UBND huyện (nay là thành phố) Thuận An cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông Nguyễn Văn M là người trực tiếp quản lý sử dụng phần đất mà bà Ô, ông T cho rằng ông M tự ý lấn chiếm đất là phần đất của ông Nguyễn Văn M.
Việc cơ quan Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T, bà Ô bao gồm cả phần đất gắn liền tài sản là nhà trọ của ông M là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông M nên ông M yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu sau:
Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sốsố phát hành T568846 ngày 15/11/2004, được UBND huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T; công nhận phần đất có diện tích 255,3m², đo đạc thực tế là 313m², thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn M.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S1 trình bày: vào ngày 28/4/2022, bà S1 làm đơn xin giải quyết vắng mặt và không có ý kiến gì đối với việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa bà Ô, ông T với ông M. Bà S1 thống nhất ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Văn M là chồng của bà S1.
- Công ty T6 trình bày: trụ điện số 31, đường dây 220kv T - B xây dựng từ năm 2004 và hiện nay vẫn đang hoạt động và do Truyền tải điện Miền Đông 2 thuộc Công ty T6 quản lý. Hiện nay, công ty sử dụng con đường đất đi vào trụ điện giáp hai dãy nhà trọ của ông Nguyễn Văn M xây dựng. Để đảm bảo an toàn lưới điện cũng như xử lý các sự cố phát sinh trong quá trình truyền tải điện, công ty yêu cầu Tòa án căn cứ vào Nghị định số 14 ngày 26/02/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Điện lực về an toàn điện để giải quyết, đảm bảo đúng quy định của pháp luật và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt với lý do bận nhiều công tác của đơn vị.
- Ông Nguyễn Văn D trình bày: vào năm 2003, ông Nguyễn Văn D có chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn M một phần đất như hiện nay ông M, bà Ô đang tranh chấp; việc chuyển nhượng đất cho ông M 02 bên chỉ làm giấy tay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bởi vì phần đất này là con đường đất giáp ranh địa bàn xã (nay là phường) B và địa bàn xã (nay là phường) A, huyện (nay là thành phố), tỉnh Bình Dương. Đối với diện tích đất của nguyên đơn đang sử dụng và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có nguồn gốc đất trước đây của ông D đã bán cho bà Nguyễn Thị H1 và sau này bà H1 đã bán lại cho bà Ô, ông T. Đối với diện tích đất hiện nay bà Ô, ông T đang tranh chấp với ông M là con đường đất đi. Nhà nước quản lý, ông D sang lại cho ông M và ông M cũng biết là đất con đường đi. Hiện nay, ông D không còn liên quan gì đối với phần đất này, ông D yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- Bà Hà Thị H2 trình bày: trước đây, bà H2 có hùn tiền với ông M để sang nhượng phần đất là con đường đất do ông D sang nhượng lại. Sau đó, bà H2 và ông M thỏa thuận, bà H2 không tiếp tục hùn tiền cùng ông M sang nhượng phần đất do ông D quản lý nên bà H2 không có quyền và lợi ích gì trên phần đất ông M với bà Ô, ông T đang tranh chấp. Bà H2 yêu cầu Tòa án cho bà H2 được vắng mặt trong suốt quá trình hòa giải, xét xử của Tòa án và không có yêu cầu gì khác.
- UBND phường B trình bày và cung cấp thông tin tại Công văn số 597/UBND-KT ngày 09/12/2022 như sau:
Đối với con đường ranh B - A được hình thành từ trước năm 1975 là đường ranh giới hành chính giữa phường B và phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện (nay là thành phố) T cấp cho bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T được quyền sử dụng diện tích 3.220m² có một phần diện tích đất nằm trên hành lang đường bộ 06m là phần diện tích đất nằm trên hành lang đường ranh B - A thuộc quyền quản lý của Nhà nước.
Đối với công trình xây dựng trên con đường R - A: ông Nguyễn Văn M chưa bị các cơ quan có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. Sau khi có quyết định của Tòa án, UBND phường B phối hợp các cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định.
Đối với trạm điện hình thành giữa con đường là trụ điện số 31 của Truyền tải điện Miền Đông 2 thuộc Công ty T6 quản lý.
Đối với thửa đất số 329, bà Ô, ông T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc đất nằm trong hành lang đường bộ và được ông M sử dụng xây dựng nhà trọ và hiện nay bà Ô, ông T đang tranh chấp.
UBND phường đề nghị giải quyết vắng mặt trong các phiên hòa giải, xét xử do bận nhiều công tác tại cơ quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1]. Về những người tham gia tố tụng: Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử, triệu tập hợp lệ các đương sự trong vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, vắng mặt một số người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T, bị đơn ông M và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Xét việc vắng mặt của những đương sự này không ảnh hưởng đến việc xét kháng cáo của bà Ô và ông M. Do đó, căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của các đương sự.
[2.1]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu: buộc bị đơn ông Nguyễn Văn M phải tháo dỡ toàn bộ công trình xây dựng trái phép trên thửa đất của bà Ô, ông T và trả lại hiện trạng đất ban đầu được đo đạc thực tế 313m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương; đồng thời yêu cầu công nhận quyền sử dụng phần đất tranh chấp cho nguyên đơn. Nguyên đơn tự nguyện rút yêu cầu ông M phải bồi thường giá trị đất đã sử dụng để thu lợi bất chính từ năm 2004 đến nay là 1.700.000.000 đồng.
[2.2]. Bị đơn có yêu cầu phản tố: hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 003819/QSDĐ/BC, số phát hành T568846 ngày 15/11/2004, được UBND huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Ô và ông Nguyễn Tôn T; công nhận phần đất có diện tích được đo đạc thực tế là 313m², tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn M.
[2.3]. Nguồn gốc diện tích đất 3.220m², tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương là của bà Nguyễn Thị H1 chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ô vào ngày 09/8/2004. Đến ngày 15/11/2004, bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T được UBND huyện nay là thành phố T, tỉnh Bình Dương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 3.220m², tại xã nay là phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, thuộc các thửa đất số 325, 326, 327, 328, 329, 344, 435 và 436, tại tờ bản đồ số 15. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 03078/QSDĐ/BL ngày 21/10/2003 cấp cho bà Nguyễn Thị H1 thể hiện các thửa 344, 212, 329 giáp hành lang lộ giới và đã trừ tổng cộng 351m² đất hành lang lộ giới. Tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sốsố phát hành T568846 ngày 15/11/2004, được UBND huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Ô và ông Nguyễn Tôn T thể hiện các thửa 344, 436 và 329 giáp hành lang bảo vệ đường bộ và đã trừ tổng cộng 330m² đất hành lang bảo vệ đường bộ. Ngày 29/11/2004, UBND huyện T, tỉnh Bình Dương ban hành Quyết định số 3088 về việc chấp thuận cho bà Ô, ông T được chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang diện tích đất thổ cư 1.000m² (cụ thể gồm: 63m² thuộc thửa số 344 và 937m² thuộc thửa số 436), diện tích đất còn lại là 2.222m² đã trừ đất HLBVĐB là 330m². Tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện theo ủy quyền của bà Ô, ông T cũng thừa nhận diện tích đất 313m² tranh chấp là đất thuộc hành lang bảo vệ đường bộ. Tại Đơn xin sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 12/6/2023 (BL số 302), bà Ô trình bày: “Vào thời điểm nhận chuyển nhượng, phần đất này là hành lang bảo vệ đường bộ đường đất ranh B - A, do đó tôi chưa được công nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất này...”. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bà Ô, các người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn thay đổi lời trình bày và cho rằng phần đất tranh chấp thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T, bà Ô. Căn cứ vào sơ đồ vị trí thửa đất đang tranh chấp do bà Ô, ông T với ông M chỉ ranh mốc giới đất đều thống nhất diện tích đất tranh chấp là 313m², vị trí hướng Nam mốc giới đất của bà Ô, ông T giáp đường đất ranh giới giáp phường B - phường A (04m) là căn nhà trọ của ông Nguyễn Văn M đã xây dựng không có xin giấy phép của các cơ quan có thẩm quyền từ năm 2003. Đồng thời, tại Văn bản số 3682/UBND-NC ngày 19/12/2022, Ủy ban nhân dân thành phố T xác định: “Phần diện tích 330m² HLBVĐB không được UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Nguyễn Thị Ô và ông Nguyễn Văn T5”. Từ những phân tích trên cho thấy, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định diện tích đất 313m² tranh chấp có nguồn gốc đất hành lang bảo vệ đường bộ, và do Nhà nước quản lý, là có căn cứ. Do đó, quan điểm của các người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn căn cứ Công văn số 597/UBND-KT ngày 09/12/2022 của Ủy ban nhân dân phường B và theo bản đồ Quy hoạch phân khu tỷ lệ 1/2000 phường B được U (nay là thành phố) Thuận An phê duyệt tại Quyết định số 7756/QĐ-UBND ngày 30/12/2024, đường đất ranh BC - AP chưa quy định hành lang an toàn đường bộ, để yêu cầu công nhận phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của ông T5, bà Ô là không có căn cứ chấp nhận.
[2.4]. Đối với yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn M thấy rằng: Ngày 14/4/2003, ông Nguyễn Văn D có lập một giấy viết tay “Hợp đồng sang nhượng đất” cho bà Hà Thị H2 và ông Nguyễn Văn M diện tích 860m² đất là con đường đi, ông D chưa được các cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi thỏa thuận chuyển nhượng đất bằng giấy tay với ông Nguyễn Văn D, ông M tiến hành xây dựng nhà trọ để kinh doanh cho đến nay. Ông M cũng thừa nhận việc xây dựng nhà trọ trên đất là con đường đi của ông D bằng giấy viết tay, chưa xin giấy phép xây dựng nhà, đồng thời chưa xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai. Như trên đã phân tích, diện tích đất tranh chấp do ông M đang sử dụng nhưng là đất bảo vệ hành lang đường bộ, do Nhà nước quản lý. Đồng thời không có căn cứ hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T5, bà Ô. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận cho bị đơn quyền sử dụng đối với phần đất tranh chấp và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T5, bà Ô, là đúng pháp luật.
[2.5]. Tòa án cấp sơ thẩm xác định diện tích đất xây dựng công trình 236,8m² do ông Nguyễn Văn M tự xây dựng trên diện tích 313m² đất thuộc hành lang bảo vệ đường bộ, không có giấy phép xây dựng, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong vụ án này, là có căn cứ.
[3]. Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, là đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn, bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới làm căn cứ sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn; cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nêu trên. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ô về việc công nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp cho ông T5, bà Ô, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm điều chỉnh lại phần quyết định cho phù hợp.
[4]. Về việc không triệu tập Ủy ban nhân dân thành phố T tham gia tố tụng trong khi bị đơn có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn, là thiếu sót. Tuy nhiên, do không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của nguyên đơn nên sai sót nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm không phải là vi phạm nghiêm trọng tố tụng, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của các đương sự, của người thứ ba, của Nhà nước, nên không cần hủy bản án dân sự sơ thẩm nêu trên vì lý do này.
[5]. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa, được chấp nhận.
[6]. Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[7]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, lẽ ra bà Nguyễn Thị Ô và ông Nguyễn Văn M phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Nhưng bà Ô, ông M là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí dân sự phúc thẩm. Do đó, căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử phúc thẩm miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Ô và ông M.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148; Điều 270; Điều 293; khoản 1 Điều 308; Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ô và của bị đơn ông Nguyễn Văn M.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2024/DS-ST ngày 16-7-2024 của Tòa án nhân tỉnh Bình Dương về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa nguyên đơn ông Nguyễn Tôn T (nay là những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Tôn T), bà Nguyễn Thị Ô với bị đơn ông Nguyễn Văn M.
- Căn cứ Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 217, Điều 227, Điều 266 và Điều 269 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 503 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; Điều 15 của Nghị định số 100/2013 ngày 03/9/2013 được sửa đổi bổ sung một số điều tại Nghị định số 11/2010 ngày 24/02/2010 của Chính phủ quy định về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T về việc yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Văn M phải trả cho bà Ô, ông T và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 313m² đất thuộc hành lang bảo vệ an toàn đường bộ, vị trí hướng Nam giáp ranh mốc giới đất của bà Ô, ông T, được UBND cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/11/2004, tọa lạc tại phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn M về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 003819/QSDĐ/BC, số phát hành T568846 ngày 15/11/2004, được UBND huyện (nay là thành phố) T, tỉnh Bình Dương cấp cho bà Nguyễn Thị Ô, ông Nguyễn Tôn T và yêu cầu được quyền quản lý, sử dụng diện tích 313m² đất thuộc hành lang bảo vệ đường bộ.
- Đối với diện tích đất xây dựng công trình 236,8m² do ông Nguyễn Văn M tự xây dựng trên diện tích 313m² đất thuộc hành lang bảo vệ đường bộ, không có giấy phép xây dựng, không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án trong vụ án này.
- Các quyết định khác của bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Ô và ông Nguyễn Văn M được miễn.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hòa |
Bản án số 65/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 65/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tôn T kiện bà Nguyễn Thị Ổ v/v tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
