Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc


Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 31-5-2024


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN - TỈNH QUẢNG NINH


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thanh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Thu Hà

- Bà Vũ Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Quỳnh A - Kiểm sát viên

Những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu thành phần:

- Bà Nguyễn Thị Cẩm Đ - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên

- Ông Đoàn Trung S - Chuyên viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh và Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam Công an tỉnh Q, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/HSST ngày 01/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HS ngày 07/5/2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lường Văn T(Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 10/6/1993 tại huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: bản Nôm, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lường Văn T1 và bà: Lường Thị Đ1. Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị giữ khẩn cấp ngày 18/12/2023, đang thực hiện Quyết định tạm giam 60 (Sáu mươi) ngày, kể từ ngày 16/4/2024 của TAND thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt.
  2. Họ và tên: Quàng Văn T2 (Tên gọi khác: không có), sinh ngày 05/10/1997 tại thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Nơi thường trú: bản Xôm, xã P, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Quàng Văn Ó (đã chết) và bà: Lường Thị P. Có vợ là Nguyễn Thị Thu H và 01 (một) con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị giữ khẩn cấp ngày 18/12/2023, đang thực hiện Quyết định tạm giam 70 (Bảy mươi) ngày, kể từ ngày 05/4/2024 của TAND thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt.
  3. Họ và tên: Lò Văn É (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 01/8/1994 tại huyện S, tỉnh Lai Châu. Nơi thường trú: bản Pắn Ngọi, xã N, huyện S, tỉnh Lai Châu. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lò Văn H1 và bà: Vì Thị P1. Có vợ là Tòng Thị X và 02 (Hai) con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị bắt quả tang ngày 18/12/2023, đang thực hiện Quyết định tạm giam 60 (Sáu mươi) ngày, kể từ ngày 16/4/2024 của TAND thị xã Quảng Yên. Hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn É: Luật sư Đào Bá Y - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q. Có mặt.

* Người làm chứng:

  • - Ngô Quang Đ2, sinh năm 1982. Nơi thường trú: thôn H, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.
  • - Nguyễn Hòa T3, sinh năm 1981. Nơi thường trú: thôn I, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN


Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào hồi 10 giờ 10 phút ngày 18/12/2023 tại thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh. Đội cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an thị xã Q phối hợp Công an xã S, thị xã Q phát hiện, bắt quả tang Lò Văn É có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và thu giữ: Tại túi quần phía sau bên trái Lò Văn É đang mặc 02 (hai) gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục (Kí hiệu M1, M2). Lò Văn É khai nhận đó là ma tuý (loại H2) có nguồn gốc: khoảng 07 giờ ngày 18/12/2023, do có nhu cầu sử dụng ma tuý, Lò Văn É ra khu vực cầu C thuộc thôn H, xã S, thị xã Q và mượn điện thoại của người đàn ông lạ mặt để gọi điện cho Lường Văn T hỏi mua 200.000đ ma tuý (loại Heroine), T đồng ý và hẹn 09 giờ 30 phút gặp tại khu vực cầu C để giao dịch. Sau khi hẹn, Lò Văn É trả điện thoại cho người lạ mặt và chờ tới giờ hẹn. Tại cầu C, T chở theo Quàng Văn T2, tới nơi Quàng Văn T2 đưa cho Lò Văn É 02 (hai) gói giấy bạc bên trong chứa ma tuý. Lò Văn É nhận ma tuý và đưa cho Quàng Văn T2 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ, sau đó đi bộ về tìm nơi sử dụng ma tuý thì bị kiểm tra, thu giữ.

Giữ người trong trường hợp khẩn cấp thu của Lường Văn T: 01 điện thoại di động ViVo màu đen xanh, đã cũ, có sử dụng vào việc liên lạc để mua bán ma tuý và 200.000đ; không thu giữ gì của Quàng Văn T2.

Kết luận giám định số 1790/KL-KTHS ngày 23/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q: chất bột màu trắng kí hiệu M1, M2 trong 02 (hai) gói giấy bạc, trong phong bì niêm phong ghi vật chứng thu giữ của Lò Văn É gửi giám định là ma túy; loại Heroine, có tên khoa học là: Diacetylmorphine (được quy định tại Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Nghị định số 57/2022/NĐ-Cp ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất. Khối lượng M1=0,156gam; M2=0,106gam. H3 lại đối tượng giám định M1=0,11gam và M2 = 0,06gam và toàn bộ vỏ bao gói.

Quá trình điều tra, Lường Văn T và Quàng Văn T2 khai nhận ngoài lần bán ma túy này, còn bán cho các đối tượng sử dụng ma túy khác cụ thể như sau:

  • - Lò Văn Sơn 01 gói ma tuý Heroine giá 100.000đ vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 17/12/2023;
  • - Lường Văn L 02 gói (01 gói giá 100.000đ vào 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2203 và 01 gói giá 100.000đ vào 18 giờ 30 phút ngày 17/12/2203);
  • - Lường Văn H4 02 gói (01 gói giá 100.000đ vào 11 giờ ngày 17/12/2203 và 01 gói giá 100.000đ vào 18 giờ ngày 17/12/2203);
  • - Quàng Văn D 02 gói (01 gói giá 100.000đ vào 11 giờ ngày 13/12/2203 và 01 gói giá 100.000đ vào 18 giờ ngày 15/12/2203)

T4 lợi bất chính tổng số tiền 700.000đ. Nguồn gốc số ma tuý này, T và T2 mua của người đàn ông không quen biết tại khu vực cầu C thuộc thôn H, xã S để sử dụng cho bản thân và bán khi có người hỏi mua. Cả 4 lần đi mua ma tuý T và T2 đều đi cùng nhau, T2 là người cầm tiền để trả còn T thì nhận ma tuý. Riêng 200.000₫ bán ma tuý cho É thì chưa tiêu, T cất trong ví thì bị thu giữ.

Xét nghiệm nước tiểu xác định kết qủa Lò Văn É, Lường Văn T, Quàng Văn T2, Lò Văn S1, Lường Văn H4, Quàng Văn D, Lường Văn L: dương tính với chất ma tuý Heroine.

Ngày 27/12/2023, Cơ quan điều tra đã gửi vật chứng tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q theo gói gửi số 21/2023/CATX và Phiếu nhập kho ngày 28/12/2203 của Kho bạc Nhà nước Q, kèm Bảng kê chi tiết tài sản gửi là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số 140/CT-VKSQY ngày 01/4/2024 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo Lường Văn T và Quàng Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Lò Văn É về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Lường Văn T và Quàng Văn T2 mỗi bị cáo từ 7 (B) năm đến 07 (Bảy) năm 06 (S2) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt 18/12/2023.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự: xử phạt Lò Văn É từ 12 (Mười hai) đến 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tính từ ngày bắt (18/12/2023). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo;

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) theo gói gửi tại Kho bạc Nhà nước và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen - xanh. Truy thu của Lường Văn T và Quàng Văn T2 mỗi bị cáo 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) sung quy Nhà nước. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Cả 3 bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án đã nêu, nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật; việc bị truy tố và đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, không oan, đã được thực hiện các quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; được giải thích về việc công bố bản án trên Cổng thông tin điện tử và không có ý kiến gì. Đề nghị HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo Lò Văn É khai: Bị cáo sử dụng ma tuý từ năm 2022, trước đây khi ngồi quán nước bị cáo biết T sử dụng ma tuý (loại Heroine). Bị cáo xin số điện thoại và bảo khi nào có nhu cầu thì gọi điện cho T hỏi mua, T đồng ý. Bị cáo không sử dụng ma tuý thường xuyên, chỉ khi nào có tiền bị cáo mới sử dụng. Số tiền mua ma tuý là tiền lao động của bị cáo mà có.

Bị cáo Lường Văn T và Quàng Văn T2 khai: Khoảng 09 giờ ngày 25/12/2023 Lò Văn É gọi điện cho Lường Văn Thỏi mua 200.000₫ ma túy, T đồng ý và rủ Quàng Văn T2 đi ra cầu C để T bán ma tuý cho Lò Văn É. Bị cáo T mượn xe môtô của người trong công trường để chở T2, khi T2 lên xe bị cáo T lấy trong túi áo 02 gói ma tuý Heroine đưa T2 cầm, ra đến cầu C, T bảo T2 đưa 02 gói ma tuý cho Lò Văn É và nhận 200.000đ. T2 đã giao ma tuý cho Lò Văn É và đưa lại 200.000đ cho T. Ngoài lần bán ma tuý này, T và T2 còn bán ma tuý cho Lò Văn S1, Lường Văn L, Lường Văn H4 và Quàng Văn D như Cáo trạng đã nêu. Hai bị cáo cùng ở trọ với nhau nên cùng rủ nhau góp tiền mua ma túy để sử dụng chung, khi có người hỏi thì cùng bán kiếm lời, tiền bán ma túy cùng nhau chi tiêu.

Người chứng kiến Ngô Quang Đ2 và Nguyễn Hòa T3 khai: khoảng 10 giờ ngày 18/12/2023 khi các anh đang ở thôn G, xã S, thị xã Q thì thấy lực lượng Công an tiến hành kiểm tra một người tên Lò Văn É. Quá trình kiểm tra, Công an phát hiện và thu giữ tại túi quần phía sau bên trái của Lò Văn É đang mặc có 02 gói giấy bạc. Lò Văn É khai nhận đó là ma tuý Heroine mua của Lường Văn T vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 18/12/2023 với giá 200.000đ để sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị kiểm tra, phát hiện và thu giữ.

Lò Văn S1, Lường Văn H4, Quàng Văn D, Lường Văn L có lời khai phù hợp với lời khai của các bị cáo Lường Văn T và Quàng Văn T2, phù hợp với nội dung vụ án.

Phần tranh luận: Các bị cáo không tranh luận.

Luật sư Đào Bá Y: Bị cáo Lò Văn É khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên truy tố bị cáo có căn cứ pháp luật nên Luật sư không tranh luận. Xét bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, thành khẩn khai báo, là người dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật hạn chế, gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 362/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: xử phạt bị cáo Lò Văn É 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn É.

Lời nói sau cùng: Cả 3 bị cáo đều nhận thức được hành vi mua bán và tàng trữ trái pháp chất ma tuý là vi phạm pháp luật, ân hận về việc làm của mình và cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng khoan hồng của pháp luật, sớm trở về với gia đình và xã hội.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:


Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận của Lò Văn É về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng, nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là mua của Lường Văn T phù hợp với lời khai của Lường Văn T và Quàng Văn T2 về việc T cùng T2 bán ma túy cho bị cáo É. Lời khai của T và T2 về việc góp tiền mua ma túy cùng nhau sử dụng và bán trái phép còn phù hợp với lời khai của các đối tượng khác mua ma túy của 2 bị cáo để sử dụng; phù hợp với nội dung Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 10 giờ 10 phút ngày 18/12/2023 tại thôn G, xã S, thị xã Q; Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp; Biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản ảnh vật chứng; Quyết định trưng cầu giám định và Kết luận giám định.

Như vậy, đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày từ 13 đến 18/12/2023, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh Lường Văn T và Quàng Văn T2 có hành vi bán trái phép ma tuý (lọai Heroine) cho Lò Văn É 02 gói giá 200.000đ (ngày 18/12/2023); cho Lò Văn S1 01 gói giá 100.000đ (ngày 17/12/2023); cho Lường Văn L 02 gói giá 200.000đ (ngày 16 và 17/12/2023); cho Lường Văn H4 02 gói giá 200.000đ (cùng ngày 17/12/2023) và cho Quàng Văn D 02 gói giá 200.000đ (ngày 13 và 15/12/2023).

Khoảng 10 giờ 10 phút ngày 18/12/2023 tại thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh Lò Văn É có hành vi tàng trữ trái phép 0,262 gam ma túy (loại H5) để sử dụng thì bị bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự:

“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a)...

c) Heroine, C, M, A1, MDMA hoặc XRL-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam

“Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm"

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm

a) ...

b) Phạm tội 02 lần trở lên...”

[3] Tính chất, mức độ, hành vi phạm tội: Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Lường Văn T, Quàng Văn T2 và hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Lò Văn É là vi phạm pháp luật, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, ma túy là chất bị Nhà nước tuyệt đối cấm sử dụng trong đời sống xã hội; hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy gây mất trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng vẫn mua bán trái phép, tàng trữ trái phép nhằm thu lợi và thỏa mãn nhu cầu bất chính của cá nhân thể hiện sự coi thường pháp luật, cần xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hướng xử lý:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: cả 3 bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên và Luật sư Đào Bá Y đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với các bị cáo là có căn cứ pháp luật và phù hợp. Bị cáo Lường Văn T và Quàng Văn T2 cố ý cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nhưng không có ai là người chỉ huy, điều hành nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Lò Văn É phạm tội độc lập nên phải chịu trách nhiệm hình sự độc lập đối với hành vi phạm tội của mình. Xét các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hành vi phạm tội giản đơn nên xét xử các bị cáo mức án đầu khung hình phạt cũng đủ để răn đe, giáo dục.

Đối với Lò Văn S1, Lường Văn L, Lường Văn H4 và Quàng Văn D có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý đã bị xử phạt hành chính, HĐXX không đề cập giải quyết.

Đối tượng bán ma tuý cho Lường Văn T và Quàng Văn T2 không xác định được thông tin cụ thể, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, HĐXX không xem xét.

[5] Vật chứng: Lượng ma túy và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không còn giá trị sử dụng; Chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo Lường Văn T là công cụ phạm tội nên tịch thu, tiêu hủy và sung quỹ Nhà nước.

[6] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo đều không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về 200.000đ được gửi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q và 700.000đ Lường Văn T và Quàng Văn T2 bán ma tuý cho các đối tượng khác là tiền do phạm tội mà có nên phải tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: các bị cáo Lường Văn T, Quàng Văn T2 và Lò Văn É đều là đồng bào dân tộc thiểu số nhưng chỉ có bị cáo Quàng Văn T2 và Lò Văn É được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 phê duyệt danh sách các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.


QUYẾT ĐỊNH


Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Lường Văn T và Quàng Văn T2 phạm tội “Mua bán phép chất ma túy trái”.

Xử phạt: Lường Văn T 07 (B) năm tù, thời hạn tính từ ngày 18/12/2023

Xử phạt: Quàng Văn Tiến 07 (B) năm tù, thời hạn tính từ ngày 18/12/2023

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Lò Văn É phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Lò Văn É 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 18/12/2023

Vật chứng: Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1790/KL-KTHS ngày 18/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh Q.

Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Q gửi tại Kho bạc Nhà nước thị xã Q ngày 28/12/2203 của Kho bạc Nhà nước Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu đen-xanh, đã cũ, đã qua sử dụng và 01 sim điện thoại. (Tình trạng thể hiện tại Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Quảng Yên).

Tịch thu của Lường Văn T và Quàng Văn T2 mỗi bị cáo 350.000đ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng) nộp ngân sách Nhà nước.

Căn cứ Điều 331; Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Lường Văn T, Quàng Văn T2 và Lường Văn É1 được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo báo quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.


Nơi nhận:

  • - VKS, CA, THADS Tx Quảng Yên;
  • - TAND, VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TTG CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Nhà tạm giữ CA Tx Quảng Yên;
  • - CQCSĐT Công an Tx Quảng Yên;
  • - CQTHAHS CA Tx Quảng Yên;
  • - Đội hồ sơ nghiệp vụ CA Tx Quảng Yên
  • - Bị cáo;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ




Lê Thanh Tâm

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Thuận (cđp) phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger