Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯƠNG SƠN

TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 23/9/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dung.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Sỹ Huyền và ông Nguyễn Khắc Hải.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trần Đức Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Cao Anh Bắc - Kiểm sát viên.

Vào hồi 09 giờ 30 phút, ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLHS-ST ngày 11 tháng 9 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS, ngày 13/9/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức T; tên gọi khác: không; sinh ngày: 20/01/1983; tại huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Khối C, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; chức vụ đoàn thể: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Mạnh T1 và bà Nguyễn Thị M; vợ: Trần Thị Bích L; con: 02 đứa, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2011; anh, chị, em ruột: Có 02 người, bị cáo là con thứ nhất; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 25/7/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và đã được xóa án tích. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH V.

Địa chỉ: Số B, đường B, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Huy H; chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt tại phiên tòa.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Hữu Q, sinh năm: 1982.

Địa chỉ: Thôn B, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ ngày 21/6/2024, tại Km 85 + 300, quốc lộ H khu vực cửa khẩu quốc tế C, thuộc địa phận thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Công an huyện H đã phối hợp với lực lượng có liên quan bắt quả tang Nguyễn Đức T đang có hành vi vận chuyển 09 hộp pháo có khối lượng 10,4kg từ tỉnh Bolykhamxay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân lào đưa về Việt Nam nhằm mục đích sử dụng.

Theo lời khai của bị cáo Nguyễn Đức T thể hiện: Vào ngày 20/6/2024 Nguyễn Đức T là lái xe cho công ty TNHH V điều khiển xe ô tô đầu kéo CHENGLONG, màu vàng biển kiểm soát 37H - 012.72, kéo theo rơ mooc 37R - 029.80 màu xanh chở hàng nhựa đường chạy từ thành phố V đến cửa khẩu quốc tế C làm thủ tục xuất cảnh sang tỉnh Bolykhamxay, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào để giao hàng. Đến khoảng 08 giờ ngày 21/6/2024 sau khi bốc hàng xong thì T điều khiển xe ô tô quay về Việt Nam, khoảng 10 giờ cùng ngày khi về đến khu vực ngã ba T thuộc tỉnh Bolykhamxay nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào thì T dừng xe lại rồi xuống xe đi vào quán hàng tạp hóa bên đường để mua thuốc lá thì gặp một người phụ nữ Lào và mua của người này 09 hộp pháo loại 36 quả với giá 1.800.000 tiền kíp Lào, tương đương 1.800.000 đồng VNĐ. Sau đó T điều khiển xe chở pháo về đến Km85 + 300 thuộc địa phận thôn H, xã S, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ.

* Tại bản kết luận giám định số: 868/KL-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, kết luận:

  • - 09 Khối hình hộp kích thước giống nhau khoảng (14,5 x 14,5 x 10)cm, bên ngoài mỗi hộp được bọc giấy màu đỏ, có in nhiều hoa văn và các dòng chữ nước ngoài gửi đến giám định là pháo, có đầy đủ đặc tính của pháp nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng 10,4kg.

* Vật chứng thu giữ chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh:

  • - 09 Hộp pháo có khối lượng 10,14kg còn lại sau khi lấy mẫu giám định được bỏ vào 01 thùng cát tông dán kín, trên mép dán dải niêm phong có chữ ký của các thành phần và bị cáo, đóng dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H.
  • - 01 Giấy thông hành số NA 7457.23 mang tên Nguyễn Đức T do Công an tỉnh N cấp.

* Vật chứng thu giữ trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp gồm:

  • - 01 Xe ô tô tải nhãn hiệu Chang Long màu vàng, biển kiểm soát 37H - 012.72, kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 37R - 029.80 màu xanh, xe đã qua sử dụng.
  • - 01 Giấy phép liên vận Việt Nam - Lào số 815 của rơ mooc biển kiểm soát 37R - 029.80 mang tên Công ty TNHH V.
  • - 01 Giấy phép liên vận Việt Nam - Lào số 812 của xe ô tô tải biển kiểm soát 37H - 012.72 mang tên Công ty TNHH V.

* Tài liệu chuyển kèm theo hồ sơ vụ án:

  • - 01 Đĩa CDR hỏi cung ghi âm, ghi hình có âm thanh đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

Tại cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại bản cáo trạng số: 63/CT-VKS-HS, ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh truy tố bị cáo Nguyễn Đức T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T từ 24 (Hai mươi bốn) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024 về tội “Vận chuyển hàng cấm”.

* Về hình phạt bổ sung: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

* Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 10,14kg pháo còn lại sau khi lấy mẫu giám định được bỏ vào 01 thùng cát tông dán kín, trên mép dán dải niêm phong có chữ ký của các thành phần và bị cáo.
  • - Trả lại chỉ bị cáo Nguyễn Đức T 01 giấy thông hành số NA 7457.23 mang tên Nguyễn Đức T do Công an tỉnh N cấp.

Bị cáo Nguyễn Đức T thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Người đại diện theo pháp luật của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V ông Trương Huy H, người chứng kiến anh Nguyễn Hữu Q đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa hôm nay không có lý do. Bị cáo và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu Tòa án hoãn phiên tòa. Hội đồng xét xử xét thấy sự vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình làm sáng tỏ diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án nên Hội đồng xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hương Sơn, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Đức T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án; phù hợp với Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận Nguyễn Đức T mua 10,4 kg pháo từ Lào vận chuyển về Việt Nam nhằm mục đích sử dụng đã phạm vào tội “ Vận chuyển hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm Điều 191 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không có gì oan sai.

[4] Vụ án thuộc loại tội nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước trong quản lý hàng cấm. Pháo nổ là mặt hàng Nhà nước nghiêm cấm, nó không chỉ gây nguy hiểm cao độ đến sức khỏe, tính mạng của con người mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đến lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại. Bị cáo biết việc tàng trữ, vận chuyển pháo là pháp luật nghiêm cấm, thế nhưng để thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo bất chấp pháp luật vẫn vận chuyển pháo nhằm mục đích sử dụng. Bị cáo vận chuyển pháo qua biên giới nên phải chịu tình tiết định khung “Vận chuyển qua biên giới...” được quy định tại điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự. Vì vậy Hội đồng xét xử cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm và phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo có cha vợ là ông Trần Văn T2 được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến công giải phóng hạng ba vì đã lập chiến công xuất sắc trong chiến đấu và phục vụ chiến đấu chống mỹ chứu nước, mẹ vợ và Trần Thị L1 là thương binh hạng 4/4 nên cần căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần.

[7] Đối với người phụ nữ Lào bán pháo cho Nguyễn Đức T tại Lào, do T không biết địa chỉ cụ thể, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với Công ty TNHH V không biết việc T vận chuyển số pháo trên từ Lào về Việt Nam, quá trình điều tra Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[8] Về hình phạt bổ sung: Gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn nên miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đức T.

[9] Về vật chứng vụ án:

  • - 10,14kg còn lại sau khi lấy mẫu giám định được bỏ vào 01 thùng cát tông dán kín, trên mép dán dải niêm phong có chữ ký của các thành phần và bị cáo. Là các vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 Giấy thông hành số NA 7457.23 mang tên Nguyễn Đức T do Công an tỉnh N cấp là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Đức T không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T.
  • - 01 Xe ô tô tải nhãn hiệu Chang Long màu vàng, biển kiểm soát 37H – 012.72, kéo theo rơ mooc biển kiểm soát 37R - 029.80 màu xanh, xe đã qua sử dụng; 01 giấy phép liên vận Việt Nam - Lào số 815 của rơ mooc biển kiểm soát 37R - 029.80 mang tên Công ty TNHH V; 01 giấy phép liên vận Việt Nam - Lào số 812 của xe ô tô tải biển kiểm soát 37H - 012.72 mang tên Công ty TNHH V. Quá trình điều tra cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định nên Hội đồng xét xử miễn xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  • * Về tội danh: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191 Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
  • * Về hình phạt chính: Áp dụng điểm k khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T 2 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/6/2024.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • - Tịch thu tiêu hủy: 10,14kg còn lại sau khi lấy mẫu giám định được bỏ vào 01 thùng cát tông dán kín, trên mép dán dải niêm phong có chữ ký của các thành phần và bị cáo, đóng dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh H.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đức T 01 Giấy thông hành số NA 7457.23 mang tên Nguyễn Đức T do Công an tỉnh N cấp.

(Đặc điểm các vật chứng nói trên như biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024).

  • * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Đức T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH V, người đại diện theo pháp luật ông Trương Huy H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án chính hoặc ngày niêm yết bản án chính.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Tĩnh
  • - VKSND huyện Hương Sơn;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Công an huyện Hương Sơn;
  • - Cơ quan THHS Công an Hương Sơn;
  • - Công an tỉnh (phòng PV 27);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Chi cục THADS huyện Hương Sơn;
  • - Bị cáo; Người CQLNVLQI
  • - UBND phường Vinh Tân;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Dung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH về vận chuyển hàng cấm (hình sự)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯƠNG SƠN, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án NGuyễn Đức T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger