Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HSST

Ngày: 14/8/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tiến Trung.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Oanh và bà Vũ Thị Tịnh
  • Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 14/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 56/2024/TLST-HS ngày 18/7/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 61/2024/QĐXXST-HS ngày 31/7/2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Đỗ Văn T, sinh năm 1976; HKTT: thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Đỗ Văn V (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị V1, sinh năm 1935; Gia đình bị cáo có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Vợ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1981; Có 02 con, con lớn sinh năm 1999, con nhỏ sinh năm 2005;Tiền sự: Ngày 12/9/2022 bị Công an xã B, huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh H. Theo lệnh trích xuất bị cáo có mặt tại phiên toà.

* Người làm chứng:

  • Anh Nguyễn Tân T1, sinh năm 1990
    Trú tại: Thôn D, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • Anh Nguyễn Đăng T2, sinh năm 1983
    Trú tại: Thôn T, xã T, huyện K, tỉnh Hưng Yên.
  • Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1981
    Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

Tại phiên toà: Anh T1, anh T2 và chị S vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 05/4/2024, Đỗ Văn T đi nhờ xe mô tô của một người lạ mặt đến khu vực thôn B, xã T, huyện K mục đích tìm mua ma tuý về sử dụng. Khi đến cổng làng thôn T, xã T, T xuống xe rồi đi bộ vào khu vực đường bê tông thôn B, xã T thì gặp một người đàn ông lạ mặt khoảng 50 tuổi dáng người gầy đang đi bộ trên đường. Thấy người đàn ông này có biểu hiện giống người nghiện ma tuý nên T lại gần và hỏi “để cho em hai cái bốn trăm” (ý T muốn mua 2 gói ma tuý với giá 400.000đ). Người đàn ông đồng ý nên T đưa cho người này số tiền 400.000đ. Sau khi nhận tiền, người đàn ông đưa cho T 02 gói nilon màu xanh, bên trong có chất màu trắng. Tin tưởng bên trong gói nilon chứa ma tuý nên T cầm ở lòng bàn tay trái rồi quay về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 08 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang đi bộ trên đường bê tông thôn B, xã T thì bị tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K kết hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ niêm phong của Toa 02 gói nilon trên để gửi đi giám định.

Tại bản kết luận giám định số: 309/KL-KTHS(MT) ngày 08/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh H xác định: Mẫu chất màu trắng dạng cục và bột trong niêm phong, có tổng khối lượng là 0,735g là ma túy, loại Heroine, có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 67/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Về vật chứng: Đối với số ma tuý hoàn lại sau giám định, Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Cáo trạng số: 67/CT-VKSKC ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • Bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Xử phạt Đỗ Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2024.

2

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu cho tiêu hủy 0,723g Heroin, các mảnh nilon màu đen, các mảnh nilon gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật; Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, những người làm chứng là anh T1 và anh T2 vắng mặt. Qua xem xét sự vắng mặt của họ, Tòa án đã triệu tập, tống đạt hợp lệ nên xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử và tại phiên tòa Kiểm sát viên, bị cáo không yêu cầu hoãn phiên tòa. Sau khi thảo luận tại phòng xử án, căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử thống nhất vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3]. Chứng cứ xác định có tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản Cáo trạng, được chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật; Kết luận giám định; Lời khai của bị cáo, của những người làm chứng trong quá trình điều tra, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 08 giờ 20 phút ngày 05/4/2024, tại đoạn đường bê tông thuộc thôn B, xã T, huyện K, Đỗ Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,735g Heroine nhằm mục đích để sử dụng thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang. Hành vi nêu trên của Đỗ Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Đỗ Văn T theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số:

3

67/CT-VKSKC ngày 18/7/2024 là có căn cứ, đúng người đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước đối với các chất gây nghiện. Hành vi của bị cáo còn huỷ hoại sức khoẻ, trí lực của chính bị cáo, phá hoại kinh tế, hạnh phúc gia đình cũng như làm phát sinh các loại tội phạm khác. Chỉ vì nghiện ma tuý, để thoả mãn cơn nghiện mà bị cáo bất chấp tác hại của ma tuý, coi thường pháp luật, cố ý tàng trữ để sử dụng nên cần xử lý bị cáo bằng một bản án thật nghiêm.

Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho T, do không biết rõ họ, tên và địa chỉ cụ thể nên không có cơ sở để xác minh, xử lý, HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.

[4]. Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:

  • Tiền án: Không
  • Tiền sự: Ngày 12/9/2022 bị Công an xã B, huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản.
  • Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có bố đẻ là ông Đỗ Văn V được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhất. Nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, với đặc điểm nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên thấy cần thiết phải cho cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, lao động tự do, không có thu nhập ổn định, kinh tế gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

  • Cơ quan Công an đã thu giữ của Đỗ Văn T 0,723g Heroin hoàn sau giám định, các mảnh nilon màu đen, các mảnh nilon gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định, đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số:

4

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
    Xử phạt: Bị cáo 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 05/4/2024.
  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    Tịch thu tiêu hủy 0,723g Heroin hoàn sau giám định, các mảnh nilon gói ma tuý và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định.
    (Tình trạng, số lượng, chủng loại, đặc điểm vật chứng như Quyết định chuyển vật chứng số: 52/QĐ-VKSKC ngày 18/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu).
  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Đỗ Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA-TAND tỉnh HY.
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên.
  • - CA huyện Khoái Châu.
  • - VKS huyện Khoái Châu.
  • - Chi cục THADS huyện Khoái Châu.
  • - UBND xã Bình Kiều;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Tiến Trung

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HSST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 65/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA hình sự Đỗ Văn T tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger