Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 65/2024/HS-PT

Ngày: 31-5-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Bình;

Ông Trần Thanh Tòng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Đang, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Út Nhỏ, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 và ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 18/2024/TLPT-HS ngày 23 tháng 01 năm 2024; Đối với các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T; Do các bị cáo có kháng cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 148/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Các bị cáo kháng cáo:

  1. Trần Văn Đ, sinh năm 1984 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp C, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm mướn; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Q (chết) và bà Phan Thị Út E; Vợ tên Nguyễn Thị B (ly hôn) và 02 người con sinh năm 2011 và năm 2014; Tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
  2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1978 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không có; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn P (chết) và bà Phạm Thị Y (chết); Vợ tên Trương Thị S và 02 người con sinh năm 2007 và năm 2013; Tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.
  3. Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi cư trú: Ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Y1 (chết) và bà Nguyễn Thị C1 (chết); Vợ tên Nguyễn Thị Thu N và 02 người con sinh năm 1998 và năm 2000; Tiền án, tiền sự: không có; bị áp dụng biện pháp C đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

Các bị cáo Lê Xuân B1, Phạm Văn T1, Phan Thanh D, Bùi Thế Duy T2, Lê Phước T3, Trần Văn L1 và Trần Tấn L2 không có kháng cáo;

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Đ: Ông Nguyễn Văn T4; Luật sư; Thuộc Công ty L5; Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T: Ông Lê Văn B2; Luật sư Thuộc Công ty L5; Đoàn Luật sư tỉnh Đ; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tháng 05/2021, Đ sử dụng số sim điện thoại 0855.351.xxx và tài khoản mạng xã hội Zalo có tên “Trần L3” để tìm mua giấy phép lái xe giả sử dụng. Được vào trang quảng cáo trên Zalo có tên “Thây Tiên Đa” (không rõ nhân thân, lai lịch); Nhận làm giấy phép lái xe không cần đi học, không thi sát hạch, có hồ sơ thi và quét mã sẽ hiện tên của người trong giấy phép lái xe; Khi gọi vào có người tư vấn cho Được việc mua bán giấy phép lái xe (viết tắt GPLX) giả, giá tiền nhận làm giấy giả.

Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2021 - 3/2022, giá làm giả GPLX sau: GPLX hạng A1 giá 1.100.000 đồng; GPLX hạng B2 giá 4.000.000 đồng; GPLX hạng C giá 6.500.000 đồng; GPLX hạng FC giá 7.000.000 đồng.

Từ tháng 02/2022 -4/2022, giá làm GPLX giả tăng giá tiền như sau: GPLX hạng C giá 9.000.000 đồng; GPLX hạng FC giá 10.000.000 đồng.

Người đặt làm GPLX giả phải chụp ảnh căn cước công dân (viết tắt CCCD) và ảnh 4 x 6 của mình; Thông qua điện thoại gửi thông tin cá nhân và ảnh qua Zalo cho người bán, khi nhận được GPLX giả sẽ trả tiền. Bằng hình thức trên Được đặt mua cho Được GPLX giả hạng C mang tên Trần Văn Đ, số [...] và hồ sơ cấp GPLX giả qua đường chuyển phát nhanh của Bưu điện và thanh toán số tiền 6.500.000 đồng bằng hình thức thu hộ (COD) của Bưu điện. Được sử dụng GPLX giả hạng C tham gia giao thông bị phát hiện.

Bằng hình thức nêu trên, Được đặt mua 14 GPLX giả các hạng A1, B2, C và FC bán lại cho nhiều người thu lợi bất chính như sau:

  1. Phạm Văn T1 mua 01 GPLX giả hạng FC (không xác định được số và tên, do bị cháy xém một góc) sử dụng, giá tiền 10.000.000 đồng. Trước khi mua T1 cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  2. Lê Phước T3 mua của Được 01 GPLX giả hạng FC, số: [...], mang tên Lê Phước T3, sinh ngày 14-7-1973; Nơi cư trú: Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 13.000.000 đồng. Tông cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  3. Lê Xuân B1 mua của Được 01 GPLX giả hạng C, số: [...], mang tên Lê Xuân B1, sinh ngày 03-6-1974; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 11.000.000 đồng. Bằng cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  4. Phan Thanh D mua của Được 01 GPLX giả hạng FC, số: [...], mang tên Phan Thanh D, sinh ngày 03-01-1977; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 10.000.000 đồng. D cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  5. Bùi Thế Duy T2 mua của Được 01 GPLX giả hạng FC, số: [...], mang tên Bùi Thế Duy T2, sinh ngày 01-01-1982; Nơi cư trú: thị trấn T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 10.000.000 đồng. Tông cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  6. Trần Văn L1 mua của Được 01 GPLX giả hạng A1, số: [...], mang tên Trần Văn L1, sinh ngày 15-02-1982; Nơi cư trú: xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 1.200.000 đồng. Lượm cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  7. Trần Tấn L2 mua của Được 01 GPLX giả hạng A1, số: [...], tên Trần Tấn L2, sinh ngày 19-8-2002; Nơi cư trú: Xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 1.200.000 đồng. L2 cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  8. Nguyễn Văn L mua của Được 01 GPLX giả hạng C, số: [...], mang tên Nguyễn Văn L, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Ấp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 8.000.000 đồng. L cung cấp hình ảnh CCCD, ảnh 4 x 6 của mình để Được liên hệ đặt làm.
  9. Huỳnh Văn H mua của Được 01 GPLX giả hạng C; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Do H làm mất GPLX giả trước khi bị phát hiện nên không thu được.
  10. Nguyễn Văn L4 mua của Được 01 GPLX giả hạng A, giá tiền 1.700.000 đồng, do L4 biết GPLX giả vứt bỏ trước khi bị phát hiện, không thu hồi được.

Ngoài ra, Nguyễn Văn L giới thiệu cho Được bán GPLX giả như sau:

  1. Nguyễn Văn Thu mua 01 GPLX giả hạng A1, số: [...] với số tiền 2.000.000 đồng và 01 GPLX giả hạng C, số: [...], với số tiền 12.000.000 đồng. Lâm thu thập hình ảnh CCCD, ảnh 4 x6 của T gửi cho Đ, T đã thanh toán cho L số tiền 14.000.000 đồng, Đ cho L 700.000 đồng tiền công.
  2. Phan Thanh N1 mua 01 GPLX giả hạng C, số: [...], mang tên Phan Thanh N1, sinh ngày 14-6-1999; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 12.000.000 đồng. L giao lại cho Đ số tiền 12.000.000 đ, N1 phát hiện GPLX giả không đúng quy định nên trả cho Đ và nhận lại số tiền 12.000.000 đồng.
  3. Lê Văn Đ1, sinh năm: 1982 ngụ ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh mua 01 GPLX giả hạng C, số: [...], mang tên Lê Văn Đ1, sinh ngày 01-01-1982; Nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; Giá tiền 12.000.000 đồng; L giao số tiền 12.000.000 đồng cho Đ, Đ1 phát hiện GPLX giả không đúng quy định, trả lại cho Đ và nhận số tiền 12.000.000 đồng.

Được thu lợi bất chính do bán GPLX giả cho Huỳnh Văn H1, Nguyễn Văn L4, B1, T1, D, T2, T3, T, L1, L4 và L tổng số tiền 22.200.000 đồng.

Nguyễn Văn L giúp sức cho Được bán GPLX giả thu lợi số tiền 700.000 đồng

Ngoài ra, Được lấy thông tin của vợ tên Nguyễn Thị Song T5 và con riêng của vợ tên Trương Thị Ánh T6 đặt làm 02 GPLX giả cho T5T6; Gồm:

  • + GPLX hạng B2, số: [...], tên Nguyễn Thị Song T5, sinh ngày 20-9-1982; Nơi cư trú: xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh T, ngày cấp: 15-4-2021;
  • + GPLX hạng A1, số: [...], tên Trương Thị Ánh T6, sinh ngày 26-5-2001; Nơi cư trú: ấp T, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh; Nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh T; Ngày cấp: 20-01-2022.

Kết luận giám định số 1128/KL-KTHS ngày 21-9-2022 của Phòng K Công an thỉnh T7 kết luận:

GPLX hạng C, số: [...]; GPLX hạng A1, số: [...]; GPLX hạng A1, số: [...]; GPLX hạng A1, số: [...]; GPLX hạng A1, số: [...]; GPLX hạng C, số: [...]; GPLX hạng C, số: [...]; GPLX hạng C, số: [...]; GPLX hạng B2, số: [...]; GPLX hạng FC, số [...]; GPLX hạng FC, số: [...]; GPLX hạng FC, số: [...]; GPLX hạng FC; Tất cả không xác định số và tên, nơi cư trú: Xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh, nơi cấp: Sở giao thông vận tải tỉnh T, mặt sau có số: BH910479 và Giấy phép lái xe hạng C, số: [...]. Tổng cộng 14 GPLX gửi giám định là GPLX giả.

Kết luận giám định số 1056/KL-KTHS ngày 14-7-2023 của Phòng K Công an thỉnh T7; Kết luận: Mẫu GPLX số [...], họ tên: Nguyễn Văn L, ngày sinh: 1978; Nơi cư trú Áp A, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh ngày 06 tháng 12 năm 2021 là GPLX giả.

Bản án Hình sự sơ thẩm số: 148/2023/HS-ST ngày 19-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu,tỉnh Tây Ninh; quyết định:

  1. Căn cứ điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 341; điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.
  2. Căn cứ các điểm b, c khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm v, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Thời gian thử thách 05 (năm) năm từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng tịch tu sung Ngân sách Nhà nước.
  3. Căn cứ các điểm b, c khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm tù, cho hưởng án treo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Thời gian thử thách 4 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung số tiền 5.000.000 đồng tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Bản án sơ thẩm còn áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo Trần Tấn L2, Lê Xuân B1, Phạm Văn T1, Phan Văn D1, Bùi Thế Duy T2, Lê Phước T3, Trần Văn L1.

Bản án còn quyết định về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 26-12-2023, bị cáo Nguyễn Văn T có Đơn kháng cáo kêu oan.

Ngày 22-12-2023, bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Văn L; Có Đơn kháng cáo kêu oan.

Tại phiên tòa:

  • + Các bị cáo giữ nguyên yên cầu kháng cáo;
  • + Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • + Luật sư bào chữa cho bị cáo Đ trình bày: Đồng ý với luận tội của Kiểm sát viên về tội danh, Luật sư đề nghị xem xét tình tiết giảm nhẹ hình phạt: Bị cáo thành khẩn khai báo, hợp tác với Cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án; Có nhân thân tốt; Bị cáo được áp dụng điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Đồng phạm giản đơn cung cấp thông tin, đặt mua qua mạng Zalo, không biết ai làm ra; Có nơi cư trú rõ ràng, tự cải tạo không gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, hình phạt 03 năm tù là nặng, bị áco có đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết về án treo của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao; Đề nghị áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự; Cho bị cáo được hưởng án treo.
  • + Luật sư bào chữa cho các bị cáo LT trình bày: Không đồng ý quan điểm của Kiểm sát viên, bởi những căn cứ sau đây: Tội danh làm giả là không có phạm tội; Căn cứ khoản 2 Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Tính chất nguy hiểm không đáng kể thì xử lý biện pháp khác; Căn cứ Công văn số 196 của TAND tối cao giải đáp. Tại các bút lục số 6,7, 9, 10, 193, 195, 18, 361, 363, 500, 502 của bị cáo Đ; Các bút lục số 371, 374, 378, 379, 472, 477 của bị cáo L; Các bút lục số 367, 370 của bị cáo T; Như vậy, các bị cáo LT không trực tiếp làm ra giả nên không phạm tội “Làm giả…….”; Không phải đồng phạm; Căn cứ Công văn số 371 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là tội ghép; Công văn 1648 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trả lời cho tỉnh Bình Phước. Bị cáo L đặt làm dùm cho bị cáo T do quen biết, không bàn bạc, không phân chia lợi nhuận, giúp bạn bè không có hưởng lợi; Bị cáo T đặt cho cá nhân mình sử dụng. Tại phiên toà thấy được: Bị cáo Lâm tai không nghe được, M bị hỏng một bên.
  • + Kiểm sát viên đối đáp: Bị cáo Đ có vai trò chủ mưu, tự đặt 17 GPLX giả, phạm 2 tội; Hình phạt 03 năm tù phù hợp, căn cứ Nghị quyết 02, bị cáo không được hưởng án treo. Các công văn do Luật sư trình bày chưa có văn bản thống nhất cụ thể; Xét xử các bị cáo TL về tội danh và hình phạt của cấp sơ thẩm là đúng người, đúng tội.
  • + Luật sư B2 tranh luận: Văn bản trả lời cho các tỉnh, nhưng chưa trả lời cho tỉnh Tây Ninh; Bởi lẽ: Quá trình điều tra, bị cáo L đã khiếu nại các Cơ quan có thẩm quyền, nhưng các cơ quan ở tỉnh Tây Ninh không có văn bản hỏi đáp, nên Luật sư áp dụng văn bản giải đáp của Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Bị cáo Đ xin giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo TL đề nghị tuyên vô tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi của các bị cáo thực hiện:

[1.1] Tháng 05-2021, bị cáo Đ vào tài khoản mạng xã hội Zalo có tên “Thầy Tiên Đ2”; Thông tin làm GPLX không phải học, không phải thi vẫn có hồ sơ...; Bị cáo Được đặt mua 17 GPLX giả các hạng A1, C và FC; Trong đó, Bị cáo Đ sử dụng 1 GPLX giả hạng C để tham gia giao thông, có vi phạm lỗi giao thông, nên đã bị phát hiện; Còn lại các GPLX giả khác bị cáo Đ bán cho nhiều người; Có bán cho các bị cáo LT; Ngoài ra, Bị cáo tự ý đặt làm giả GPLX cho vợ và con của bị cáo. Hình thức đặt mua GPLX giả là bị cáo Được cung cấp ảnh của CCCD và ảnh 4x6 của người mua gửi qua Zalo của “Thầy Tiên Ba”; Sau 10 ngày, có GPLX giả gửi qua dịch vụ Bưu điện và thanh toán tiền cho dịch vụ Bưu điện.

[1.2] Riêng bị cáo Nguyễn Văn L giới thiệu cho bị cáo Đ bán cho bị cáo T 02 GPLX giả hạng A1 và hạng C, bán cho Phan Thanh N1, Lê Văn Đ1 giấy phép lái xe giả hạng C. Bị cáo T cung cấp ảnh của CCCD và ảnh 4x6 của bị cáo và giao tiền cho bị cáo L; bị cáo Đ cho bị cáo L số tiền 700.000 đồng công giới thiệu; Bị cáo Đ thu lợi bất chính số tiền 22.200.000 đồng.

[2] Hành vi của bị cáo Đ đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Căn cứ khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo L, T phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Căn cứ khoản 2 Điều 341 của Bộ Luật hình sự. Toà án sơ thẩm xét xử các bị cáo đúng tội danh và áp dụng điều luật đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trần Văn Đ:

[3.1] Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Đ không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới. Mặc dù bị cáo có 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Nhưng căn cứ tính chất của vụ án và mức độ của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện; Toà án sơ thẩm phạt bị cáo 03 năm tù phù hợp, khởi điểm của khung hình phạt, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3.2] Xét kháng cáo của các bị cáo L, T thấy rằng: Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã xác định. Tuy nhiên, bị cáo L cho rằng, theo bị cáo suy nghĩ, làm giả con dấu phải có máy móc, bị cáo không tự làm được, không đồng phạm, không ăn chia, số tiền 700.000 đồng bị cáo Đ cho là tiền tình nghĩa được cho, không phải là lợi nhuận. Ngoài ra, các bị cáo còn thừa nhận có nhận thức, biết được, để được Nhà nước cấp GPLX phải đi học, phải đi thi; Như vậy khi nghe bị cáo Đ thông tin đặt làm GPLX trên mạng Zalo không phải đi học, không phải đi thi, vẫn có hồ sơ, với hình thức này, bị cáo Đ đã có GPLX hạng C, các bị cáo phải biết GPLX của bị cáo Đ phải là GPLX giả; Nhưng các bị cáo đã tự cung cấp ảnh CCDC và ảnh 4x6 của cá nhân các bị cáo cho bị cáo Đ để đặt làm là hành vi cố ý, đồng phạm trong việc làm giấy tờ giả; Tòa án sơ thẩm đã xét xử các bị cáo đúng tội danh, không oan. Do đó không chấp nhận kháng cáo.

[4] Luật sư bào chữa cho các bị cáo trình bày những luận cứ bào chữa, đề nghị cho bị cáo Đ hưởng án treo, tuyên các bị cáo LT không phạm tội là không có căn cứ, nên không chấp nhận.

[5] Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo; Giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp, nên chấp nhận.

[6] Án phí: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 - 12 - 2016; Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận, mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí phúc thẩm hình sự.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T.
  3. Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số: 148/2023/HS-ST ngày 19 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
    1. 3.1 Căn cứ vào điểm a khoản 3, khoản 4 Điều 341; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 03 (ba) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Phạt bổ sung bị cáo Trần Văn Đ số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
    2. 3.2 Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2, khoản 4 Điều 341; các điểm v, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Thời gian thử thách 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T; Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thực hiện theo Luật Thi hành án về hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo này. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
    3. 3.3 Căn cứ vào các điểm b, c khoản 2, khoản 4 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Thời gian thử thách 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện T; Giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú, thực hiện theo Luật Thi hành án về hình sự. Trong thời gian thử thách, bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án cho hưởng án treo này. Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  4. Án phí phúc thẩm hình sự: Mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT 1 (TANDTC);
  • - VKSND. huyện T Châu;
  • - TAND. H.Tân Châu;
  • - Công an h Tân Châu;
  • - Chi cục THADS; huyện T. Châu;
  • - Phòng lý lịch STP. TTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - UBND xã Suối Ngô;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án HSPT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thanh Minh Châu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-PT ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 65/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Được và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger