Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 28 - 5 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Công Gia.
  2. Ông Nguyễn Minh Toàn.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 71/TB-TA ngày 15 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Ngô Quốc T – sinh năm 1992, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm rẫy; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Ngô Văn L – sinh năm 1960 và bà Phạm Thị H – sinh năm 1961; vợ: Đỗ Minh Diệp T1 – sinh năm 1993; con: có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).

2/ Vũ Trọng U – sinh năm 1987, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Vũ Văn D – sinh năm 1957 và bà Trần Thị T2 – sinh năm 1960; vợ: Nguyễn Thị Ngọc M – sinh năm 1990; con: có 01 con sinh năm 2013; tiền án: tại Bản án số 73/2023/HS-ST ngày 23/6/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 35.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo ra đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).

3/ Nguyễn Trường T3 (tên gọi khác: T4) – sinh năm 1979, tại Đồng Tháp; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: thợ hồ; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Nguyễn Trường M1 – sinh năm 1944 và bà Nguyễn Thị K – sinh năm 1948; vợ: Nguyễn Thị Kim T5 – sinh năm 1982; có 02 con, lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2009; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 12/01/2024 được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).

4/ Trần Văn D1 – sinh năm 1992, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: làm làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Trần Văn U1 – sinh năm 1960 và bà Phạm Thị L1 – sinh năm 1962; vợ, con: không; tiền án: tại Bản án số 60/2020/HS-ST ngày 09/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Theo biên bản xác minh ngày 18/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú thì Trần Văn D1 chưa chấp hành việc đóng phạt số tiền 19.700.000 đồng. Chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).

5/ Lê Văn N – sinh năm 1984, tại Đồng Nai; nơi cư trú: ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: kinh doanh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: thiên chúa; con ông Lê Thanh N1 – sinh năm 1955 và bà Nguyễn Thị N2 – sinh năm 1955; vợ: Trịnh Thị K1 – sinh năm 1989 (đã chết); con: có 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2013; tiền án: tại Bản án số 141/2021/HS-ST ngày 07/12/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Theo biên bản xác minh ngày 11/01/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú thì Lê Văn N chấp hành việc đóng phạt vào ngày 09/01/2021. Như vậy tính đến ngày 07/01/2024 thì Lê Văn N chưa được xóa án tích; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo bị được tại ngoại và bị áp dụng biệp pháp cấm đi khởi nơi cư trú cho tới nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 07/01/2024, tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Công an huyện T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Trường T3, Đào Tiến V, Trần Văn D1, Lê Văn N, Nguyễn Phú Q, Lương Văn D2, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn H1, Trần Văn N3, Tăng Ngọc P, Đỗ Văn T6 đang có hành vi đánh bạc trái phép với hình thức đá gà.

Quá trình điều tra đã làm rõ, cụ thể như sau:

  1. Cá cược trong trận đá gà thứ nhất:
    • Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 07/01/2024, tại bãi đất trống thuộc ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai; xuất hiện đối tượng Đ (chưa rõ nhân thân lai lịch) giới thiệu với Ngô Quốc T có 01 con gà và nói T tìm người để đá gà (đá xổ) cá cược thắng thua với số tiền 2.000.000 đồng, T đồng ý. Cùng lúc này Vũ Trọng U và Nguyễn Trường T3 cũng đi đến bãi đất trống nên biết được thỏa thuận giữa Đ và T. Uy thấy T3 có 01 con gà đá nên hỏi mượn gà của T3 để đá gà (đá xổ) cá cược thắng thua với số tiền 2.000.000 đồng với Đ, T3 đồng ý. Lúc này, T đứng ra làm biện băng cựa, cân gà của Đ có trọng lượng là 1,26kg còn gà của U (mượn của T3) có trọng lượng là 1,3kg, nên Thân ra tỷ lệ cá cược nếu gà của Đ thắng thì Đ ăn 2.000.000 đồng, nếu gà của U thắng thì U ăn 1.600.000 đồng, cả bọn đồng ý. Sau đó T ra hiệu lệnh để U và Đ cùng thả gà ra đá. Khi 02 con gà đang đá với nhau thì T, U, Đ thỏa thuận nâng tiền cược thêm 3.000.000 đồng, tổng cộng là 5.000.000 đồng với tỷ lệ ăn thua là nếu gà của Đ thắng thì Đ ăn 5.000.000 đồng, nếu gà của U thắng thì U ăn 3.700.000 đồng. Tính chứng kiến việc nâng tiền cược lên tổng cộng 5.000.000 đồng nhưng vẫn đồng ý cho U tiếp tục mượn gà để đá với gà của Đ. Kết thúc trận đá gà, gà của U thắng nên Đ đưa cho T số tiền 3.700.000 đồng để trả cho U. Còn T được hưởng lợi 185.000 đồng từ việc làm biện gà. Riêng T3 được U cho 500.000 đồng từ việc T3 cho U mượn gà đá và thắng cược.
    • Đào Tiến V đem theo 4.000.000 đồng để sử dụng vào việc đánh bạc. Khi trận đá gà diễn ra, V không nhờ T làm trọng tài mà tự chủ động cá cược hàng sáo với 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) số tiền 1.000.000 đồng và thua 800.000 đồng còn lại 3.200.000 đồng. Thân không được hưởng lợi từ việc cá cược hàng sáo này.
  2. Cá cược trong trận đá gà thứ hai:
    • Ngô Quốc T làm trọng tài trận gà tre nặng 1,3kg của Lương Văn D2 đá với gà tre màu điều nặng 1,3kg của Phạm Văn P1. D2 góp 300.000 đồng cùng với Nguyễn Phú Q góp 200.000 đồng cá cược đá xổ thắng thua 500.000 đồng với P1. Kết quả gà của P1 thua nên P1 trả cho D2 500.000 đồng, D2 đưa cho Q 200.000 đồng, còn T không thu tiền làm trọng tài.
  3. Tham gia đánh bạc bằng hình thức đá gà dựa vào các trận đá gà trên mạng, gồm có:
    • Nguyễn Trường T3 đem theo số tiền 500.000 đồng và sử dụng 500.000 đồng để cá cược 02 trận đá gà trên mạng với số tiền 200.000 đồng và 300.000 đồng với 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch). Khi bắt quả tang, T3 đã thua hết tiền đem theo.
    • Đào Tiến V sau khi tham gia cá cược đá gà giữa gà của U và gà của Đ còn 3.200.000 đồng vẫn tiếp tục sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc. V đặt cược đá gà dựa vào các trận đá gà trên mạng với Nguyễn Phú Q và 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) số tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi bắt quả tang, đã thu giữ trong người Việt số tiền 2.800.000 đồng.
    • Trần Văn D1 đem theo 4.600.000 đồng và sử dụng 2.600.000 đồng vào mục đích đánh bạc. D1 đặt cược đá gà dựa vào các trận đá gà trên mạng với Tăng Ngọc P số tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Khi bắt quả tang, đã thu giữ trong người Dương số tiền 4.900.000 đồng.
    • Lê Văn N đem theo 300.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc N đặt cược đá gà dựa vào trận gà trên mạng với Nguyễn Thành C số tiền 200.000 đồng và cá cược một số trận đá gà khác với một số người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch). Khi bắt quả tang, N đã thua hết tiền đem theo.
    • Nguyễn Phú Q sau khi tham gia cá cược đá gà giữa gà của P1 và gà của D2 còn 1.400.000 đồng vẫn tiếp tục sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc. Q đặt cược đá gà dựa vào các trận đá gà trên mạng với Đào Tiến V số tiền 100.000 đồng đến 200.000 đồng. Khi bắt quả tang đã thu giữ trong người Quý số tiền 1.100.000 đồng.
    • Lương Văn D2 sau khi tham gia cá cược đá gà giữa gà của P1 và gà của D2 còn 1.400.000 đồng vẫn tiếp tục sử dụng số tiền này vào mục đích đánh bạc. D2 đặt cược đá gà dựa vào trận đá gà trên mạng với 01 người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) số tiền 200.000 đồng. Khi bắt quả tang đã thu giữ trong người Dũng số tiền 1.200.000 đồng.
    • Nguyễn Thành C đem theo 7.550.000 đồng và sử dụng 3.550.000 đồng vào mục đích đánh bạc. Chương đặt cược đá gà dựa vào trận gà trên mạng với Lê Văn N số tiền 200.000 đồng. Khi bắt quả tang đã thu giữ trong người Chương số tiền 7.750.000 đồng.
    • Nguyễn Văn H1 đem theo 1.700.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. H1 đặt cược đá gà dựa vào 04 trận đá gà trên mạng với Đỗ Văn T6 số tiền 200.000 đồng/trận. Khi bắt quả tang đã thu giữ trong người Hòa số tiền 1.700.000 đồng.
    • Trần Văn N3 đem theo 1.860.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. N3 đặt cược đá gà dựa vào các trận đá gà trên mạng với một số người đàn ông (chưa rõ nhân thân lai lịch) số tiền 200.000 đồng. Khi bị bắt thu giữ trong người Nam số tiền 2.060.000 đồng.
    • Tăng Ngọc P đem theo 800.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. P đặt cược đá gà dựa vào các trận đá gà trên mạng với Trần Văn D1 số tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng. Khi bắt quả tang đã thu giữ trong người Phúc số tiền 500.000 đồng.
    • Đỗ Văn T6 đem theo 800.000 đồng để sử dụng vào mục đích đánh bạc. Tín đặt cược đá gà dựa vào 04 trận đá gà trên mạng với Nguyễn Văn H1 số tiền 200.000 đồng/trận. Khi bắt quả tang huề tiền và không thu giữ tiền trong người của T6.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, các bị cáo Ngô Quốc T, Vũ Trọng U, Nguyễn Trường T3, Trần Văn D1, Lê Văn N, thừa nhận hành vi phạm tội cùng các đối tượng Lương Văn D2, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn H1, Trần Văn N3, Tăng Ngọc P, Đỗ Văn T6, Đào Tiến V, Nguyễn Phú Q đã khai nhận hành vi phạm pháp của bản thân.

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm:

  • 02 cân đồng hồ loại 05kg; 04 con gà; 05 bộ cựa gà; số tiền 532.000 đồng.
  • Thu giữ của người tham gia đánh bạc: Nguyễn Trường T3 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel; Đào Tiến V 2.800.000 đồng, 01 xe mô tô BS 60S1-5713; Trần Văn D1 4.900.000 đồng, 01 xe mô tô BS 60B3-10813, 01 điện thoại di động ViVo; Lê Văn N 01 xe mô tô BS 60B3-0049; Nguyễn Phú Q 1.100.000 đồng, 01 xe mô tô BS 60B3-69938, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; Lương Văn D2 1.200.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Nguyễn Thành C 7.750.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung; Nguyễn Văn H1 1.700.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo; Trần Văn N3 2.060.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 xe mô tô BS 60X3-3010; Tăng Ngọc Phúc 500.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi.

Tại Cáo trạng số 45/CT-VKSTP - ĐN ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Ngô Quốc T, Vũ Trọng U, Nguyễn Trường T3, Trần Văn D1, Lê Văn N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, rút một phần truy tố về trách nhiệm dân sự do nhầm lẫn đánh máy nên không buộc các bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính theo như cáo trạng và giữ nguyên các phần còn lại như Quyết định đã truy tố; sau khi đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật, mức hình phạt và các biện pháp tư pháp, cụ thể như sau:

Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; bị cáo U áp dụng thêm điểm h, khoản 1, Điều 52; bị cáo D1 và N áp dụng thêm điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Trần Văn D1 từ 06 – 08 tháng tù giam.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 06 – 08 tháng tù giam.
  • Xử phạt bị cáo Vũ Trọng U 08 – 10 tháng tù giam.

Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T3 (tên gọi khác: T4) 20.000.000 đồng – 25.000.000 đồng.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Tịch thu tiêu hủy 05 cựa gà.
  • Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 02 cân đồng hồ, số tiền 16.472.000 đồng.
  • 04 con gà là công cụ phạm tội, quá trình bắt giữ đã chết, cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy, nên không xét.
  • Những tài sản, đồ vật, tài liệu khác không liên quan đến tội phạm, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả cho chủ sở hữu, nên không xét.
  • Đối với các đối tượng Đào Tiến V, Nguyễn Phú Q, Lương Văn D2, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn H1, Trần Văn N3, Tăng Ngọc P, Đỗ Văn T6, Phạm Văn P1 chưa bị kết án hoặc xử phạt hành chính về tội Đánh bạc, Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Vì vậy, hành vi của Đào Tiến V, Nguyễn Phú Q, Lương Văn D2, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn H1, Trần Văn N3, Tăng Ngọc P, Đỗ Văn T6, Phạm Văn P1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an huyện T để xử phạt vi phạm hành chính theo thẩm quyền là có căn cứ nên không xét.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội. Các bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với các bị cáo và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của các bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 07/01/2024, tại ấp T, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai: Ngô Quốc T có hành vi tổ chức đánh bạc cho Vũ Trọng U và đối tượng tên Đ hình thức đá gà thắng thua bằng tiền với số tiền 10.000.000 đồng, tổ chức cho Phạm Văn P1 và Nguyễn Phú Q đánh bạc số tiền 1.000.000 đồng. Tổng số tiền Ngô Quốc T tổ chức đánh bạc là 11.000.000 đồng. Vũ Trọng U thực hiện hành vi đánh bạc trái phép hình thức đá gà với số tiền 8.700.000 đồng. Nguyễn Trường T3 giúp sức cho Vũ Trọng U thực hiện hành vi đánh bạc trái phép hình thức đá gà với số tiền 8.700.000 đồng. Ngoài ra, Nguyễn Trường T3 còn trực tiếp đánh bạc với số tiền 500.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Trường T3 giúp sức cho việc đánh bạc và trực tiếp đánh bạc là 9.200.000 đồng. Trần Văn D1 và Lê Văn N là người bị kết án về tội Đánh bạc chưa được xóa án tích (trong đó: Trần Văn D1 đánh bạc trái phép hình thức đá gà với số tiền 1.500.000 đồng và Lê Văn N đánh bạc trái phép hình thức đá gà với số tiền 300.000 đồng). trong vụ án này bị cáo T là người tổ chức, nhưng do chưa đủ yếu tố cấu thành tội tổ chức đánh bạc nên phạm tội đánh bạc.

Như vậy, hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 45/CT-VKSTP - ĐN ngày 29 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Ngô Quốc T, Vũ Trọng U, Nguyễn Trường T3, Trần Văn D1, Lê Văn N về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương nói riêng, trong thời gian qua tệ nạn đánh bạc, tổ chức đánh bạc gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội nói chung. Đồng thời, các bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được tác hại của tệ nạn cờ bạc gây ra và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội về tổ chức đánh bạc. Song vì tham lam, vụ lợi nên các bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết phải đưa các bị cáo ra xét xử và áp dụng hình phạt tương xứng đối với các bị cáo để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

[3] Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo T, T3 không có tình tiết tăng nặng; riêng bị cáo Vũ Trọng U có tình tiết tăng nặng là tái phạm theo điểm h, khoản 1 Điều 52; các bị cáo D1 và N có tình tiết phạm tội nhiều lần tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[4] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo T và T3 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng các bị cáo U, D1 và N không được hưởng tình tiết quy định tại điểm i. Ngoài ra, các bị cáo đều có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, đều là lao động chính và nuôi các con còn nhỏ, các bị cáo T và U ra đầu thú; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Đây là vụ án đồng phạm mang tính giản đơn, tuy nhiên, do bị cáo Vũ Trọng U có tiền án chưa được xóa án tích, nên mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo U phải cao hơn các đồng phạm còn lại; các bị cáo D1 và N mặc dù số tiền đánh bạc mỗi trận không đủ định lượng, nhưng có tiền án nên cấu thành định tội, do đó mức hình phạt áp dụng đối với 02 bị cáo này phải là hình phạt tù ngang nhau và thấp hơn bị cáo U nhưng cao hơn các bị cáo còn lại; các bị cáo T và T3 có nhân thân tốt nên mức hình phạt tiền là đủ để răn đe và giáo dục, nhưng mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T phải cao hơn bị cáo T3.

Qua những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử cũng xem xét và cân nhắc giảm nhẹ phần nào hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.

[6] Về xử lý vật chứng và các vấn đề khác:

  • 05 cựa gà, là công cụ phạm tội xét không có giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy.
  • 02 cân đồng hồ, là công cụ và phương tiện phạm tội, nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
  • 04 con gà là công cụ phạm tội, quá trình bắt giữ đã chết, cơ quan điều tra đã tiến hành tiêu hủy, nên không xét.
  • Số tiền 16.472.000 đồng là tiền dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
  • Đối với số tiền 2.000.000 đồng của bị cáo D1 và 4.000.000 đồng của Nguyễn Thành C không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả cho cho chủ sở hữu là có căn cứ nên không xét.
  • Đới với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel của Nguyễn Trường T3; 01 xe mô tô BS 60S1-5713 của Đào Tiến V; 2.000.000 đồng, 01 xe mô tô BS 60B3-10813, 01 điện thoại di động ViVo của Trần Văn D1; 01 xe mô tô BS 60B3-0049 của Lê Văn N; 01 xe mô tô BS 60B3-69938, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Nguyễn Phú Q; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Lương Văn D2; 4.000.000 đồng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung của Nguyễn Thành C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo của Nguyễn Văn H1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, 01 xe mô tô BS 60X3-3010 của Trần Văn N3; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi của Tăng Ngọc P. Toàn bộ số tang vật này các đối tượng không sử dụng vào mục đích đánh bạc cơ quan CSĐT đã trả lại cho chủ sở hữu là có căn cứ nên không xét.
  • Đối Đào Tiến Việt, Nguyễn Phú Q, Lương Văn D2, Nguyễn Thành C, Nguyễn Văn H1, Trần Văn N3, Tăng Ngọc P, Đỗ Văn T6, Phạm Văn P1. Cơ quan CSĐT làm rõ số tiền đánh bạc mỗi lần của các đối tượng nêu trên dưới 5.000.000 đồng và các đối tượng này chưa có tiền án, tiền sự về các tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc, gá bạc nên hành vi chưa đủ cấu thành tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự, vì vậy Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính các đối tượng trên về hành vi Đánh bạc theo quy định là có căn cứ nên không xét.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[8] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án.

[9] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. òaHHJJJJJjjjdnencsnjcjjjjjjneqjd'unhfcowiujJjznqdsnhhudhh

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Ngô Quốc T, Vũ Trọng U, Nguyễn Trường T3 (tên gọi khác: T4), Trần Văn D1, Lê Văn N phạm tội “Đánh bạc”;

Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Vũ Trọng U 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án (được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 07/01/2024 đến ngày 12/01/2024).

Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Trần Văn D1 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.

Căn cứ khoản 1, Điều 321; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

  • Xử phạt bị cáo Ngô Quốc T 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường T3 (tên gọi khác: T4) 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng).

Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

  • Tịch thu tiêu hủy: 05 (năm) cái cựa gà.
  • Tịch thu nộp, ngân sách nhà nước 02 (một) cái cân đồng hồ.
  • Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước số tiền 16.472.000 đồng; (Toàn bộ vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Phú để đảm bảo cho việc thi hành án theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/4/2024 và L2 thanh toán tiền của A ngày 08/4/2024).

Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  • Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  • Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • TAND tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND huyện Tân Phú;
  • Công an huyện Tân Phú;
  • Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 42/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi lịch xét xử số 71/TB-TA ngày 15 tháng 5 năm 2024
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger