|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HS-ST
Ngày
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa
- Bà Trần Hoàng Ngọc Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang– Thư ký tòa án nhân dân quận Tân Bình - Tp. Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Cao Xuân Cường- Kiểm sát viên
Ngày 23 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
TRẦN TRỌNG NHÂN, sinh ngày 13/02/1995 tại: TP .; nơi đăng ký thường trú: 1 L, Phường I, quận T, Tp .; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Trọng H và bà Lưu Thị Kim T (Đã chết); vợ con: Không; tiền án: Không, tiền sự: Không.
Nhân thân: Từ nhỏ sống cùng gia đình tại Thành phố Hồ Chí Minh, đi học đến lớp 9 thì nghỉ học phụ giúp gia đình. Năm 18 tuổi đi nghĩa vụ quân sự đến 20 tuổi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, về địa phương lao động tự do.
Tạm giữ, tạm giam: 04/12/2013 (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 10 giờ 15 phút ngày 04/12/2023 tại địa chỉ số A L, Phường I, quận T, Công an Phường 9 quận T phối hợp Tổ dân phố B kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang Trần Trọng N cất giấu trái phép chất ma túy để sử dụng; thu giữ 01 chiếc ví màu nâu bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể không màu (mẫu m). Tại bản Kết luận giám định số 13555/KL-KTHS ngày 11/12/2023 của Phòng K, Công an Thành phố H kết luận: Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,6162 gam, loại Methamphetamine (bút lục 44).
Tại Cơ quan điều tra, Trần Trọng N khai nhận: Khoảng 07 giờ ngày 04/12/2023, N đến khu vực phía sau công viên L (thuộc Quận A) hỏi mua ma túy đá với giá 500.000 đồng của một người đàn ông (chưa rõ lai lịch), rồi cất giấu gói nylon chứa ma túy đá vào chiếc ví màu nâu. Sau đó, N về nhà tại địa chỉ số A L, Phường I, quận T và sử dụng ma túy vừa mua được đến khoảng 10 giờ 15 phút ngày 04/12/2023 thì bị Cơ quan Công an kiểm tra hành chính, bắt quả tang (bút lục 56-59).
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 gói niêm phong, bên ngoài ghi số 2645/23 và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T1; bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định (bút lục 08).
- - 01 bình nhựa có gắn một ống hút nhựa và một nỏ thủy tinh.
- - 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi 11T và 01 chiếc ví màu nâu.
Quá trình điều tra, Trần Trọng N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Tại bản cáo trạng số 64/CT-VKS-TB ngày 12 tháng 3 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Trần Trọng N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần luận tội đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình nêu tóm tắt nội dung vụ án, các nguyên nhân điều kiện phát sinh tội phạm, tính chất mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Trọng Nhân từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (H1) năm tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về vật chứng thì đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
- Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không có tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Trần Trọng N, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.
[2] Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra, bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Trọng N đã có hành vi cất giấu 0,6162 gam ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của bị cáo là nghiêm trọng và gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ là hành vi xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tạo điều kiện làm gia tăng tệ nạn nghiện hút ma túy trong thanh thiếu niên và còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc cất giấu chất ma tuý để sử dụng là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị rất nghiêm khắc, nhưng chỉ vì thỏa mãn cơn nghiện mà bị cáo đã xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, tạo điều kiện cho bị cáo cai nghiện một cách triệt để, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị phạt tiền theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xem xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, khó có khả năng thi hành nên miễn cho bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng: Không có
[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Hội đồng xét xử xem xét tình tiết bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và hoàn thành nghĩa vụ quân sự của công dân để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về vật chứng vụ án:
- - 01 (Một) điện thoại Xiaomi 11T thu giữ của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên giao trả cho bị cáo, còn các vật chứng chứng khác là mẫu vật ma túy còn lại sau giám định, 01 (Một) bình nhựa có gắn 01 (Một) ống hút nhựa và 01 (Một) nỏ thủy tinh là vật cấm tàng trữ, lưu hành và 01 chiếc ví màu nâu không có giá trị hoặc không sử dụng được nên tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 106; Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ Luật phí, lệ phí năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
[1] Tuyên bố bị cáo Trần Trọng N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Trần Trọng N 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2023.
Miễn phạt tiền đối với bị cáo Trần Trọng N.
[2] Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) gói niêm phong, bên ngoài ghi số 2645/23 và chữ ký Giám định viên Phạm Huỳnh Minh T1; bên trong là mẫu vật còn lại sau giám định gồm tinh thể không màu có khối lượng 0,4539 gam; 01 (Một) chiếc ví màu nâu (đã qua sử dụng, không rõ nhãn hiệu); 01 (Một) bình nhựa có gắn 01 (Một) ống hút nhựa và 01 (Một) nỏ thủy tinh.
- - Trả lại cho bị cáo Trần Trọng N: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Xiaomi 11T số sê ri 34991/K1XR01303, số IMEI: 8657260531076649/78-865726053107656/78 (Kèm pin và simcard, tình trạng như lúc tạm giữ, không kiểm tra bên trong).
- (Tổng cộng: 04 (Bốn) khoản, theo biên bản giao vật chứng, tài sản số 78/BB/2024 ngày 22/4/2024 của Công an quận T và Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình)
[3] Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Quyền kháng nghị: Viện kiểm sát nhân được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Phước Lý |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Trọng Nhân tàng trữ trái phép chất ma túy
