Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH CAO BẰNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 22-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nông Công Hưng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trương Thị Hiền;

Bà Hoàng Thị Lâm.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Hoàng Trung Đức, Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên toà: Ông Lục Đức Chi, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 46/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 313/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Mạ Văn L; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có;

Sinh ngày: 02/7/2002 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Mạ Văn T, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Sùng Thị D, sinh năm 1966; Vợ: Lý Thị D1, sinh năm: 2005; Con: Bị cáo có 02 con, con cả sinh năm 2022, con út sinh năm 2023.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, có mặt.

2. Họ và tên: Mạ Văn T1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có;

Sinh ngày: 20/10/1989 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm B, xã Q, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Mông; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 03/12; Họ và tên cha: Mạ Văn T, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Sùng Thị D, sinh năm 1966; Vợ: Lý Thị S, sinh năm: 1997; Con: Bị cáo có 03 con, con cả sinh năm 2014, con út sinh năm 2022.

Tiền sự: Không;

Tiền án: 01 tiền án (Bản án số 01/2022/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng về tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; Được rút ngắn thời gian thử thách của án treo là 12 tháng theo Quyết định số 12/2022/THAHS-QĐ, ngày 29/8/2022 của Toà án nhân dân huyện Hà Quảng, Cao Bằng).

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, có mặt.

3. Họ và tên: Vương Văn Q; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có;

Sinh ngày: 10/3/1998 tại huyện H, tỉnh Cao Bằng; Nơi cư trú: xóm L, xã N, huyện H, tỉnh Cao Bằng; Dân tộc: Nùng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 06/12; Họ và tên cha: Vương Văn T2, sinh năm 1968; Họ và tên mẹ: Mông Thị L1, sinh năm 1968; Vợ: Mạ Thị L2, sinh năm: 2001; Con: Bị cáo có 02 con, con cả sinh năm 2019, con út sinh năm 2022.

Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Mạ Văn L và Mạ Văn T1: Bà Lý Thị N - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Vương Văn Q: Bà Hà Thị B - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C, có mặt

- Bị hại:

  • + Bi D, sinh năm 1992. Trú tại: Số A, N, B, N, Q, Trung Quốc, vắng mặt.
  • + Huang Zheng Q1, sinh năm 1976. Trú tại: Số B, N, B, N, Q, Trung Quốc, vắng mặt.
  • + Pan Yajin, sinh năm 1987. Trú tại: Số E, C, B, N, Q, Trung Quốc, vắng mặt.
  • + Wei Fugao, sinh năm 1981. Trú tại: Số B, C, B, N, Q, Trung Quốc, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Lục Văn H, sinh năm 1983; Trú tại: L, Tổ N, H, Cao Bằng, có mặt.
  • + Lục Văn B1, sinh năm 1984; Trú tại: L, Tổ N, H, Cao Bằng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15h 30 ngày 28/12/2023, Đồn Biên phòng C, huyện H, tỉnh Cao Bằng nhận được thông báo của Đại đội Biên phòng địa khu T - Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa qua đường dây nóng (Do Đồn Biên phòng T4, huyện T, tỉnh Cao Bằng tiếp nhận) về việc có một số hộ dân của Trung Quốc ở đối diện mốc 630 thuộc xóm K, Sấn N, trấn B, huyện N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc bị mất trộm tài sản gồm: 03 con bò và 03 con la (con lồ) nghi vấn bị các đối tượng là người Việt Nam lấy trộm. Sau khi tiếp nhận nguồn tin, Đồn Biên phòng C đã phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu S1, Hà Q2 và Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng tiến hành xác minh và truy tìm trên địa bàn huyện H, Cao Bằng. Đến 17 giờ 00 ngày 29/12/2023, khi đội công tác đang truy tìm trên đoạn đường liên xã Q - S, huyện H, tỉnh Cao Bằng (thuộc địa phận xóm B, Q, H, Cao Bằng) thì phát hiện 03 đối tượng gồm: Lục Văn B1; Mạ Văn T1; Mạ Văn L đang đi bộ và mỗi người dắt theo 01 con la có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Qua kiểm tra, các đối tương khai nhận 03 con la này là do M văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q lấy trộm trên địa phận Trung Quốc vào khoảng 01 giờ ngày 28/12/2023. Căn cứ lời khai của các đối tượng, tổ công tác đã tiến hành lập biên bản vụ việc, sau đó tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q, đồng thời tạm giữ đồ vật và tài sản liên quan đến vụ án gồm 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng chẵn tiền Việt Nam đồng); 03 con la và 03 con bò cùng một số tài sản khác để phục vụ điều tra.

Quá trình điều tra, các bị can đều khai nhận như sau: Mạ Văn L và Mạ Văn T1 là hai anh em ruột, còn Vương Văn Q là em rể của T1 và L. Từ ngày 24/12/2023 đến ngày 28/12/2023 các đối tượng trên đã cùng nhau bàn bạc rồi cùng nhau vượt biên giới đi sang lãnh thổ Trung Quốc thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản, như sau:

Vụ thứ nhất: Ngày 24/12/2023, Mạ Văn L rủ Mạ Văn T1 và Vương Văn Q cùng nhau đi sang đất Trung Quốc để bẫy thú rừng và trộm cắp tài sản thì được T1 và Q đồng ý. Sau đó L điều khiển xe mô tô không biển kiểm soát chở Mạ Văn T1, còn Vương Văn Q một mình đi xe mô tô biển kiểm soát 11K1:143.38 rồi cùng nhau đi từ nhà của L tại Bản L, xã Q, H lên xóm B, xã C, huyện H rồi để xe máy ở cạnh đường sau đó ba người đi bộ theo lối mòn vượt biên giới qua khu vực cột mốc số 636 rồi đi sâu vào lãnh thổ Trung Quốc. Đến chiều cùng ngày khi cả ba người đi đến một cánh rừng (thuộc xóm K, Sấn N, Trấn B, huyện N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) thì thấy có một chuồng bò, bên trong có nhiều con bò nhưng cổng chuồng không khoá và không có người trông giữ nên L nẩy sinh ý định lấy trộm, sau đó L bảo T1 và Q cùng thực hiện thì được T1 và Q đồng ý. Để tránh sự phát hiện của chủ sở hữu nên cả ba người cùng nhau quay vào trong rừng chờ trời tối sẽ lấy trộm bò. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày cả ba quay lại chỗ chuồng bò, L là người đẩy cổng chuồng bò ra sau đó cả ba người đi vào chuồng bò dắt lấy mỗi người một con bò đực rồi đi theo lối mòn đường rừng qua khu vực mốc 636 đi về Việt Nam rồi đem ba con bò trên về nhà của Mạ Văn L và nói với ông Mạ Văn T là bố đẻ của T1 và L là bò mua về nuôi vỗ béo rồi bán và nhờ ông T chăm sóc giúp, ông T đồng ý và không hỏi gì thêm.

Vụ thứ hai: Sáng ngày 27/12/2023, Mạ Văn L gọi điện thoại cho Vương Văn Q để rủ Q đi sang đất Trung Quốc đào con dúi và tiếp tục trộm cắp tài sản thì được Q đồng ý rồi hẹn gặp nhau tại chợ S2, xã S, H. Sau đó Vương Văn Q một mình đi xe mô tô biển kiểm soát 11K1:143.38 đi từ nhà ở L, xã N, huyện H đến chợ S2. Còn Mạ Văn L đi xe mô tô không biển kiểm soát đèo Mạ Văn T1 đi từ nhà tại Bản L, xã Q, huyện H đến điểm hẹn gặp Q rồi ba người cùng di chuyển từ S đến xóm B, xã C, H rồi để xe mô tô ở cạnh đường sau đó cùng nhau đi bộ theo lối mòn đường rừng qua khu vực gần mốc 636 (thuộc xóm B, C, H, Cao Bằng) vượt biên giới đi sang Trung Quốc. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, khi cả ba người đi đến một cánh rừng (thuộc xóm K, Sấn N, Trấn B, huyện N, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc) thì thấy nhiều người Trung Quốc đang khai thác gỗ và sử dụng 03 con la để thồ gỗ ở trong rừng. Thấy vậy L đã bàn bạc cùng T1 và Q chờ trời tối sẽ lấy trộm ba con la thì được T1 và Q đồng ý rồi cả ba người nấp ở trong rừng chờ trời tối sẽ thực hiện. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, những người khai thác gỗ buộc ba con la ở góc cây rồi đi về. Đến khoảng 01 giờ sáng ngày 28/12/2023, L, T1 và Q đi đến vị trí ba con la rồi cởi dây buộc sau đó dắt mỗi người một con đi theo lối mòn đường rừng qua gần mốc 636 về Việt Nam rồi cùng nhau dắt la đi về nhà của T1 và L. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Vương Văn Q gọi điện cho Lục Văn H (sinh năm 1983; trú tại: L, Tổ N, H, Cao Bằng, là người chuyên buôn bán trâu bò và ngựa trên địa bàn huyện H, Cao Bằng mà Q quen biết từ trước) nói là ba anh em của Q có 03 con la trước đây mua về thồ hàng cho công trình nhưng nay không còn công trình nữa nên muốn bán lại thì được H đồng ý đến xem, sau đó Q hẹn Hào trưa ngày 29/12/2023 đến Bản Láp, xã Q, huyện H để xem. Khoảng 13 giờ cùng ngày, Lục Văn H rủ em trai mình là Lục Văn B1 đi cùng để xem la và được Q dẫn đến nhà của Mạ Văn L. Sau khi trực tiếp xem ba con la tại nhà của L, H nhất trí mua ba con la với giá lần lượt từng con là 18.000.000 đồng, 19.000.000 đồng và một con 20.000.000 đồng, rồi hai bên thống nhất H sẽ đặt cọc trước cho T1 10.000.000 đồng và cho L 3.000.000 đồng, số tiền còn lại khi nào đưa ba con la về đến nhà H thì sẽ trả. Sau đó mọi người cùng nhau dắt ba con la từ nhà L xuống đường để đi đến nhà H thì bị tổ công tác của Công an huyện H, Cao Bằng phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng và tài sản có liên quan.

Ngày 30/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành lập biên bản mô tả đặc điểm và cân xác định khối lượng 03 con bò và 03 con la là vật chứng vụ án. Kết quả đã xác định được, như sau: Con bò thứ nhất (đánh dấu số 1) là bò đực, nặng 317kg; Con bò thứ hai (số B) là bò đực, nặng 269kg; Con bò thứ ba (số C) là bò đực, nặng 271kg. Con la thứ nhất (số A) là con la đực, nặng 346kg; con la thứ hai (số B) là la đực, nặng 278kg; con la thứ ba (số C) là la đực, nặng 311kg.

Ngày 04/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đã ban hành yêu cầu định giá tài sản số 56/YC-VPCQCSĐT. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐ ĐGTS, ngày 22/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân tỉnh C, kết luận: Con la số 1 có giá trị 31.140.000 đồng, con la số 2 có giá trị 25.020.000 đồng, con la số 3 có giá trị 27.990.000 đồng; Con bò số 1 có giá trị 19.178.500 đồng, con bò số 2 có giá trị 16.274.500 đồng; con bò số 3 có giá trị 16.395.500 đồng. Tổng cộng (03 con la và 03 con bò) có giá trị vào thời điểm bị xâm hại là 135.998.500 đồng (Một trăm ba mươi lăm triệu chín trăm chín mươi tám nghìn năm trăm đồng).

Ngày 19/01/2024, tại khu vực biên giới mốc 626 biên giới Việt Nam – Trung Quốc (thuộc địa bàn xóm B, C, H, Cao Bằng, Việt Nam), Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C phối hợp cùng các cơ quan chức năng Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành trao trả lại toàn bộ số tài sản gồm 03 con bò và 03 con la cho các chủ sở hữu là người Trung Quốc. Sau khi nhận lại tài sản, những người này không có yêu cầu về trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tạm giữ một số đồ vật và tài sản liên quan đến hành vi phạm tội. Số vật chứng trên hiện nay đã được chuyển đến Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng.

Ngày 08 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã ban hành Cáo trạng số 17/CT-VKSCB.P2 truy tố các bị cáo Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội đánh giá các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng khẳng định quyết định truy tố các bị cáo là có căn cứ và đề nghị:

  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Mạ Văn L, từ 03 đến 04 năm tù;
  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 65; Điều 56 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mạ Văn T1, từ 03 năm đến 04 năm tù; tổng hợp hình phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 01/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng theo quy định của Bộ luật hình sự.
  • + Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo Vương Văn Q từ 30 đến 36 tháng tù;
  • - Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu bồi thường nên không xem xét.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • + Trả lại số tiền 13.000.000 đồng cho ông Lục Văn H;
    • + Trả lại 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 11K1-143.38, cho bị cáo Vương Văn Q;
    • + Trả lại 01 xe mô tô không lắp biển kiểm soát, nhãn hiệu: ESPERO cho bị cáo Mạ Văn L;
    • + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 02 điện thoại tạm giữ của các bị cáo.
  • - Về án phí: Các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Người bào chữa cho các bị cáo Ma Văn L3, Ma Văn T3 trình bày luận cứ: Nhất trí với cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo tội danh và điều luật đã viện dẫn; Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến tính chất mức độ phạm tội và hoàn cảnh của các bị cáo. Bị cáo L3 là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo T3 mặc dù có 01 tiền án nhưng là phạm tội với lỗi vô ý; Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đồng thời các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do vậy đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Về việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác, người bào chữa nhất trí như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho các bị cáo Vương Văn Q trình bày luận cứ: Nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo; Tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh gia đình bị cáo, vợ bị cáo thường xuyên ốm đau, hiện đang nuôi 02 con còn nhỏ; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu do bị rủ rê; bị cáo là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; do vậy đề nghị cho bị cáo được hưởng mức án thấp hơn mức thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Đồng thời nhất trí với đề nghị về việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nhất trí với luận cứ của người bào chữa, không có ý kiến bổ sung, không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát;

Trong lời nói sau cùng, các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, các bị cáo và người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Về hành vi phạm tội: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và nhất trí nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai của các bị cáo, người liên quan đều phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ khẳng định:

Do không có nghề nghiệp ổn định Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất hai lần vượt biên giới trái phép sang Trung Quốc săn bắt thú rừng và trộm cắp tài sản mang về Việt Nam bán lấy tiền phục vụ nhu cầu sinh hoạt gia đình. Lần thứ nhất, khoảng 07 giờ ngày 24/12/2023, L, T1 và Q đã cùng nhau đi theo đường mòn biên giới giữa Việt Nam - Trung Quốc sang lãnh thổ Trung Quốc lấy trộm 03 con bò đực đem về nhà của mình tại Bản L, xã Q, H với mục đích nuôi để phục vụ sản xuất. Lần thứ hai, ngày 27/12/2023, L, T1 và Q lại cùng nhau đi theo lối mòn vượt biên giới sang lãnh thổ Trung Quốc lấy trộm 03 con la sau đó đem về Việt Nam bán cho ông Lục Văn H (sinh năm 1983; trú tại L, Tổ N, H, Cao Bằng) với tổng số tiền 57.000.000 đồng (đã trả trước 13.000.000 đồng). Khi cả ba đang trên đường dắt la đi tiêu thụ thì bị Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; các bị cáo là những người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, do vậy đã có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q phạm tội "Trộm cắp tài sản". Với tổng giá trị tài sản mà các bị can chiếm đoạt là 135.998.500 đồng thì các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

  1. [3] Về tính chất, mức độ phạm tội: Trong vụ án này các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, giá trị tài sản chiếm đoạt tương đối lớn; các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn;
  2. [4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    • - Về nhân thân: Các bị cáo Mạ Văn L, Vương Văn Q có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự; bị cáo Mạ Văn T1 có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo với thời gian thử thách là 60 tháng. Đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Mạ Văn T1 chưa hết thời gian thử thách, do vậy bị cáo Mạ Văn T1 phải chấp hành hình phạt 30 tháng tù của bản án số 01/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng và tổng hợp hình phạt trong vụ án này.
    • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; bị cáo Mạ Văn T1 đã bị kết án chưa được xóa án tích, nay lại phạm tội do cố ý, do vậy bị cáo phạm tội thuộc trường hợp "Tái phạm" và phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Các bị cáo Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

  3. [5] Về vai trò và hình phạt đối với các bị cáo:

Xét vai trò từng bị cáo thấy rằng, đối với bị cáo L là người khởi xướng và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản; đối với bị cáo T1 với vai trò là đồng phạm và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, bị cáo T1 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, do vậy cần áp dụng mức hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội cũng như vai trò và nhân thân của bị cáo Mạ Văn L và Mạ Văn T1; đối với bị cáo Vương Văn Q, với vai trò là đồng phạm thứ yếu và trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, do vậy áp dụng hình phạt trên mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng thấp hơn mức hình phạt của bị cáo L và bị cáo T1 là phù hợp với tình chất mức độ phạm tội của bị cáo.

  1. [6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo đều không có nghề nghiệp và thu nhật ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  2. [7] Về trách nhiệm dân sự: Toàn bộ tài sản bị chiếm đoạt trong vụ án đã được hoàn trả đầy đủ cho các bị hại trong giai đoạn điều tra; đồng thời các bị hại cũng không có yêu cầu gì về phần bồi thường thiệt hại, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét nội dung này.
  3. [8] Xử lý vật chứng:
    • - Đối với số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) tạm giữ của bị cáo Mạ Văn L và Mạ Văn T1, đây là số tiền của ông Lục Văn H đặt cọc để mua 03 con la với bị cáo L và bị cáo T1, xét thấy ông H không biết 03 con la này do phạm tội mà có, do vậy cần hoàn trả lại số tiền này cho ông H.
    • - Đối với 02 xe Mô tô đã tạm giữ của bị cáo L và bị cáo Q, xét thấy đề nghị của đại diện viện kiểm sát về việc trả lại cho các bị cáo là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
    • - Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của các bị cáo, xét thấy 02 chiếc điện thoại này là công cụ, phương tiện các bị cáo dùng vào việc phạm tội, do vậy cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
  4. [8] Về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, có đơn miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
  5. [9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng về tội danh, mức hình phạt, về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng và án phí là có căn cứ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
  6. [10] Về ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo về việc đề nghị cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp hơn đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không có căn cứ, do vậy Hội đồng xét xử không chấp nhận.
  7. [11] Các nhận định khác:

    Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã xuất cảnh trái phép sang Trung Quốc, trước đó các bị cáo chưa lần nào bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, vì vậy Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với ông Mạ Văn T (là bố đẻ của T1 và L) và ông Lục Văn H do không biết 03 con bò và 03 con la do các bị cáo trộm cắp mà có nên cơ quan điều tra không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

  1. 1. Về tội danh: Các bị cáo Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. 2. Về hình phạt:
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mạ Văn L 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 30/12/2023.
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn Q 30 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 30/12/2023.
    • - Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 5 Điều 65; Điều 56 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Mạ Văn T1 36 tháng tù; Tổng hợp hình phạt 30 tháng tù theo bản án số 01/2020/HS-ST ngày 17/01/2020 của Tòa án nhân dân huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng, buộc bị cáo Mạ Văn T1 phải chấp hành hình phạt của hai bản án là 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày bị bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 30/12/2023.
  3. 3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Trả lại cho ông Lục Văn H (Trú tại: L, Tổ N, H, Cao Bằng) số tiền 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng).
    • Toàn bộ tiền trên đã được chuyển vào tài khoản tạm gửi của Cục THADS tỉnh C mở tại K Chi nhánh tỉnh C theo Giấy nộp tiền ngày 15/4/2024.
    • - Trả lại cho bị cáo Vương Văn Q 01 xe mô tô Biển kiểm soát: 11K1-143.38, loại xe: Hai bánh từ 50- 175cm3, nhãn hiệu: YAMAHA, số loại: SIRIUS, màu sơn: Đen, dung tích xi lanh: 110 cm³; số máy: E32VE194497, số khung: RLCUE3740LY056243, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2020, xe đã qua sử dụng, không có gương chiếu hậu bên phải, vỏ xe có nhiều vết trầy xước đã cũ (có 01 chìa khóa xe kèm theo).
    • Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 29/01/2024 của Phòng CSGT Công an tỉnh C.
    • - Trả lại cho bị cáo Mạ Văn L 01 xe mô tô không lắp biển kiểm soát, loại xe: Hai bánh từ 50- 175cm3, nhãn hiệu: ESPERO, số loại: 50C2, màu sơn: Nâu, dung tích xi lanh: 49 cm³; số máy: VDEJQ139FMB2306604, số khung: RPEKCB3PEHA306604, số chỗ ngồi: 2, năm sản xuất: 2017, xe đã qua sử dụng, yên xe bị rách, thủng lỗ phần đệm tại vị trí ngồi sau, xe không còn yếm đằng trước, không có đèn pha và cụm nhựa ở đầu xe (có 02 hình ảnh mô tả hiện trạng xe), không có chìa khóa xe.
    • Qua kiểm tra số khung, số máy thực tế của xe trùng khớp với Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ ngày 29/01/2024 của Phòng CSGT Công an tỉnh C.
    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
      • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu xanh dương trắng, máy đã qua sử dụng, màn hình có nhiều vết nứt vỡ, vỏ máy có nhiều vết xước đã cũ, điện thoại bật sáng màn hình do cài đặt mật khẩu nên không kiểm tra được chi tiết bên trong.
      • + 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu đen, máy đã qua sử dụng, vỏ máy và màn hình có nhiều vết xước đã cũ, điện thoại bật sáng màn hình do cài đặt mật khẩu nên không kiểm tra được chi tiết bên trong, kèm theo 01 sim số 0378.389884 và 01 sim không rõ số.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 đèn pin, loại đội đầu, màu xanh - nâu - đen - xám, trên đèn có chữ “Yến Quân”
    • (Xác nhận toàn bộ vật chứng trên đã được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh C bàn giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chúng tài sản số: 86 ngày 15 tháng 4 năm 2024).
  4. 4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Các bị cáo Mạ Văn L, Mạ Văn T1 và Vương Văn Q được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
  5. 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự, các bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; các bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Cao Bằng;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh CB;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh CB;
  • - Phòng hồ sơ công an tỉnh;
  • - Sở Tư pháp CB;
  • - Cục THA dân sự tỉnh;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Người TGTT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nông Công Hưng

11

12

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 22/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mạ Văn L và đồng phạm phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger