Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HƯNG NGUYÊN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày: 25/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tường và ông Hoàng Nghĩa Toàn.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đặng Thị S, tên gọi khác: không; sinh ngày: 08 tháng 4 năm 1983, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Xuân Đ; con bà: Nguyễn Thị H; chồng: Nguyễn Văn T; con: Có 02 con (Con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/7/2024 cho đến nay. Có mặt.

  2. Phan Văn B, tên gọi khác: không; sinh ngày: 20 tháng 7 năm 1966, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 03/10; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn Q (Đã mất); con bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1930; vợ: Nguyễn Thị X; con: Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1997); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến 28/7/2024 được tại ngoại cho đến nay. Có mặt.

  3. Nguyễn Thị H1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02 tháng 3 năm 1979, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 5/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn K; con bà: Trần Thị H2; chồng: Nguyễn Hữu Đ1; con: Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 28/7/2024 được tại ngoại cho đến nay. Có mặt.

  4. Phan Thị K1, tên gọi khác: không; sinh ngày: 02 tháng 01 năm 1997, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn B; con bà: Nguyễn Thị X; chồng: Nguyễn Văn C; con: Có 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 28/7/2024 được tại ngoại cho đến nay. Có mặt.

  5. Trương Thị H3, tên gọi khác: không; sinh ngày: 10 tháng 8 năm 1973, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 4/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Văn H4 (Đã chết); con bà: Phan Thị L1, sinh năm 1942; chồng: Nguyễn Hữu T1; con: Có 01 con sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, hiện tại ngoại. Có mặt.

  6. Nguyễn Thị H5, tên gọi khác: không; sinh ngày: 10 tháng 01 năm 1961, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 4/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Hữu T2 (Đã chết); con bà: Nguyễn Thị T3 (Đã chết); chồng: Phan Văn N; con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1982, con nhỏ nhất sinh năm 1988; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 28/7/2024 được tại ngoại cho đến nay, hiện tại ngoại. Có mặt.

  7. Phạm Thị Ánh T4, tên gọi khác: không; sinh ngày: 08 tháng 6 năm 1969, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 4/12; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm Đình H6 (Đã mất); con bà: Phạm Thị T5, sinh năm: 1934; chồng: Nguyễn Đình H7 (Đã mất); con: Có 03 con (con lớn nhất sinh năm 1989, con nhỏ nhất sinh năm 1999; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 28/7/2024 được tại ngoại cho đến nay, hiện tại ngoại. Có mặt.

  8. Đặng Xuân Đ, tên gọi khác: không; sinh ngày: 03 tháng 11 năm 1953, tại huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 7/10; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đặng Xuân H8 (Đã mất); con bà: Nguyễn Thị T6 (Đã mất); vợ: Nguyễn Thị H; con: Có 03 con (Con lớn nhất sinh năm 1983, con nhỏ sinh năm 1988); tiền án, tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, hiện tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Xuân Đ: Bà Hoàng Thị H9 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm ợ"trợ giúp pháp lý à"Nhànước tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. âm Quốc T7; sinh năm: 1975; nơi cư trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.ông"Ông

  2. Anh Cao Minh L2; sinh năm: 1982; nơi cư trú: Xóm Đ, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: UBND xã H, huyện H. Có mặt.

  3. Anh Nguyễn Viết M, sinh năm: 1976; nơi cư trú: Xóm T, xã Đ, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  4. Anh Nguyễn Văn Q1; sinh năm: 1976; nơi cư trú: Xóm D, xã Đ, huyện Y, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  5. Anh Trương Văn M1; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Xóm B, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  6. Anh Ngô Văn T8; sinh năm: 1989; nơi cư trú: K, thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  7. Anh Trần Đình T9; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  8. Anh Phạm Đình H10; sinh năm: 1983; nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  9. Anh Hoàng Văn C1; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Xóm K, ã"xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  10. Anh Nguyễn Văn L3; sinh năm: 1983; nơi cư trú: Xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  11. Anh Nguyễn Hải T10; sinh năm: 1987; nơi cư trú: Xóm K, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: Công ty V. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  12. Anh Nguyễn Trung T11, sinh năm: 1984; nơi cư trú: Xóm M, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: UBND huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  13. Anh Ngô Tuấn A; sinh năm: 1982; nơi cư trú: K thị trấn H, huyện H, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: nơi công tác: UBND huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  14. Anh Nguyễn Văn T12; sinh năm: 1982; nơi cư trú: K, thị trấn H, huyện H. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

  15. Anh Trần Văn T13, sinh năm: 1985; nơi cư trú: K, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi công tác: UBND xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

  16. à"Bà Phan Thị T14; sinh năm: 1967; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Phan Thị N1; sinh năm: 1984; nơi cư trú: Xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

  2. Anh Nguyễn Công H11; sinh năm: 1990; nơi cư trú: Xóm H, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào sáng ngày 19/7/2024, thực hiện ông"Công văn số 1421/BCH PCTT-TKCN ngày 18/7/2024 của Ban ỉ"chỉ huy òng"phòng chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn huyện H về việc: “Khẩn trương giải quyết ách tắc trên tuyến mương tiêu dọc tuyến đường 72m từ xóm H đến xóm P, xã H”, ổ"Tổ công tác gồm đại diện: Ủy ban nhân dân xã H; Tuyến phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn H; Hội đồng giải phóng mặt bằng dự án V và Công ty TNHH V do anh Cao Minh L2 - Phó Chủ tịch UBND xã H, huyện H chủ trì thực hiện nhiệm vụ khơi thông ách tắc tại khu vực mương tiêu dọc tuyến đường 72m, thuộc địa phận xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An đã có mặt tại hiện trường để thực hiện nhiệm vụ.

Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi tổ công tác đang tập trung trang thiết bị, máy móc tại hiện trường thì Phan Văn B đi qua, thấy một chiếc máy múc đang đứng cạnh đoạn đường đắp ngăn mương tiêu mà trước đó B và một số người dân đắp. B gọi điện thoại cho Nguyễn Thị X (vợ của B) bảo chị X nói với Phan Thị K1 (con gái của B và X) ra hiện trường để quay video, đồng thời thông qua mạng xã hội, B gọi điện thoại qua mesenger có tài khoản “"facebook “bảo vệ quyền lợi” để gọi những người trong nhóm với nội dung: “Ra cấy chơ máy móc chuẩn bị múc đoạn đường mình đắp qua mương”. Lúc này, trong nhóm chỉ có Nguyễn Thị H1, Phạm Thị Ánh T4 và bà Phan Thị T14 nghe máy. Sau đó, H1 gọi điện thoại cho chị Phan Thị N1, còn bà T14 thì gọi điện thoại cho Nguyễn Thị H5 để thông báo sự việc và nói mọi người đến hiện trường thi công. Trương Thị H3 thấy cuộc gọi nhỡ của B trong nhóm “bảo"“bảo vệ quyền lợi” nên cũng đã đi ra hiện trường. Khoảng 45 phút sau, lần lượt các bị cáo Nguyễn Thị H1, Phan Thị K1, Phạm Thị Ánh T4, Phan Văn B, Nguyễn Thị H5, Trương Thị H3, Đặng Thị S, Đặng Xuân Đ đi đến hiện trường nơi tổ công tác đang chuẩn bị thực hiện nhiệm vụ. Tại đây, mọi người thống nhất với nhau với nội dung: Nếu bên chính quyền và ông"Côngty TNHH VSIP đặt cống và làm đường thông qua ruộng thì sẽ cho làm, còn ngược lại nếu phá, múc đất đóng cọc, đất đá chặn dòng chảy trên tuyến mương mà không làm cống và đường đi qua thì tất cả sẽ ngăn cản không cho làm.

Khoảng 09 giờ 45 phút cùng ngày, anh Cao Minh L2 tiến hành thông báo về tính cấp thiết của việc giải quyết ách tắc trên tuyến mương tiêu dọc tuyến đường 72m từ xóm H đến xóm P, có nguy cơ ngập úng một số khu vực thuộc Dự án V, khu vực dân cư hiện hữu lân cận và thông qua công văn số 1421/BCHPCTT-TKCN ngày 18/7/2024 của Ban chỉ đạo PCTT-TKCN Ủy ban nhân dân huyện H. Lúc này, Đ đứng bên cạnh tay phải cách anh L2 khoảng 01 mét, B cầm máy điện thoại quay video đứng bên cạnh Đ, H3 đứng sát bên cạnh phía tay trái anh L2, H5 cầm ô đứng cạnh H3, S đứng quay video cạnh H5, cách vị trí anh L2 khoảng 01 mét còn K1 cầm ô ngồi phía đường đắp đất đá cách anh L2 khoảng 02 mét, hướng trước mặt anh L2. Sau khi đọc xong công văn, anh L2 yêu cầu các thành viên trong tổ công tác tiến hành thực hiện nhiệm vụ khơi thông ách tắc trên tuyến mương tiêu, đồng thời yêu cầu những người không liên quan rời khỏi khu vực hiện trường để tổ công tác làm nhiệm vụ. Tuy nhiên, H1, K1, S, T4, B, H5, H3, Đ không những không chấp hành yêu cầu của người thi hành công vụ mà còn có những hành động, lời nói nhằm chống đối, cản trợ người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ cụ thể sau đây: Nguyễn Thị H1 đã sử dụng điện thoại đứng đối diện anh L2 để quay video và nói: “Bây giỏi thì bây sang múc bên nghĩa trang cho thoát nước, mộ ông bà choa nước ngập khi mô dừ thì bây không lo”. Đ đi về phía anh L2 tranh cãi với anh L2 và nói: “Mương này đâu có phục vụ cho cánh đồng Hạ Khê”, không thấy anh L2 trả lời, Đ đi lại gần và cầm điện thoại quay video. T4 ngồi xuống phía đoạn đường đắp đất, đá chắn mương nước, cản trở không cho máy xúc múc đất, đá tại đoạn đường này để khơi thông mương nước. H1, K1, H3, H5 đều đứng trước máy múc màu cam do ông Nguyễn Viết M (là nhân viên công ty V) điều khiển để cản trở không cho máy múc làm việc. Khi anh Trương Văn M1, anh Ngô Văn T8, anh Trần Đình T9 (đều là nhân viên của công ty V được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực thi công) yêu cầu người dân đi ra ngoài thì H1, K1, H3, H5 tiến tới xô đẩy, ngăn cản, có những lời nói chửi bới, xúc phạm tổ công tác. H1 tiếp tục đi đi lại lại rồi đứng cạnh máy xúc màu vàng do ông Nguyễn Văn Q1 (Là nhân viên công ty V) điều khiển và đi đến ngồi lên gàu máy xúc màu cam để cản trở, đồng thời nói K1 đứng trước gàu múc của máy xúc màu cam để ngăn cản máy hoạt động. Khi H1 đang đứng dưới mương nước thì anh M1 đẩy H1 ra khỏi lòng mương, H1 bị ngã nên dùng chân đá anh M1. H1 tiếp tục đứng trên đoạn đường đất thì anh M1 và một số người khác đến yêu cầu H1 đi ra khỏi khu vực đang thi công đồng thời kéo tay nhưng H1 không chịu đi. Còn Khuê ban đầu đang ngồi trên đoạn đường đắp đất, đá chắn mương nước để cản trở máy xúc vào múc vị trí này, sau đó, khi nghe H1 nói thì K1 đi đến vị trí máy múc màu cam để cản trở không cho máy hoạt động. Lúc này, anh Ngô Văn T8, anh Trương Văn M1, anh Phạm Đình H10 (cũng là nhân viên của công ty V được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực thi công) đã yêu cầu K1 đi ra nhưng K1 xô đẩy họ, nhất quyết đứng tại vị trí gàu máy múc làm cho máy múc không thể hoạt động được. Còn H5 đứng sát phía trước gàu máy múc màu cam để ngăn cản thì anh M1 và anh H10 đi đến yêu cầu H5 đi ra để máy múc làm việc nhưng H5 xô đẩy anh M1, anh H10. H5 tiếp tục ngồi lên gàu máy múc nhằm không cho máy múc hoạt động. Mặc dù được tổ công tác nhiều lần thuyết phục, vận động H5 ra khỏi vị trí máy múc và đi ra khỏi vị trí thi công nhưng H5 không chấp hành, ngăn cản không cho tổ công tác thực hiện nhiệm vụ và còn nói: “Xã là được VSIP đút lót cho ăn no nê rồi”. Lúc này, B, S, Đ có hành vi dùng điện thoại di động quay video, đi lại, đứng tại khu vực mương nước, đứng trước máy múc, cản trở việc thực hiện nhiệm vụ có hành vụ. Khi chiếc máy múc màu cam do ông Nguyễn Viết M (là nhân viên công ty V) điều khiển để múc đất, đá khơi thông dòng chảy trên tuyến mương thì B đi đến phía trước dùng điện thoại để quay video đồng thời ngăn cản, không cho máy múc thi công. Còn S dùng điện thoại di động Samsung, màu xanh của S, vừa quay video phát trên mạng xã hội facebook “Sen Đặng” vừa tiến lại người lái máy múc và nói: “Đất này là đất của ông Phan Văn B, đường này là chúng tôi đắp để sang canh ruộng, mương này là mương nội bộ của VSIP, không phải mương phục vụ cho dân dọc tuyến đường 72m, nếu phục vụ đường 72m thì cho tôi xem sơ đồ con mương, công văn, quyết định của tỉnh quy định mương đó là của đường 72m, tôi yêu cầu VSIP bỏ cống làm đường qua mương để dân có đường đi”. Nói xong, S đi đến tổ công tác quay video về phía anh L2 và ông Lâm Quốc T15 (là T16 tuyến ban chỉ huy Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tuyến H). Sau đó, S đứng trước mặt ông T15 quay video ngay trước máy múc màu vàng và hỏi: “Mương này là mương phục vụ dân hay của VSIP”. Sen nhiều lần hỏi ông T15 và yêu cầu ông T15 đưa bản đồ. Ngoài ra Sen nhiều lần yêu cầu các thành viên trong Tổ công tác được xem các văn bản thông báo, sơ đồ mương nước rồi. Sau đó, S tiếp tục đứng trên bờ quay video và tiến về phía máy múc màu vàng do ông Q1 điều khiển rồi đứng trước máy múc, dùng điện thoại quay video, làm cho ông Q1 không điều khiển máy hoạt động được. Khi H3 cùng S đang đứng trước khu vực máy xúc màu vàng thì S nói với H3: “Ta đứng ở đây, một máy đang ở đây, ta đứng ở đây đi”. Khi Đ đang đứng ở bờ mương quay video, các cán bộ trong tổ công tác đang yêu cầu Đ đi ra khỏi khu vực thi công thì S nói: “Bố tôi đang bị thương binh nha, bố đứng đó”. Khi đó H1 đang đứng dưới mương nước, trước máy xúc màu vàng thì S quay video về phía H1, nói với H1: “Đứng dưới đó”. Các thành viên trong tổ công tác đã nhiều lần yêu cầu Đ đi ra khỏi khu vực thi công nhưng Đ không chấp hành yêu cầu, liên tục vừa di chuyển vừa sử dụng máy điện thoại quay video trong khu vực thi công và nói “Cán bộ bảo kê cho dân VSIP làm tầm bậy tầm bạ”, Lúc này, S nói với ông Đ hỏi anh L2: “Dự án đây là của nội bộ VSIP hay là của Nhà nước”. Khi ông T15 chỉ đạo cho máy múc vào vị trí để khơi mương. Lúc này, Đ nói: “Các ông làm là theo lợi ích nhóm, chia chác với nhau”. Sau đó, Đ tiếp tục đi đến đứng trước máy múc màu cam, vừa quay video vừa dùng tay giật khẩu trang của anh H10 để cản trở không cho tổ công tác tiến hành thực hiện nhiệm vụ.

Mặc dù các thành viên tổ công tác ều"nhiều lần yêu cầu B, S, H5, H1, Đ, H3, K1, T4 đi ra khỏi hiện trường đang thi công nhưng các đối tượng không chấp hành mà ếp"tiếp tục ngăn cản, chống đối dẫn đến ổ"Tổ công tác hôm đó đã không hoàn thành được nhiệm vụ.

Đến 10 giờ 30 phút cùng ngày, nhận được tin báo của UBND xã H, huyện H, tổ công tác Công an huyện H đã đến hiện trường, tiến hành lập biên bản bắt quả tang đối với Nguyễn Thị H1, Phan Thị K1, Đặng Thị S, Phạm Thị Ánh T4 về hành vi chống người thi hành công vụ.

Ngày 19/7/2024 và ngày 20/7/2024, B, H5, H3 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H để đầu thú về hành vi chống người thi hành công vụ.

Cáo trạng số 66/CT-VKS-HS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo Phan Văn B, Đặng Thị S, Đặng Xuân Đ, Nguyễn Thị H5, Trương Thị H3, Phan Thị K1, Phạm Thị Ánh T4, Trương Thị H3 về tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật ình"Hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa 08 bị cáo đã khai nhận hành vi mà các bị cáo thực hiện vào ngày 19/7/2024 giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phan Văn B, Đặng Thị S, Đặng Xuân Đ, Nguyễn Thị H5, Trương Thị H3, Phan Thị K1, Phạm Thị Ánh T4, Trương Thị H3 phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”; về hình phạt:

  • + Áp dụng khoản 1, Điều 330 BLHS; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 38 Bộ luật ình"Hìnhxử phạt bị cáo Đặng Thị S 03 tháng 09 ngày tù. Áp dụng khoản 5 Điều 328 BL TTHS trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa.

  • + Áp dụng khoản 1, Điều 330 BLHS; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật ình"Hìnhxử phạt: Bị cáo Phan Văn B từ 09 tháng đến 12 tháng ải"Cải tạo không giam giữ; xử phạt bị cáo Trương Thị H3, Nguyễn Thị H5, Phạm Thị Ánh T4, Nguyễn Thị H1, Phan Thị K1 mỗi bị cáo từ 07 tháng đến 09 tháng ải"Cải tạo không giam giữ.

Bị cáo B, H5, H1, K1, T4 đều được trừ đi 09 ngày tạm giữ, quy đổi thành 27 ngày ải"Cải tạo không giam giữ.

  • + Áp dụng khoản 1, Điều 330 BLHS; điểm i, s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật ình"Hìnhxử phạt bị cáo Đặng Xuân Đ từ 06 tháng đến 07 tháng ải"Cải tạo không giam giữ.

Về khấu trừ thu nhập: Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo vì các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.

Về vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật ình"Hìnhkhoản 2; khoản 3 Điều 106 Bộ luật ố"Tố tụng hình sự 2015, đề nghị trả lại cho 06 bị cáo S, K1, T4, H1, B, H5 06 điện thoại mà ơ"Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã thu giữ của 06 bị cáo.

Tịch thu lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston do ông Trương Văn M1 cung cấp, được bỏ vào trong phong bì thư bưu điện và được niêm phong đúng quy định.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Đặng Thị S, Phan Văn B, Nguyễn Thị H1, Phan Thị K1, Trương Thị H3, Phạm Thị Ánh T4 phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí cho bị cáo Đặng Xuân Đ và Nguyễn Thị H5,

Người bào chữa cho bị cáo Đặng Xuân Đ thống nhất và không tranh luận về tội danh, điều khoản mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo Đ, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử: Xem xét cho bị cáo là người có công với cách mạng và đã trên 70 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử, xử bị cáo Định mức án bằng mức thấp nhất mà Kiểm sát viên đã đề nghị vừa đủ sức răn đe, giáo dục và cũng đảm bảo tác dụng phòng ngừa tội phạm.

Các bị cáo không trình bày hay bổ sung lời bào chữa; không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng ình"hìnhQuá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra và Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên là hợp pháp.

[2]. Về chứng cứ xác định tội danh:

Lời khai tại phiên tòa và lời khai trong quá trình điều tra của các bị cáo là thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, lời khai của những người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 19/7/2024, ên"Biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường; biên bản mở niêm phong, trích hình ảnh camera quay tại hiện trường được người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan giao nộp và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng thời gian từ 09 giờ 45 phút đến 10 giờ 30 phút ngày 19/7/2024, tại khu vực mương tiêu dọc tuyến đường 72m, thuộc địa phận xóm P, xã H, huyện H, khi Tổ công tác gồm đại diện: Ủy ban nhân dân xã H, Tuyến phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn H; Hội đồng giải phóng mặt bằng dự án V và Công ty TNHH V do anh Cao Minh L2 - Phó Chủ tịch UBND xã H, huyện H chủ trì đang thực hiện nhiệm vụ theo Công văn số 1421/BCH PCTT-TKCN ngày 18/7/2024 của Ban ỉ"chỉ huy òng"phòngống thiên tai tìm kiếm cứu nạn của huyện H về việc khơi thông ách tắc tại khu vực mương tiêu dọc tuyến đường 72m thì Đặng Thị S, Phan Văn B, Phạm Thị Ánh T4, Nguyễn Thị H5, Phan Thị K1, Nguyễn Thị H1, Trương Thị H3, Đặng Xuân Đ không chấp hành yêu cầu đi ra khỏi khu vực đang thi công theo yêu cầu của các thành viên trong ổ"tổ công tác, các bị cáo đã to tiếng, đôi co, chất vấn, chửi bới, xúc phạm; đồng thời thực hiện những hành vi như: T8 lại người thi hành công vụ để quay video; đi đi lại lại tại khu vực đang thi công; đứng trước máy múc đang chuẩn bị hoạt động; ngồi trên gàu máy múc; giật khẩu trang người thi hành công vụ; xô đẩy người thi hành công vụ ... nhằm cản trở, ngăn cản người và phương tiện máy móc đang làm nhiệm vụ khơi thông ách tắc trên tuyến mương tiêu dọc tuyến đường 72m. Dẫn đến ổ"Tổ công tác không thực hiện được nhiệm vụ được giao.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi của các bị cáo đã có đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:

Đây là vụ án đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn; vụ án xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn và làm giảm hiệu lực quản lý của cơ quan Nhà nước; xâm phạm đến hoạt động công vụ của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trong xã hội. Các bị cáo đã có lời nói to tiếng, đôi co, chất vấn, chửi bới, xúc phạm; đồng thời thực hiện những hành vi như: Không chấp hành yêu cầu đi ra khỏi hiện trường của người thi hành công vụ; tiến lại người thi hành công vụ và quay video; đi đi lại lại tại khu vực thi công; đứng trước máy múc chuẩn bị hoặc đang hoạt động; ngồi trên gàu máy múc; giật khẩu trang người thi hành công vụ; xô đẩy người thi hành công vụ ... nhằm cản trở, ngăn cản người thi hành công vụ thực hiện công vụ, không cho máy móc và các phương tiện thực hiện việc khơi thông ách tắc trên tuyến mương tiêu dọc tuyến đường 72m. Dẫn đến người thi hành công vụ không thực hiện được công cụ của mình. Những hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần xử lý nghiêm các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Đánh giá vai trò, nhân thân, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

+ Về vai trò:

Vai trò thứ nhất trong vụ án thuộc về các bị cáo Phan Văn B và bị cáo Đặng Thị S. Khi biết ổ"Tổ công tác chuẩn bị tiến hành nhiệm vụ khơi thông dòng chảy tại khu vực mương tiêu dọc đường 72m thuộc xóm P, xã H, huyện H (tại vị trí đoạn đường mà bị cáo B và một số người khác đã đắp đường ngăn mương tiêu trước đó) bị cáo B đã gọi điện thoại để kêu con gái là bị cáo K1 ra hiện trường để quay video đồng thời gọi điện thoại vào nhóm facebook “bảo"“bảoệ quyền lợi” nhằm kêu gọi, tụ tập các bị cáo ra hiện trường đang thi công. Khi gặp nhau các bị cáo khác bàn bạc việc ngăn cản, chống đối không cho Tổ công tác thực hiện việc khơi thông dòng chảy. Sau khi đồng chí Lực thông qua ăn"Văn bản số 1421/BCH PCTT-TKCN ngày 18/7/2024 của Ban ỉ"chỉ huy phòng chống thiên tai tìm kiếm cứu nạn huyện H và giải thích tính cấp thiết của việc giải quyết ách tắc tuyến mương tiêu đồng thời yêu cầu những người không liên quan ra khỏi hiện trường thì cả 02 bị cáo không những không chấp hành, mà còn có những hành vi cản trở chống đối người thi hành công vụ một cách tích cực, dùng những lời nói thách thức, kích động, kêu gọi, hô hào, các bị cáo khác cùng thực hiện cản trở người thi hành công vụ thực hiện công vụ. Cụ thể: Cả 02 bị cáo đều cầm máy điện thoại để quay video và đi đi lại khu vực đang thi công; đứng tại khu vực mương nước, đứng trước máy múc, không cho máy múc hoạt động. Riêng bị cáo S vừa quay video vừa phát trên mạng xã hội Facebook “Sen Đặng” vừa có những câu nói chất vấn và đưa ra yêu cầu đòi hỏi đối với người thi hành công vụ là phải cho bị cáo được xem sơ đồ con mương, công văn, quyết định của tỉnh quy định mương. Khi các thành viên trong tổ công tác đang yêu cầu bị cáo định,"Đ, bị cáo H1 (lúc này đang đứng dưới mương nước, trước máy xúc màu vàng) đi ra khỏi khu vực thi công thì bị cáo S nói định"Định Hằng tiếp tục đứng ở đó.

Vai trò thứ hai trong vụ án thuộc về các bị cáo H1, H5, Đ. Các bị cáo tham gia và thực hiện hành vi chống người thi hành công vụ một cách tích cực, không chấp hành yêu cầu đi ra khỏi hiện trường, dùng những lời nói và hành vi nhằm cản trở, chống đối người thi hành công vụ thực hiện nhiệm vụ của mình cụ thể: Bị cáo H1 vừa sử dụng điện thoại vừa to tiếng thách đố anh L2 có giỏi thì sang múc bên nghĩa trang có mộ ông bà bị cáo cho thoát nước. Khi các máy bắt đầu hoạt động thì bị cáo đến máy múc màu cam, cúi xuống đất nhặt 01 cục đá cầm ở tay phải, tay trái cầm điện thoại để quay rồi tiến đến sát gần máy múc, ngồi lên gàu máy múc màu cam để cản trở hoạt động; nói bị cáo K1 ngồi tại vị trí gàu máy múc màu cam không cho máy hoạt động. Sau đó, bị cáo đi qua mương nước sang gàu máy múc màu vàng, xuống đứng dưới mương nước thì bị anh M1 kéo ra khỏi lòng mương, bị cáo bị ngã nên đã dùng chân đá anh M1 rồi tiếp tục đứng trên đoạn đường đất. Khi anh M1, anh T8, anh T9 (Đều là nhân viên của ông"côngVSIP được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực thi công) yêu cầu người dân đi ra ngoài thì bị cáo cùng với bị cáo K1, H3, Hồng ến"tiến tới xô đẩy, ngăn cản. Khi nghe thấy 01 đồng chí Công an nói: “Chị về đi không thì sẽ sang bắt”. Bị cáo đã lớn tiếng thách thức Công an bắt mình.

Còn bị cáo Hồng đứng trước máy múc màu cam do anh M (nhân viên Công ty V) điều khiển để cản trở không cho máy làm việc. Khi anh M1 và anh H10 (nhân viên của ông"CôngVSIP được giao nhiệm vụ bảo vệ khu vực thi công) đi đến yêu cầu bị cáo đi ra để máy múc làm việc nhưng bị cáo đã xô đẩy anh M1, anh H10 và tiếp tục ngồi lên gàu máy múc nhằm không cho máy hoạt động. Mặc dù, được ổ"Tổ công tác nhiều lần thuyết phục, vận động đi ra khỏi vị trí máy múc và đi ra khỏi vị trí thi công nhưng bị cáo không chấp hành, ngăn cản không cho ổ"Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ và còn xúc phạm ổ"Tổ công tác và nói: Xã là được VSIP đút lót cho ăn no nê.

Đối với bị cáo Đ: Khi anh L2 yêu cầu mọi người đi ra khỏi hiện trường bị cáo đã to tiếng, tranh cãi với anh L2. Đứng ở bờ mương quay video. Khi ông Lâm Quốc T15 chỉ đạo cho máy múc vào vị trí để khơi mương thì bị cáo có những lời nói nhằm xúc người thi hành công vụ vì cho rằng họ đã làm theo lợi ích nhóm và có sự chia chác với nhau. Tổ công tác nhiều lần yêu cầu bị cáo đi ra khỏi khu vực này để máy múc vào xúc đất nhưng Đ không chấp hành và còn dùng tay giật khẩu trang của anh H10 cản trở ổ"Tổ công tác thực hiện nhiệm vụ.

Vai trò thứ ba trong vụ án thuộc về các bị cáo K1, H3: Các bị cáo đều Đứng"đứng trước máy múc màu cam để cản trở không cho máy múc làm việc. Khi anh T8, anh M1, anh H10 yêu cầu đi ra nhưng các bị cáo đã xô đẩy tổ công tác, nhất quyết đứng tại vị trí gàu máy múc làm cho máy không thể hoạt động được.

Vai trò cuối cùng trong vụ án thuộc về bị cáo T4. Bị cáo ngồi vị trí đoạn đường đắp đất, đá chắn mương nước, cản trở không cho máy xúc múc đất, đá tại đoạn đường này để khơi thông mương nước.

+ Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

+ Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cả 08 bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Cần xem xét thêm cho các bị cáo: Bị cáo S có bố được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng nhất và là thương binh hạng 4/4; bị cáo B có thời gian phục vụ trong quân đội, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; mẹ bị cáo được tặng thưởng Huy chương kháng chiến; bị cáo K1 có bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến; bị cáo H5 sau khi phạm tội đã ra đầu thú; bị cáo H3 sau khi phạm tội đã ra đầu thú, bố bị cáo được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bị cáo Đ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng ất;"Nhất; là thương binh hạng 4/4 và là người đủ 70 tuổi trở lên; bị cáo K1 có bà nội được tặng thưởng Huy chương kháng chiến; bị cáo H1 có mẹ được tặng thưởng Huân chương Độc"độc lập hạng Ba, Huy chương kháng chiến hạng ì,"Nhì,ông ngoại bị cáo là ệt"Liệt sỹ; bị cáo T4 có bố được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ất."Nhất.

Nên các bị cáo B, S, H1, H5, H3, T4, K1 được hưởng ình"tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Bị cáo Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s, o, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

[5]. Về hình phạt:

Bị cáo S có vai trò đầu tiên trong vụ án. Trong giai đoạn điều tra, bị cáo không thành khẩn khai báo, có hành vi cản trở hoạt động điều tra, là người kích động các bị cáo khác tham gia chống đối cản trở người thi hành công vụ nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có đủ sức răn đe. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu tiên phạm tội ít nghiêm trọng, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên cần áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS, để xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và bằng thời hạn bị cáo bị tạm giữ, tạm giam cũng đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe bị cáo. Áp dụng khoản 5 Điều 328 BLTTHS để trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.

Đối với bị cáo B mặc dù có vai trò đầu tiên như bị cáo S. Tuy nhiên, do bị cáo sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã ra đầu thú, ăn năn hối cải, khai báo thành khẩn, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS, có nơi trú rõ ràng, cần áp dụng khoản 3 Điều 54 BLHS, để xử bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt và cho bị cáo cải tạo tại địa phương, buộc bị cáo phải chấp hành thời gian thử thách theo quy định của pháp luật cũng đảm bảo tác dụng giáo dục và răn đe bị cáo.

Các bị cáo H1, H5, Đ, K1, H3 và T4 đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, lại có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đều có vai trò sau và có nhân thân tốt nên không cần thiết cách ly mà cho các bị cáo cải tạo tại địa phương như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay cũng đảm bảo tác dụng giáo dục và cải tạo các bị cáo. Căn cứ vào vai trò và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo cần xử bị cáo H1, H5 mức án bằng nhau; bị cáo Đ, K1, H3 mức án bằng nhau và thấp hơn mức án của bị cáo H1 và H5; còn bị cáo T4 mức án thấp nhất.

[6]. Về khấu trừ thu nhập: Do các bị cáo H1, H5, Đ, K1, H3 và T4 đều là lao động tự do, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, gia đình đều có hoàn cảnh khó khăn nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Tất cả những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều không có yêu cầu gì về dân sự. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8]. Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra, Công an huyện H đã thu giữ 06 điện thoại gồm: 01 điện thoại SAMSUNG, màu xanh, IMEI 1: 355728/26/178741/7, đã qua sử dụng, bên trọng có chứa sim 1: 0937009880, sim 2: 0898113888; 01 điện thoại Oppo, ki ểu loại Oppo A77 5G, IMEI 1: 862191062459395, IMEI 2: 862191062459387, số se-ri: AE85XSVWFIS8KJ4L, chứa sim số; 01 điện thoại ểu"Oppo, Kiểu má y CPH2083, IMEI 1: 869540051638356, IMEI 2: 869540051638349, chứa sim 1: 0357439830 tình trạng không hoạt động, sim 2: 0386849348 đang hoạt động; 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, số máy MWH72VC/A, số sê-ri F2LZH826N70L, số IMEI 353891102398034, số IMEI 2: 353891102470718 chứa 01 một phôi sim hiện không còn khả dụng; 01 điện thoại Vivo, số kiểu máy V2029, IMEI 1: 866644053380570, IMEI 2: 866644053380562, chứa sim số 0329.356.863; 01 điện thoại Masstel, màu xanh, số IMEI 1: 352766245986930, số IMEI 2: 352766245986930, chứa sim số 0356760641; 01 USB màu trắng, nhãn hiệu Kingston được bỏ vào trong phong bì thư bưu điện và được niêm phong đúng quy định, được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Xét thấy, 06 điện thoại trên là của 06 bị cáo S, K1, T4, H1, B và H5. Đây là phương tiện liên lạc hằng ngày của các bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho các bị cáo.

Đối với USB do anh M1 tự nguyện giao nộp để phục vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử. USB này đã được chuyển theo hồ sơ vụ án.

[9]. Đối với Phan Thị T14 là người có mặt tại khu vực mà Tổ công tác đang thi công và là người mà bị cáo S đã nhờ cầm máy điện thoại của bị cáo S để quay phát trực tiếp. Do hành vi của bà T14 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên các cơ quan tiến hành tố tụng không xử lý bà T14 về hình sự là đúng pháp luật.

[10]. Về án phí: Bị cáo H5 là người cao tuổi; bị cáo Đ là người cao tuổi và là người có công với ách"Cáchnên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo còn lại đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015; khoản 5 Điều 328 Bộ luật ố" Tốụng ình" hìnhsự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Đặng Thị S phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

    Xử phạt: Bị cáo Đặng Thị S 03 (ba) tháng 09 (chín) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam là ngày 19/7/2024.

    Tuyên bố trả tự do cho bị cáo tại phiên tòa, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Phan Văn B phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

    Xử phạt: Bị cáo Phan Văn B 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng. Thời gian thử thách của bị cáo tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phan Văn B cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án Hình sự.

  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị H5, Trương Thị H3 và Phan Thị K1 phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H1 và Nguyễn Thị H5 mỗi bị cáo 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo đều được trừ đi thời gian bị tạm giữ 09 ngày quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Nên bị cáo H1 còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ; bị cáo H5 còn phải chấp hành 08 (tám) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ;

    Xử phạt bị cáo Phan Thị K1 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ. Nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ 09 ngày quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 06 (sáu) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.

    Xử phạt bị cáo Trương Thị H3 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s, o, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân Đ phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

    Xử phạt bị cáo Đặng Xuân Đ 07 (bảy) tháng cải tạo không giam giữ.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015.

    Tuyên bố bị cáo Phạm Thị Ánh T4 phạm tội: “Chống người thi hành công vụ”.

    Xử phạt bị cáo Phạm Thị Ánh T4 06 (sáu) tháng cải tạo không ảm"giam ữ."giữ. Nhưng được trừ đi thời gian bị tạm giữ 09 ngày quy đổi thành 27 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo còn phải chấp hành 05 (năm) tháng 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ.

  6. Thời hạn cải tạo không giam giữ của các bị cáo H1, H5, Đ, K1, H3 và T4 được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện H, tỉnh Nghệ An nhận được quyết định thi hành án.

    Giao các bị cáo H1, H5, Đ, K1, H3 và T4 cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

  7. Về vật chứng: Áp dụng khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

    • + Trả lại cho bị cáo Đặng Thị S: 01 điện thoại SAMSUNG, màu xanh, IMEI 1: 355728/26/178741/7, đã qua sử dụng, bên trong có chứa sim 1: 0937009880, sim 2: 0898113888.

    • + Trả lại cho bị cáo Phan Thị K1: 01 điện thoại Oppo, kiểu loại Oppo A77 5G, IMEI 1: 862191062459395, IMEI 2: 862191062459387, số se-ri: AE85XSVWFIS8KJ4L, chứa sim số.

    • + Trả lại cho bị cáo Phạm Thị Ánh T4: 01 điện thoại Oppo, ểu"Kiểu máy CPH2083, IMEI 1: 869540051638356, IMEI 2: 869540051638349, chứa sim 1: 0357439830 tình trạng không hoạt động, sim 2: 0386849348 đang hoạt động.

    • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H1: 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max, số máy MWH72VC/A, số sê-ri F2LZH826N70L, số IMEI 353891102398034, số IMEI 2: 353891102470718 chứa 01 một phôi sim hiện không còn khả dụng.

    • + Trả lại cho bị cáo Phan Văn B: 01 điện thoại Vivo, số kiểu máy V2029, IMEI 1: 866644053380570, IMEI 2: 866644053380562, chứa sim số 0329.356.863.

    • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H5: 01 điện thoại Masstel, màu xanh, số IMEI 1: 352766245986930, số IMEI 2: 352766245986930, chứa sim số 0356760641.

    (Tất cả các điện thoại nêu trên hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên. Đặc điểm chi tiết của vật chứng được phản ánh tại biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 01/10/2024 giữa Công an huyện H với C2 ục thi"cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên).

  8. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng ình"hìnhvà điểm" điểm Điểm"điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc ội"hội buộc các bị cáo Phan Văn B, Đặng Thị S, Trương Thị H3, Nguyễn Thị H1, Phan Thị K1, Phạm Thị Ánh T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hưng Nguyên;
  • - Công an huyện Hưng Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Hưng Nguyên;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ LQ;
  • - TAND tỉnh NA;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Thanh

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng ĩa toàn"Nghĩa Toàn

Nguyễn Văn T17

Nguyễn Thị Kim T18

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về chống người thi hành công vụ

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Chống người thi hành công vụ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger