Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-ST

Ngày 20 tháng 9 năm 2024

----------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Lâm Thuận Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Công Lập và ông Nguyễn An Hữu.

Thư ký phiên toà: bà Lê Ngọc Như Xuân và ông Bùi Hữu Phước - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: ông Nguyễn Công Ninh và ông Trần Quách T - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 68/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 71/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Bùi Thanh L, sinh ngày 26 tháng 7 năm 1993, tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: A hẻm N, tổ C, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Bùi Văn T1 và bà Nguyễn Thị Kim N. Tiền án: Ngày 04/11/2009, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang tuyên phạt 07 năm tù về tội “Giết người” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 93 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Đến nay chưa chấp hành xong trách nhiệm bồi thường dân sự. Tiền sự: Không. Bị cáo Bùi Thanh L bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A từ ngày 19/12/2023 đến nay (có mặt).

2. Ngô Văn T2, (còn có tên gọi khác là Thái N1), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970, tại thị xã T, tỉnh An Giang; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Số G hẻm P, tổ A, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Cao Đài; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Ngô Văn S và bà Nguyễn Thị H; vợ: Nguyễn Thị H1; có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Ngô Văn T2 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A từ ngày 19/12/2023 đến nay (có mặt).

3. Nguyễn Văn M, (còn có tên gọi khác là Bé T3), sinh ngày 18 tháng 11 năm 1994, tại huyện H, tỉnh Đồng Tháp; nơi đăng ký thường trú: Ấp P, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện tại: Số A đường L, khóm L, phường L, thị xã T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Thợ uốn tóc; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Nguyễn Văn T4 và bà Phan Thị S1; chưa vợ; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo Nguyễn Văn M bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh A từ ngày 21/12/2023 đến nay (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Bùi Thanh L: ông Vương Thiên N2, Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: 1 đường T, khóm D, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Ngô Văn T2: ông Trần Quang A, Luật sư Đoàn Luật sư tỉnh A; địa chỉ: Số A đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa; có gửi Luận cứ bào chữa cho bị cáo T2).

Người có liên quan và người làm chứng: Tất cả đều vắng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 19/12/2023, tại khu vực ấp V, xã C, thị xã T, Công an thị xã T phối hợp cùng với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh A tuần tra phát hiện Ngô Văn T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 67D2-103.67 chở Bùi Thanh L từ bến phà H lên đường chính có biểu hiện nghi vấn hoạt động mua bán ma túy nên mời về trụ sở Công an xã C. Qua kiểm tra, phát hiện bên trong gói thuốc lá Hero do L cất giấu trong túi áo khoác màu đen đang mặc có chứa 07 bọc nilon chứa tinh thể màu trắng, khối lượng 51,3335 gam nghi ma túy. L khai nhận tinh thể màu trắng trong các bọc nilon là ma túy đá, do L đi cùng T2 đến mua của một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực cầu C, đem về phân lẻ bán lại cho những người nghiện khác, nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L, T2 và thu giữ vật chứng để xử lý.

Mở rộng điều tra, tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Bùi Thanh L tại khóm L, phường L, thị xã T, phát hiện thu giữ 01 bọc nilon chứa 01 viên nén màu cam nghi ma túy và một số dụng cụ phục vụ cho việc phân lẻ, sử dụng ma túy.

Quá trình điều tra, xác định:

Khoảng tháng 10/2023, Bùi Thanh L sống cùng với Nguyễn Văn M tại khóm L, phường L, thị xã T. Từ tháng 10/2023 đến ngày 18/12/2023, để có tiền tiêu xài và ma túy sử dụng, L mua ma túy của một người đàn ông (không rõ họ tên, địa chỉ) tại Thành phố Hồ Chí Minh và mua của Nguyễn Quốc L1 nhiều lần, mỗi lần mua từ 1,5 gram đến 2,5 gram, giá từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng, đem về phân lẻ rồi bán cho những người nghiện khác như: Phan Thị Ngọc H2 03 lần, mỗi lần 100.000 đồng; Nguyễn Thanh V 03 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Nguyễn Thành Quang H3 05 lần, mỗi lần từ 150.000 – 300.000 đồng; Lê Thanh P khoảng 05 – 06 lần, mỗi lần từ 150.000 – 350.000 đồng; Nguyễn Minh T5 03 lần, mỗi lần từ 200.000 – 300.000 đồng; Nguyễn Hoàng T6 Lê khoảng 05 – 06 lần, mỗi lần từ 200.000 – 500.000 đồng; Lý Phú Q 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Kim Bảo L2 02 lần, lần thứ nhất 200.000 đồng, lần thứ hai 500.000 đồng.

Quá trình mua bán ma túy, L kêu Nguyễn Văn M tiếp giúp bán ma túy cho T5 05 lần, mỗi lần từ 100.000 – 500.000 đồng, bán cho Q 05 lần, mỗi lần 500.000 đồng, M và L sử dụng chung tiền có được từ việc bán ma túy.

Ngoài ra, L còn bán ma túy cho Ngô Văn T2 02 lần, mỗi lần 250.000 đồng. Ma túy mua của L, T2 sử dụng và bán lại cho Nguyễn Minh T7 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng.

Ngày 19/12/2023, sau khi nhờ Nguyễn Quốc L1 liên hệ mua giùm ma túy, Bùi Thanh L thuê Ngô Văn T2 điều khiển xe mô tô biển kiểm số 67D2-103.67 chở L và cho T2 biết sẽ đi đến khu vực cầu C thuộc thành phố C để mua ma túy về bán. Sau khi gặp một người nam (không rõ họ tên, địa chỉ) nhận ma túy, T2 chở L về đến khu vực nêu trên thì cả hai bị phát hiện bắt quả tang như nội dung vụ án. Ngày 28/12/2023, L, T2 và M bị khởi tố điều tra.

* Kết luận giám định số 240/KL-KTHS(MT-GT) ngày 25/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:

  • - Mẫu M₁ (tinh thể màu trắng trong 05 bọc nilon trong suốt, một đầu có rãnh khóa viền đỏ) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 50,3703 gam.
  • - Mẫu M₂ (tinh thể màu trắng trong 02 bọc nilon trong suốt hàn kín) gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,9632 gam.

* Kết luận giám định số 242/KL-KTHS(MT-GT) ngày 28/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh A, kết luận:

Mẫu M (viên nén màu cam) gửi đến giám định không phát hiện thành phần các chất ma túy theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Quá trình điều tra, Bùi Thanh L, Ngô Văn T2, Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

* Vật chứng thu giữ: 07 bọc nilon chứa ma túy (sau khi giám định đã được niêm phong), 01 bọc nilon chứa 01 viên nén màu cam (sau khi giám định đã được niêm phong), 01 mô tô biển kiểm soát 67D2-103.67, 01 điện thoại di động hiệu Realme C21Y, 01 điện thoại di động hiệu Xiaomi, 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1280, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04, 01 điện thoại hiệu Iphone 6s Plus, 01 bao thuốc lạ hiệu Hero, 01 áo khoác màu đen và các dụng cụ dùng để phân lẻ ma túy.

Tại Cáo trạng số 89/CT-VKSAG-P1 ngày 29 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố:

  • - Bùi Thanh L và Ngô Văn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
  • - Nguyễn Văn M, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm các bị cáo Bùi Thanh L, Ngô Văn T2 và Nguyễn Văn M khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng.

Người có liên quan, người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa có lời khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng nêu trên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang luận tội giữ nguyên tội danh cáo trạng truy tố; căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, đề nghị:

  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Bùi Thanh L từ 17 đến 18 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Ngô Văn T2 từ 15 đến 16 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 7 đến 8 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Không áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Vật chứng vụ án đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ và dụng cụ dùng vào việc sử dụng ma túy; tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước 2 điện thoại của bị cáo Bùi Thanh L, 01 điện thoại của bị cáo M dùng vào việc phạm tội; trả lại chiếc mô tô biển kiểm soát 67D2-103.67 và điện thoại di động hiệu S2 A04 cho Ngô Thị Thu T8; trả lại cho các bị cáo T2 điện thoại di động do không liên quan hành vi phạm tội.

Luật sư Vương Thiên N2 bào chữa cho bị cáo Bùi Thanh L có quan điểm bào chữa thống nhất tội danh Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo chưa có tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án. Do bị cáo L có 2 tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử có thể xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Luật sư Trần Quang A bào chữa cho bị cáo Ngô Văn T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng gửi Luận cứ bào chữa thống nhất tội danh Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử quan tâm xem xét các tình tiết giảm nhẹ như: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tạo điều kiện cho Cơ quan điều tra sớm kết thúc vụ án. Do bị cáo T2 có 2 tình tiết giảm nhẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử có thể xử bị cáo hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng cải tạo đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

Trong phần đối đáp, một lần nữa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm luận tội đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Bùi Thanh L, Ngô Văn T2 và Nguyễn Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang truy tố. Cụ thể: Vào khoảng 15 giờ ngày 19/12/2023 tại khu vực ấp V, xã C, thị xã T, phát hiện quả tang T2 và L cất giấu 7 bọc ma túy qua giám định là Methamphetamine có khối lượng 51,3335g. Quá trình điều tra xác định L nhiều lần mua ma túy đem về chia nhỏ bán kiếm lời và để sử dụng. Để thực hiện việc mua - bán thuận lợi, L nhờ M tiếp giúp bán ma túy cho các đối tượng nghiện khi có nhu cầu sử dụng. L bán ma túy cho T2 2 lần, T2 vừa để sử dụng, vừa bán lại 2 lần cho các đối tượng nghiện khác. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với tài liệu do cơ quan điều tra thu thập trong hồ sơ vụ án; phù hợp với lời khai của người liên quan, người làm chứng tại Cơ quan điều tra; phù hợp với kết luận giám định số 240/KL-KTHS (MT-GT) ngày 25/12/2023 của Phòng K - Công an tỉnh A. Từ đó có đủ cơ sở kết luận: Bùi Thanh L, Ngô Văn T2 đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy từ 02 lần trở lên để thu lợi, khối lượng ma túy bị bắt quả tang là 51,3335 gam loại Methamphetamine. Nguyễn Văn M giúp L bán trái phép chất ma túy cho đối tượng nghiện 02 lần trở lên. Các bị cáo L, T2 cũng thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nhưng do hám lợi, nên mua về phân lẻ bán lại cho các con nghiện để kiếm lời và có ma túy sử dụng. Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì:

  • - Hành vi của Bùi Thanh L và Ngô Văn T2 đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 15 đến 20 năm tù, là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
  • - Hành vi của Nguyễn Văn M đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có khung hình phạt từ 7 đến 15 năm tù, là tội phạm rất nghiêm trọng.

Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố các bị cáo về tội phạm trên là hoàn toàn chính xác.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội. Xuất phát từ động cơ vụ lợi, các bị cáo L, T2 nhiều lần thực hiện mua bán trái phép chất ma túy khối lượng hơn 51 gam ma túy loại Methamphetamine; bị cáo M có từ 2 lần trở lên giúp sức bán trái phép chất ma túy cho các đối tượng nghiện, bất chấp hậu quả gieo rắc cái chết trắng cho cộng đồng. Ngoài ra, hành vi của các bị cáo còn ảnh hưởng đến nòi giống, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người. Do vậy, cần phải xử lý thật nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

Thời gian qua, trên địa bàn Thị xã T các tội phạm về ma túy có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, có tác dụng giáo dục cải tạo các bị cáo trở thành người lương thiện, là công dân có ích cho xã hội.

Bị cáo L là người giữ vai trò chủ mưu trong vụ án, bị cáo nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích mua để sử dụng và bán lại cho con nghiện khác kiếm lời. Bị cáo T2 là người có tuổi lớn hơn các bị cáo còn lại trong nhóm nhưng không tu chí làm ăn, cùng tham gia vai trò giúp sức với bị cáo L, trực tiếp 2 lần bán ma túy để hưởng lợi. Bị cáo M vai trò đồng phạm giúp L nhiều lần bán trái phép chất ma túy cho những đối tượng nghiện.

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử nhận thấy mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận. Khi quyết định hình phạt, có xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo không nghề nghiệp ổn định; học vấn thấp nên nhận thức pháp luật hạn chế, theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo tự thú các lần phạm tội trước nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L chưa thi hành xong trách nhiệm bồi thường dân sự trong trong hình sự đối với bản án tội “Giết người”, của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang ngày 04/11/2009, nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ. Tuy nhiên, các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, hiện điều kiện hoàn cảnh kinh tế còn khó khăn nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5] Đối với các đối tượng gồm:

  • - Kim Bảo L2, Lý Phú Q, Nguyễn Thành Quang H4 là người sử dụng trái phép chất ma túy, đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh An Giang để cai nghiện bắt buộc. Phan Thị Ngọc H2, Nguyễn Minh T7, Lê Thanh P, Nguyễn Thanh V, Nguyễn Minh T5 và Nguyễn Quốc L1 là người sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan điều tra đã đề nghị chính quyền địa phương nơi cư trú áp dụng biện pháp xử lý hành chính.
  • - Nguyễn Hoàng Thiện L3 đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T khởi tố, xử lý trong vụ án khác.
  • - Bùi Thanh L khai nhiều lần mua ma túy của Nguyễn Quốc L1 (Lợi Chả) để bán lại. Nhưng lời khai của L không được L1 thừa nhận và không còn chứng cứ khác nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, làm rõ xử lý sau.

[6] Về vật chứng:

Đối với số ma túy và bao gói ma túy hoàn lại sau giám định không có giá trị sử dụng cần tuyên tịch thu để tiêu hủy. Đối với 02 điện thoại di động thu giữ của bị cáo Bùi Thanh L, và 01 điện thoại di động của bị cáo Nguyễn Văn M, quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên cần tuyên bố tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước. Đối với xe mô tô màu đen, biển số 67B2 – 103.67 và 01 điện thoại Samsung Galaxy A04 thuộc quyền sở hữu hợp pháp của Ngô Thị Thu T8, do không liên quan hành vi phạm tội nên tuyên trả lại; điện thoại thu giữ của bị cáo Thái quá T9 điều tra và tại phiên tòa xét không liên quan tội phạm nên cần trả lại cho bị cáo.

[7] Về các vấn đề khác:

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố các bị cáo Bùi Thanh L, Ngô Văn T2, Nguyễn Văn M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

  • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Bùi Thanh L 17 (Mười bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/12/2023).
  • - Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Ngô Văn T2 15 (Mười lăm) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 19/12/2023).
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, phạt bị cáo Nguyễn Văn M 7 (Bảy) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/12/2023).

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau:

  • - 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ 240/KL-KTHS (MT-GT) ngày 25 tháng 12 năm 2023, có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H5, Nguyễn Phát H6. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định.
  • - 01 (một) phong bì được niêm phong (Vụ số: 242/KL-KTHS (MT-GT) ngày 28 tháng 12 năm 2023, có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh An Giang và các chữ ký ghi tên Nguyễn Thị Mỹ H5, Nguyễn Phát H6. Bên trong có mẫu vật còn lại sau khi đã giám định.
  • - 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Hero; 01 (một) áo khoác màu đen (đã qua sử dụng); 01 (một) cây kẹp bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) cây kéo bằng kim loại (đã qua sử dụng); 01 (một) cây kéo bằng kim loại, cán nhựa màu đen (đã qua sử dụng); 10 (mười) bọc nylon trong suốt, một đầu có rãnh khoá và viền màu đỏ; 01 (một) dụng cụ sử dụng ma tuý bằng nhựa (đã qua sử dụng); 01 (một) cân điện tử màu đen, viền trắng (đã qua sử dụng); 01 (một) cuộn băng keo màu đen; 01 (một) co thuỷ tinh (nỏ thuỷ tinh).

* Tịch thu phát mãi sung công quỹ Nhà nước vật chứng là các điện thoại sau giám định:

  • + 01 (một) điện thoại di động hiệu MI, màu đen, bị bể mặt trước, bên trong có gắn 01 sim số 0777875837, mật khẩu mở khóa màn hình: không nhớ rõ; 01 (một) điện thoại di động hiệu Realme, màu xanh, bên trong có gắn 01 sim số 0868059081, mật khẩu mở khóa màn hình: 130509 (đã qua sử dụng) của Bùi Thanh L; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S Plus, màu hồng, bên trong có gắn 01 sim số 0396982941, mật khẩu mở khóa màn hình: 888999 (đã qua sử dụng) của bị cáo Nguyễn Văn M.

* Trả lại 01 (một) xe mô tô màu đen, biển số 67B2 – 103.67; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A04, màu xanh, bên trong có gắn 01 sim số 0926843651 (đã qua sử dụng) cho Ngô Thị Thu T8.

* Trả lại cho bị cáo Ngô Văn T2 01 (một) điện thoại di động hiệu N3, màu tím, viền đen, bên trong có gắn 01 sim số [...] (đã qua sử dụng).

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang).

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Các Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Công Lập

Lâm Thuận Tùng

Nguyễn An Hữu

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh An Giang;
  • - Viện kiểm sát tỉnh An Giang;
  • - Công an tỉnh An Giang;
  • - Trại tạm giam - Công an tỉnh An Giang;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh An Giang;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Người làm chứng;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Tòa Hình sự, Văn phòng.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 65/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger