Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG HỒ

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập–Tự do–Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/ HS-ST

Ngày: 16 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • -Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Công Bằng.
  • -Các hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Nguyễn Văn Nghĩa.
    2. Ông Võ Thế Khoa.
  • -Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long
  • -Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ: Ông Hồ Tuấn Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 62/ 2024/TLST- HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

  1. Phan Văn T, sinh ngày: 20/02/1983. Tại: Vĩnh Long. Tên gọi khác: Không.
  2. Nơi cư trú: Số G, tổ E, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn P ( Đã chết) và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1965 ( còn sống); Vợ: Võ Thị Tuyết T1, sinh năm 1986 ( Đã ly hôn); Con: Phan Nhã T2, sinh năm: 2010; Tiền án: Không; Tiền sự: Không

Ngày 05/7/2024, thực hiện hành vi đánh bạc bị bắt quả tang và bị tạm giữ. Ngày 11/7/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khởi tố vụ án, khởi tố bị can và được thay thế biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1968 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số A, tổ 1, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  2. Ông Nguyễn Văn T3, sinh năm: 1961( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số A, tổ 1, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  3. Ông Bùi Văn M, sinh năm: 1963 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số A, tổ H, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  4. Ông Nguyễn Hùng H, sinh năm: 1973 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số G, tổ E, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  5. Ông Tô Thanh N, sinh năm: 1984 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số B, tổ A, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  6. Ông Trần Văn T4, sinh năm: 1967 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số A, tổ 1, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  7. Ông Trần Văn M1, sinh năm: 1981 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số B, tổ B, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  8. Ông Đặng Hoàng H1, sinh năm: 1985 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số B, tổ A, ấp H, xã H, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  9. Ông Nguyễn Văn X, sinh năm: 1985 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Tiểu khu E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
  10. Ông Ngô Thảo T5, sinh năm: 1975 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số A, tổ G, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long
  11. Ông Lâm Hùng T6, sinh năm: 1987 ( vắng mặt)
    Nơi cư trú: Số A, tổ G, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Văn T kinh doanh quán nước giải khát và ăn uống tại số nhà G tổ E, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. Từ khoảng tháng 6/2024 diễn ra giải đấu bóng đá Euro nên có nhiều người khách đến quán ăn uống và xem trực tiếp bóng đá.

Ngày 05/7/2024, T nảy sinh ý định cá cược các trận đấu bóng đá trực tiếp để ăn thua bằng tiền. Thương truy cập internet xem hình thức, tỷ lệ cá cược, chuẩn bị 01 cuốn sổ, 01 bút bi, 01 máy tính điện tử hiệu Casio đồng thời nhắn tin cho những người quen để họ biết liên hệ cá cược với T.

Hình thức cá cược của T là: người cá cược với T có quyền chọn đội tuyển trước và có thể lựa chọn hình thức cược cả trận hay cược theo hiệp dựa vào số lượng bàn thắng hoặc cược tài xỉu.

Người chơi đến quán của T để xem trực tiếp trận đấu và cá cược, T ghi nhận lại số tiền, hình thức cá cược của người chơi, sau khi trận đấu kết thúc sẽ tiến hành thu tiền đối với những người thua và chi trả cho những người thắng cược với T.

Đối với hình thức cược cả trận đấu hoặc theo hiệp dựa vào số lượng bàn thắng: người cá cược với T có quyền chọn đội tuyển trước, nếu đặt cược cả trận đấu thì thắng 95% số tiền, thua 100% số tiền cược.

Đối với hình thức cá cược tài xỉu thì người chơi không cần chọn đội mà chỉ dựa vào số bàn thắng, tỷ lệ cá cược như sau:

Cược cả trận đấu: kết quả trận đấu là 0 - 0 hoặc 1 - 0 người đặt cược xỉu sẽ thắng 95% số tiền, người cược đặt tài thì bị can thắng 100% số tiền cược; nếu kết quả trận đấu là 2 - 0 hoặc 1 - 1 người đặt cược xỉu sẽ thắng 47,5% số tiền, người cược đặt tài thì bị can thắng 50% số tiền cược; nếu kết quả trận đấu là 2 - 1 hoặc 2 - 2 hoặc tổng số bàn thắng nhiều hơn người đặt cược xỉu sẽ thua 100% số tiền, người cược đặt tài thì người cược thắng 95% số tiền cược.

Cược theo hiệp của trận đấu: kết quả trận đấu là 0 - 0 người đặt cược xỉu sẽ thắng 95% số tiền, người cược đặt tài thì bị can thắng 100% số tiền cược; nếu kết quả trận đấu là 1 - 0 người đặt cược xỉu sẽ thua 50% số tiền, người cược đặt tài sẽ thắng 47,5% số tiền cược; nếu kết quả trận đấu là 2 - 0, 1 - 1, 2 - 1, 2 - 2 hoặc tổng số bàn thắng nhiều hơn người đặt cược xỉu sẽ thua 100% số tiền, người cược đặt tài thì người cược thắng 95% số tiền cược.

Ngày 05/7/2024, T cá cược với nhiều người chơi dựa vào kết quả trận đấu giữa đội tuyển Đ và Tây Ban Nha. Những người cá cược với T bao gồm:

  1. Nguyễn Văn L, sinh năm 1968 cư trú số 129, tổ 1, ấp P, xã Đ, huyện L:

    Buổi sáng ngày 05/7/2024. Lượm đến quán của T cược đội tuyển Đ cả trận đấu với số tiền 500.000đ, L không đến quán của T để xem trận đấu.

  2. Nguyễn Văn T3, sinh năm 1961 cư trú số 127, tổ 1, ấp P, xã Đ, huyện L:

    Thượng điện thoại cho T cược đội tuyển Đ cả trận đấu với số tiền 500.000₫, T3 không đến quán của T để xem trận đấu.

  3. Bùi Văn M, sinh năm 1963 cư trú số 110, tổ 8, ấp Phú Thuận 2, xã Đồng Phú, huyện Long Hồ:

    Mum điện thoại cho T cược xỉu cả trận đấu với số tiền 1.000.000đ, M không đến quán của T để xem trận đấu.

  4. Nguyễn Hùng H, sinh năm 1973 cư trú số 73A, tổ E, ấp P, xã Đ, huyện L:

    H đến quán của T xem trận đấu, cược xỉu hiệp 1 của trận đấu với số tiền 1.000.000₫.

  5. Tô Thanh N, sinh năm 1984 cư trú số 229, tổ A, ấp H, xã Đ, huyện L:

    Nỉ đến quán của T xem trận đấu, cược xỉu hiệp 1 của trận đấu với số tiền 1.000.000₫.

  6. Trần Văn T4, sinh năm 1967 cư trú số 167, tổ 1, ấp H, xã H, huyện L:

    Thống đến quán của T xem trận đấu, cùng với Nguyễn Văn X sinh năm 1985 cư trú tiểu khu E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa cược đội tuyển Tây Ban Nha hiệp 1 của trận đấu với số tiền 500.000₫ (Trong đó, T4 hùn 250.000đ, Xia hùn 250.000₫).

  7. Trần Văn M1, sinh năm 1981 cư trú số 258, tổ B, ấp A, xã A, huyện L:

    M1 đến quán của T xem trận đấu, cược đội tuyển Tây Ban Nha hiệp 1 của trận đấu với số tiền 1.000.000đ.

  8. Đặng Hoàng H1, sinh năm 1985 cư trú số 244, tổ A, ấp H, xã H, huyện L:

    H1 đến quán của T xem trận đấu, cược đội tuyển Đức hiệp 1 của trận đấu với số tiền 500.000₫.

  9. Nguyễn Văn X, sinh năm 1985 cư trú tiểu khu E, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa:

    Xia đến quán của T xem trận đấu, cược đội tuyển Tây Ban Nha hiệp 1 của trận đấu với số tiền 1.000.000đ; cược xỉu hiệp 1 của trận đấu với số tiền 500.00₫ đồng. Tổng số tiền X cá cược là 1.500.000đ.

  10. Ngô Thảo T5, sinh năm 1975 cư trú số 11/5 khóm C, phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long:

    T5 đến quán của T xem trận đấu, cược tài hiệp 1 của trận đấu với số tiền 1.000.000₫ đồng thời cược đội tuyển Tây Ban Nha hiệp 1 của trận đấu với số tiền 1.000.000đ. Tổng số tiền cá cược của T5 là 2.000.000₫.

  11. Lâm Hùng T6, sinh năm 1987 cư trú số 122, tổ G, ấp P, xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long:

    T6 đến quán của T xem trận đấu, cược đội tuyển Tây Ban Nha cả trận đấu với số tiền 500.000₫.

Khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, các đối tượng đang xem trực tiếp bóng đá chưa có kết quả thắng thua thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang đồng thời thu giữ:

Thu giữ của Phan Văn T:

  • + 01 tivi Samsung 55 inch màu đen.
  • + 01 quyền vở có nội dung ghi chép việc đặt cược bóng đá.
  • + 01 máy tính hiệu Casio.
  • + 01 cây bút bi mực màu xanh.
  • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh có số IMEI 1 356835252394365, IMEI 2 358934992394369 gắn sim số 0977 324 244 có số sêri sim 8984048000001084353 và sim số 0707 716 249 có số sêri sim 8401230233103725.
  • + 01 điện thoại hiệu N1 màu đen số IMEI1 355406843195918, IMEI 2 355406843695917 chứa sim số 0702 851 879 có số sêri sim 8401230233056787.
  • + Số tiền 13.160.000₫.

Thu giữ của Nguyễn Hùng H: 01 điện thoại hiệu Oppo màu đen số IMEI1 869868050735539, IMEI 2 869868050735521 chứa sim số 0339 333 994 có số sêri sim 8984048000020328063 và số tiền 590.000₫.

Thu giữ của Tô Thanh N: xe mô tô biển kiểm soát 64L1 - 7986 và số tiền 830.000₫.

Thu giữ của Trần Văn T4: xe mô tô biển kiểm soát 64L1 – 4691, 01 điện thoại hiệu Nokia số IMEI1 354138636822108, IMEI 2 354138637822107 chứa sim số 0907 007 028 có số sêri sim 8401180392300232 và số tiền 890.000đ.

Thu giữ của Nguyễn Văn X: xe môtô biển kiểm soát 60K6 - 8638, 01 điện thoại hiệu Iphone số IMEI1 3561110915516431 chứa sim số 0373 933 599 có số sêri sim 8984048000332634353 và số tiền 900.000₫.

Thu giữ của Trần Văn M1: xe môtô biển kiểm soát 70G1 - 50343, 01 điện thoại hiệu Samsung số IMEI 358592100220130 chứa sim số 0765 223 311 và số tiền 6.200.000₫.

Thu giữ của Đặng Hoàng H1: xe môtô biển kiểm soát 64F8 - 5009, 01 điện thoại hiệu Iphone số IMEI 3532610777714011 chứa sim số 0907 591 626 có số sêri sim 8401180592397988 và số tiền 250.000₫.

Thu giữ của Ngô Thảo T5: xe môtô biển kiểm soát 64B2 - 11024, 01 điện thoại hiệu Iphone số IMEI1 357275093913298, IMEI2 357275094016836 chứa sim số 0902 974 358 có số sêri sim 8984012002931502099 và số tiền 1.800.000₫.

Thu giữ của Lâm Hùng T6: xe môtô biển kiểm soát 64Y1 - 0152, 01 điện thoại hiệu Realme số IMEI1 868906052321604, IMEI2 868909052321612 chứa sim số 0355 959 189 có số sêri sim 8984048000002971111 và số tiền 2.100.000₫.

Quá trình điều tra, Phan Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đánh bạc ăn thua bằng tiền phù hợp với lời khai của Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3, Bùi Văn M, Nguyễn Hùng H, Tô Thanh N, Trần Văn T4, Trần Văn M1, Đặng Hoàng H1, Nguyễn Văn X, Ngô Thảo T5, Lâm Hùng T6 và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu thập được.

Tang vật thu giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã hoàn trả tài sản thu giữ của Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3, Bùi Văn M, Nguyễn Hùng H, Tô Thanh N, Trần Văn T4, Trần Văn M1, Đặng Hoàng H1, Nguyễn Văn X, Ngô Thảo T5, Lâm Hùng T6 để thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, hoàn trả cho Phan Văn T 01 điện thoại Nokia. Đối với những vật chứng còn lại gồm: 01 tivi Samsung 55 inch màu đen, 01 máy tính hiệu Casio, 01 bút bi mực màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Samsung, 13.160.000₫ và xe môtô biển kiểm soát 60K6 - 8638 chưa xác định chủ sở hữu Viện kiểm sát ra quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ bảo quản.

Cáo trạng số 61/CT-VKS, ngày 13 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long truy tố: Phan Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

-Tại phiên tòa: Bị cáo Phan Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, công nhận cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ đối với hành vi phạm tội của bị cáo là đúng. Quá trình điều tra không có ai ép cung bị cáo.

-Tại phiên Tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ vẫn giữ quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo Phan Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Văn T về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T mức án 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung công quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 ti vi SAMSUNG 55 inch màu đen; 01 viết bút bi mực màu xanh; 01 máy tính điện tử hiệu CASIO; 01 điện thoại SAMSUNG màu xanh số IMEII 358635252394365 IMEII 358934992394369 gắn kèm sim Viettel 4G số sêri 8984 0480 0000 1084 353 số điện thoại 0977.324.xxx và sim mobifone số sê ri 8401 2302 3310 3725 số điện thoại 0707.716.xxx; số tiền 10.000.000 đồng.

Trả lại cho bị cáo số tiền 13.160.000 đồng nhưng được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

Giao cho Phòng cảnh sát giao thông huyện L 01 xe mô tô biển kiểm soát 60K6-8638 để xử lý theo quy định.

Về án phí: Đề nghị áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo nộp 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

-Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử cho bị cáo cơ hội, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Vào ngày 05/7/2024, Phan Văn T liên lạc với nhiều đối tượng đến quán của T tại số G tổ E, ấp P, xã Đ, huyện L để cá cược ăn thua bằng tiền dựa trên kết quả trận đấu bóng đá giữa đội tuyển Đ và Tây Ban Nha.

Thương trực tiếp cá cược với 11 đối tượng, tổng số tiền T dùng vào việc đánh bạc là 10.000.000đ. Đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L bắt quả tang các đối tượng thực hiện hành vi đánh bạc và thu giữ các vật chứng liên quan đến vụ án.

Đối với hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền của Nguyễn Văn L, Nguyễn Văn T3, Bùi Văn M, Nguyễn Hùng H, Tô Thanh N, Trần Văn T4, Trần Văn M1, Đặng Hoàng H1, Nguyễn Văn X, Ngô Thảo T5, Lâm Hùng T6 không cấu thành tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000₫ là đúng quy định.

Như vậy có đủ căn cứ để xác định hành vi của bị cáo Phan Văn T đã phạm vào tội “ Đánh bạc” theo quy định tại khỏan 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3]. Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, đã xâm phạm đến trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có nghề nghiệp ổn định, có công việc mua bán tại nhà, có nguồn thu thập hàng ngày, bị cáo biết việc đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Tuy nhiên số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc là không lớn, bản thân bị cáo cũng muốn hơn thua từ việc đánh bạc để kiếm tiền, ngoài ra mục đích của bị cáo là để câu khách đến quán xem bóng đá uống cà phê kiếm thêm nguồn thu nhập trang trải cuộc sống. Khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có một mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.

[4]. Về tình tiết, tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Không

Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.

[6]. Về xử lý vật chứng: Vật chứng trong vụ án là tivi, điện thoại, máy tính, bút bi có liên quan đến việc phạm tội của bị cáo nên tịch thu sung quỹ Nhà nước, tài sản chưa xác định được chủ sở hữu giao cho Công an huyện L xử lý theo quy định.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8]. Qua các phân tích nêu trên xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, sự việc xảy ra bị cáo cũng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cáo, số tiền đánh bạc không lớn. Do đó không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục, cũng đủ răn đe để cho bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[9]. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phan Văn T phạm tội “ Đánh bạc”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 ( Một ) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Phan Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Phạt bổ sung bị cáo nộp 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Sung vào công quỹ Nhà nước: 01 ti vi SAMSUNG 55 inch màu đen; 01 viết bút bi mực màu xanh; 01 máy tính điện tử hiệu CASIO; 01 phong bì niêm phong số 01 bên trong chứa 01 điện thoại SAMSUNG màu xanh số IMEII 358635252394365 IMEII 358934992394369 gắn kèm sim Viettel 4G số sêri 8984 0480 0000 1084 353 số điện thoại 0977.324.xxx và sim mobifone số sê ri 8401 2302 3310 3725 số điện thoại 0707.716.xxx. Buộc bị cáo phải nộp số tiền 10.000.000 đồng ( Mười triệu đồng) của bị cáo dùng vào việc đánh bạc để sung vào công quỹ Nhà nước.

    Giao cho Công an huyện L: 01 xe mô tô biển kiểm soát 60K6-8638 chưa xác định được chủ sở hữu để xử lý theo quy định.

    Số tiền thu giữ của bị cáo 13.160.000 đồng ( Mười ba triệu, một trăm sáu chục ngàn đồng) trong phong bì niêm phong số 03 được giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

    ( Theo biên bản giao nhận tài liệu ngày 13 tháng 9 năm 2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ).

  4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, của Nghị quyết số 326/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng ( Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • -TAND Tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • -VKSND huyện Long Hồ;
  • -CC THADS huyện Long Hồ;
  • -Công an huyện Long Hồ;
  • -Nhà tạm giữ CA huyện Long Hồ;
  • -Phòng hồ sơ CA tỉnh Vĩnh Long;
  • -Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • -UBND xã Đồng Phú-LH-VL;
  • -Bị cáo;
  • -Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án;
  • -Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Công Bằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/ HS-ST ngày 16/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 65/2024/ HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger