|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 65/2024/HS-ST Ngày 15 - 11 -2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Anh Vũ
- Bà Trần Hằng Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trần Hoàng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Phan Tường Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Triệu Quang H; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 25/11/2001 tại huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nơi ĐKHKTT: khu B, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 10/12; Nghề nghiệp: Khi phạm tội H là công nhân nay đã chấm dứt hợp đồng lao động và là lao động tự do; Đoàn thể: không; Bố đẻ: Triệu Quang L; Sinh năm: 1980; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Mẹ đẻ: Trần Thị H1; sinh năm 1980; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Hiện bố mẹ đều trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là thứ nhất; Vợ, Con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 23/8/2024 đến ngày 01/9/2024. Hiện bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên toà )
Bị hại:
- Anh Lê Viết Đ – Sinh năm 1991
- Chị Bùi Thị H2, S năm 2000
Địa chỉ: Khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ: Khu E; xã L, huyện P; tỉnh Phú thọ.
( Anh Đ, chị H2 đều vắng mặt)
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Tiến D, Sinh năm 1993 ( vắng mặt)
Địa chỉ: Khu I; xã V; huyện Đ; tỉnh Phú Thọ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong các ngày 21 và 22/8/2024, do cần tiền chi tiêu cá nhân, Triệu Quang H, sinh năm: 2001, trú tại khu B, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ là công nhân của Công ty TNHH B, khu công nghiệp P thuộc khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, đã dùng chìa khóa tủ đồ cá nhân của mình để mở tủ đồ cá nhân của các công nhân khác tại phòng tủ đồ của công nhân ở toà nhà B1, Công ty TNHH B, để trộm cắp tài sản, cụ thể:
L: Khoảng 8 giờ 00 phút, ngày 21/8/2024, H mở được tủ đồ cá nhân của anh Lê Viết Đ, sinh năm: 1991, trú tại khu A, xã Đ, huyện T, tỉnh Phú Thọ, trộm cắp của anh Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0962732550 và 0559282251. Sau đó, H mang về cất giấu chiếc điện thoại trong tủ quần áo của H tại nhà ở khu B, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
Lần 2: Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 22/8/2024, H mở được tủ đồ của chị Bùi Thị H2, sinh năm: 2000, trú tại khu E, xã L, huyện P, tỉnh Phú Thọ, trộm cắp của chị H2 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu trắng, ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, mặt ốp màu tím, bên trong có gắn thẻ sim số 0373204464. Sau đó, Hưng tháo bỏ vỏ ốp và thẻ sim cất ở nhà, còn chiếc điện thoại H bán cho anh Nguyễn Tiến D, sinh năm: 1993 ở khu I, xã V, huyện Đ tỉnh Phú Thọ được 800.000 đồng. Số tiền này, H dùng 500.000 đồng để nạp thẻ game; cho em trai của H là Triệu Việt H3, sinh năm: 2006, trú tại khu B, xã N, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ 100.000 đồng còn 200.000 đồng H cất giấu trong người để chi tiêu cá nhân.
Sau khi phát hiện bị mất tài sản, anh Đ, chị H2 có đơn trình báo đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đề nghị làm rõ đối tượng trộm cắp tài sản và xử lý theo quy định pháp luật. Đến ngày 23/8/2024, Triệu Quang H đã đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên và tự nguyện giao nộp: 01 chiếc chìa khoá có tay cầm bằng nhựa màu đen, một mặt có chữ HT, một mặt có chữ “99,9% ANTI-BACTERIAL WITH Sanitiged” gắn với chìa mở khoá bằng kim loại, H sử dụng để mở tủ đồ của anh Đ và chị H2; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0962732550 và 0559282251; 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, mặt ốp màu tím; 01 thẻ sim số 0373204464 và 800.000 đồng.
Phục vụ công tác điều tra, ngày 26/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trưng cầu định giá tài sản đối với các tài sản H trộm cắp. Tại bản kết luận định giá tài sản số 25 ngày 27/8/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, Ủy ban nhân dân thị xã P, kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, trị giá: 2.100.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu trắng, trị giá: 5.666.000 đồng và 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, trị giá: 20.000 đồng.
Như vậy, trong 02 ngày 21 và 22/8/2024, Triệu Quang H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với giá trị từng lần, lần lượt là 5.686.000 đồng và 2.100.000 đồng; nên H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 02 lần trộm cắp tổng giá trị 7.786.000 đồng.
Đối với anh Nguyễn Tiến D, khi mua chiếc điện thoại Iphone 11 của H với giá 800.000 đồng, anh D không biết là tài sản do H trộm cắp được mà có, việc mua bán là ngay thẳng, không có thoả thuận, hứa hẹn hay có điều kiện vụ lợi, mục đích để lấy linh kiện máy. Sau khi mua được điện thoại của H, anh D đã tháo rời các bộ phận và đã sử dụng một vài chi tiết; còn 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng kích thước 19x6,5cm, một mặt của thanh kim loại bằng phẳng còn một mặt được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử và 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng, kích thước 19x5,5, hai mặt của thanh kim loại được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử; là các bộ phận còn lại của chiếc điện thoại Iphone 11, anh D tự nguyện giao nộp Cơ quan CSĐT Công an thị xã P. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không có căn cứ xử lý anh D về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay đồng phạm với H về hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với Triệu Việt H3 được Triệu Quang H cho 100.000 đồng, bản thân H3 không biết nguồn gốc tiền là do H trộm cắp điện thoại mang bán mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không đề cập xử lý.
Về xử lý vật chứng, đồ vật tạm giữ: Ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0962732550 và 0559282251 cho anh Lê Viết Đ; trả lại 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, mặt ốp màu tím và 01 thẻ sim số 0373204464 cho chị Bùi Thị H2 là các chủ sở hữu hợp pháp.
Đối với 01 chiếc chìa khoá có tay cầm bằng nhựa màu đen, một mặt có chữ HT, một mặt có chữ “99,9% ANTI-BACTERIAL WITH Sanitiged” gắn với chìa mở khoá bằng kim loại; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng kích thước 19x6,5cm, một mặt của thanh kim loại bằng phẳng còn một mặt được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng, kích thước 19x5,5, hai mặt của thanh kim loại được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử hiện đang được tạm giữ tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự ; số tiền 800.000 đồng hiện trong tài khoản tạm giữ của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Viết Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác. Đối với chị Bùi Thị H2 yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền tương ứng với giá trị chiếc điện thoại theo bản kết luận định giá tài sản; Bị cáo H đã tự nguyện xin lỗi và trả cho chị H2 7.000.000 đồng; chị H2 nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác. Đối với anh Nguyễn Tiến D không có yêu cầu đề nghị gì.
Tại bản cáo trạng số 69 /CT-VKS-TXPT ngày 30/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ truy tố bị cáo Triệu Quang H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX Tuyên bố bị cáo Triệu Quang H phạm tội” Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Khoản 1,2,5 Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Triệu Quang H từ 12 đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo . Thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng.Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xác nhận ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho anh Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0962732550 và 0559282251; và trả lại cho chị Bùi Thị H2 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, mặt ốp màu tím và 01 thẻ sim số 0373204464.
Tịch thu của bị cáo Triệu Quang H số tiền 800.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy : 01 chiếc chìa khoá có tay cầm bằng nhựa màu đen, một mặt có chữ HT, một mặt có chữ “99,9% ANTI-BACTERIAL WITH Sanitiged” gắn với chìa mở khoá bằng kim loại; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng kích thước 19x6,5cm, một mặt của thanh kim loại bằng phẳng còn một mặt được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng, kích thước 19x5,5, 02 mặt của thanh kim loại được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử .
Xác nhận anh Lê Viết Đ đã nhận lại tài sản. Bị cáo đã bồi thường cho chị Hằng số tiền 7.000.000 đồng.
Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Triệu Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm .
Bị cáo H nói lời sau cùng: Bị cáo thấy rất ân hận về hành vi mà bị cáo đã phạm, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất và xin hứa sẽ cải tạo tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo:
Trong 02 ngày 21 và 22/8/2024, tại phòng tủ đồ của công nhân ở Toà nhà B1, Công ty TNHH B, khu công nghiệp P thuộc khu F, xã H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ; Triệu Quang H đã 02 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị là 7.786.000 đồng, gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, trị giá: 2.100.000 đồng của anh Lê Viết Đ; 01 chiếc điện thoại di động Iphone 11, màu trắng, trị giá: 5.666.000 đồng và 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, trị giá: 20.000 đồng của chị Bùi Thị H2, với mục đích tư lợi cá nhân.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan các vật chứng đã thu giữ, vì vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Triệu Quang H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Khoản 1 Điều 173 BLHS quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm ....”
Đối với anh Nguyễn Tiến D, khi mua chiếc điện thoại Iphone 11 của H với giá 800.000 đồng, anh D không biết là tài sản do H trộm cắp được mà có, việc mua bán là ngay thẳng, không có thoả thuận, hứa hẹn hay có điều kiện vụ lợi, mục đích để lấy linh kiện máy. Sau khi mua được điện thoại của H, anh D đã tháo rời các bộ phận và đã sử dụng một vài chi tiết; còn 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng kích thước 19x6,5cm, một mặt của thanh kim loại bằng phẳng còn một mặt được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử và 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng, kích thước 19x5,5, hai mặt của thanh kim loại được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử; là các bộ phận còn lại của chiếc điện thoại Iphone 11, anh D tự nguyện giao nộp Cơ quan CSĐT Công an thị xã P. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không có căn cứ xử lý anh D về hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có hay đồng phạm với H về hành vi trộm cắp tài sản. Xét thấy là phù hợp.
Đối với Triệu Việt H3 được Triệu Quang H cho 100.000 đồng, bản thân H3 không biết nguồn gốc tiền là do H trộm cắp điện thoại mang bán mà có. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P không đề cập xử lý. Xét thấy phù hợp
[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, song hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó còn gây mất trật tự trị an ở địa phương nên cần phải được xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự. Do vậy cần xử phạt bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt đối với bị cáo thì cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như sau:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình là phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trước lần phạm tội này, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H đã tự giác đến Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đầu thú. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai báo về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nên hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội là chưa cần thiết mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo theo quy định tại điều 65 của Bộ luật hình sự dưới sự quản lý và giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội và bị cáo cũng thấy được sự khoan hồng của Nhà nước đối với người phạm tội .Với mức hình phạt như Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Mức án đó cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.
[3] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 của Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000dồng đến 50.000.000 đồng”. Xét thấy, bị cáo nghề nghiệp lao động tự do, thu nhập thấp, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
[4] Về xử lý vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0962732550 và 0559282251 xác định là tài sản của anh Đ nên ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại.cho anh Lê Viết Đ là chủ sở hữu hợp pháp cần xác nhận trong bản án.
Đối với 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, mặt ốp màu tím và 01 thẻ sim số 0373204464 là tài sản của chị H2 nên ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho chị Bùi Thị H2 là chủ sở hữu hợp pháp cần xác nhận trong bản án.
Đối với 01 chiếc chìa khoá có tay cầm bằng nhựa màu đen, một mặt có chữ HT, một mặt có chữ “99,9% ANTI-BACTERIAL WITH Sanitiged” gắn với chìa mở khoá bằng kim loại; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng kích thước 19x6,5cm, một mặt của thanh kim loại bằng phẳng còn một mặt được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng, kích thước 19x5,5, 02 mặt của thanh kim loại được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.
Đối với số tiền 800.000 đồng thu giữ của bị cáo do bị cáo bán điện thoại cho anh D. Mặc dù anh D không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền này nhưng xét thấy, đây là số tiền do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Viết Đ đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác. Đối với chị Bùi Thị H2 yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền tương ứng với giá trị chiếc điện thoại theo bản kết luận định giá tài sản; Bị cáo H đã tự nguyện xin lỗi và trả cho chị H2 7.000.000 đồng; chị H2 nhận đủ tiền và không yêu cầu bị cáo H phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác nên không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với anh Nguyễn Tiến D cùng không có yêu cầu đề nghị gì nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[6] Về án phí: Bị cáo Triệu Quang H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 điều 173; Điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Khoản 1,2,5 Điều 65; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 48 bộ luật hình sự; Điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Triệu Quang H phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Triệu Quang H 12 ( mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 ( Hai mươi tư) tháng.Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị cáo Triệu Quang H phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Giao bị cáo Triệu Quang H cho Ủy ban nhân dân xã N,huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách của án treo.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Triệu Quang H cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Triệu Quang H phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp bị cáo Triệu Quang H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 và điều 68 Luật thi hành án hình sự.
Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Xác nhận ngày 01/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thị xã P đã trả lại cho anh Đ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10s, màu xanh, bên trong lắp 02 thẻ sim số 0962732550 và 0559282251; và trả lại cho chị Bùi Thị H2 01 ốp lưng phía sau bằng nhựa viền màu đen, mặt ốp màu tím và 01 thẻ sim số 0373204464.
(Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 01.02 /10 /2024 của cơ quan cảnh sát điều tra công an thị xã P)
Tịch thu của bị cáo Triệu Quang H số tiền 800.000đ để nộp ngân sách Nhà nước.
Tịch thu tiêu hủy : 01 chiếc chìa khoá có tay cầm bằng nhựa màu đen, một mặt có chữ HT, một mặt có chữ “99,9% ANTI-BACTERIAL WITH Sanitiged” gắn với chìa mở khoá bằng kim loại; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng kích thước 19x6,5cm, một mặt của thanh kim loại bằng phẳng còn một mặt được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử; 01 thanh kim loại hình chữ nhật màu đen, vàng, kích thước 19x5,5, 02 mặt của thanh kim loại được lắp đặt nhiều chi tiết linh kiện điện tử .
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ ngày 31 /10 /2024)
Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận anh Lê Viết Đ đã nhận lại tài sản. Bị cáo đã bồi thường cho chị Hằng số tiền 7.000.000 đồng.
Về án phí: Buộc bị cáo Triệu Quang H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm .
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày giao hoặc niêm yết bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Ngọc Hà |
Bản án số 65/2024/HS-ST ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 65/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
