Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 65/2024/HS-PT

Ngày: 15 - 10 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Hùng;
Các Thẩm phán: Ông Lâm Văn Năm;
Bà Nguyễn Thị Tư.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Xuân Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thiết - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 130/2024/TLPT-HS, ngày 17 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo Đặng Văn T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 51/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Bị cáo có kháng cáo:

Đặng Văn T, sinh năm 1974, tại B, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: Tổ A, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không có; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T1 (chết) và bà Trương Thị L (chết); Vợ con: chưa có; Anh chị em ruột có 07 người (chết 01 người).

Tiền sự: không.

Tiền án: 01 lần. Vào ngày 24/6/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Bình Minh (nay là thị xã B) xử phạt tiền 10.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Chưa được xóa án tích do bị cáo chưa thi hành xong số tiền xử phạt và án phí.

Nhân thân của bị cáo: Vào ngày 12/02/2014, bị Tòa án nhân dân quận Cái Răng, TP . xử phạt 02 năm tù về tội “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 28/7/2015 (đã xóa án tích).

Bị cáo đang bị tạm giam từ ngày 07/8/2023 cho đến nay. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Anh Trần Bá L1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Tổ D, Khóm A, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
  2. Anh Phan Ngọc T2, sinh năm 1984. Địa chỉ: Tổ B, Khóm B, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
  3. Ngân hàng K – Chi nhánh thị xã B, tỉnh Vĩnh Long có ông Trần Hữu T3, sinh năm 1977 là Giám đốc chi nhánh (Vắng mặt). Địa chỉ: Số A, N, Khóm A, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.

Người làm chứng:

  1. Chị Mai Quỳnh N, sinh năm 1989. Địa chỉ: Tổ D, Khóm A, phường C, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).
  2. Anh Trương Phước A, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ D, ấp T, xã T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
  3. Anh Đinh Văn L2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).
  4. Anh Nguyễn Minh C, sinh năm 1992. Địa chỉ: Ấp L, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
  5. Anh Đỗ Minh H, sinh năm 1979. Địa chỉ: Tổ H, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Có mặt).
  6. Anh Lê Nhật L3, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số nhà A, Tổ E, khóm Đ, phường Đ, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B kết hợp Công an xã M, thị xã B làm nhiệm vụ tuần tra đến khu vực thuộc tổ 1, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long thì phát hiện Đặng Văn T đang điều khiển xe môtô biển số 64H1 - 345.38 theo hướng từ xã M về phường C, thị xã B có biểu hiện nghi vấn tàng trái phép chất ma túy. Lực lượng

Công an yêu cầu T dừng xe để kiểm tra nhưng T không dừng lại, khi thấy lực lượng Công an thì T thả từ trong lòng bàn tay trái xuống đường một vật bên ngoài được quấn lại bằng bịch nilong màu đen, có cột sợi dây thun màu vàng ở giữa, rồi T điều khiển cho xe đi thêm một đoạn khoảng 50 mét mới dừng xe lại để lực lượng công an kiểm tra. Sau khi lực lượng Công an tiến hành kiểm tra T thì nghi đồ vật phía trong bọc nilong màu đen mà T vừa ném xuống đường là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đồ vật có liên quan gồm:

  • 01 vật được quấn lại bên ngoài bằng bọc nilong màu đen, có cột ở giữa sợi dây thun màu vàng (nghi vật bên trong là chất ma túy). Khi thu giữ được lực lượng công an đựng trong túi niêm phong ký hiệu NS3, có ký của người chứng kiến Đỗ Minh H, người liên quan Đặng Văn T và được niêm phong lại trong bao thư, bên ngoài có chữ ký xác nhận của Điều tra viên Châu Trường G, người chứng kiến Đỗ Minh H, người liên quan Đặng Văn T và đóng dấu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B.
  • 01 (một) xe môtô biển số 64H1 - 354.38;
  • 01 cái điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen, có số IMEL 1: 353220820677281/01; IMEL 2: 353319900677284/01, có số sim: 0939390096.
  • Số tiền: 8000.000 đồng.

Cùng ngày 15/6/2023 Cơ quan điều tra tiến hành đưa T đến Trạm y tế phường C, thị xã B để xét nghiệm chất ma túy, kết quả âm tính với chất ma túy loại Methamphetamine, Heroine.

Cùng ngày 15/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an thị xã B trưng cầu Phân viện khoa học hình sự tại TP . – Bộ C1 để giám định chất ma túy, dấu vân tay và ADN đối với tang vật (01 vật được quấn bọc nilong màu đen và cột dây thun màu vàng phía ngoài) đã thu giữ được.

Cùng ngày 15/6/2023, Phân Viện khoa học hình sự tại TP Bộ C1 thu mẫu tế bào niêm mạc miệng của Đặng Văn T để phục vụ cho việc giám định ADN.

Căn cứ vào Kết quả giám định số 4065/KL - KTHS ngày 21/6/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP . - Bộ C1 kết luận: tinh thể rắn màu trắng bên trong túi nilong có sọc đỏ 01 đầu (được quấn bọc nilong màu đen và cột dây thun màu vàng phía ngoài; đây là tang vật đã thu giữ được) gửi giám định là ma túy loại Methamphetamine, có khối lượng là 9,9403 gam.

Căn cứ kết quả giám định số 4109/KL - KTHS ngày 26/6/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Bộ C1 kết luận: Trên mẫu vật gửi giám định (01 vật được quấn bọc nilong màu đen và cột dây thun màu vàng phía ngoài) có dính tế nào người của một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gen của Đặng Văn T.

Căn cứ kết quả giám định số 4111/KL - KTHS ngày 13/7/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP Bộ C1 kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết đường vân đủ yếu tố giám định trên mẫu vật gửi tới giám định.

Qua quá trình điều tra thì T không thừa nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đối với 01 vật được quấn lại bên ngoài bằng bọc nilong màu đen, có cột ở giữa sợi dây thun màu vàng (bên trong vật này có chất ma túy - sau khi giám định) mà Công an thu giữ khi kiểm tra, lập biên bản thì T khai không phải là của T và T cũng không có cầm giữ hay dụng vào vật này. Đồng thời, T cũng không thừa nhận có hành vi vận chuyển hay mua bán trái phép chất ma túy cho người khác.

Mặc dù Đặng Văn T không thừa nhận hành vi phạm tội nhưng có đủ cơ sở, chứng cứ xác định T đã tàng trữ trái phép 9,9403 gam chất ma túy loại Methamphetamine vào ngày 15/6/2023, vì khi lực lượng Công an của Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B kết hợp Công an xã M, thị xã B yêu cầu T dừng xe lại để kiểm tra thì phát hiện Đặng Văn T thả từ trong lòng bàn tay trái xuống đường một vật được quấn bọc nilong màu đen bên ngoài, có cột sợi dây thun ở giữa màu vàng (bịch ma túy), những người làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện, trực tiếp nhìn thấy sự việc T thả bịch ma túy xuống đường gồm có: Trương Phước A, Nguyễn Minh C, Đinh Văn L2.

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an thị xã B kết hợp với Công an phường C có mời các đối tượng nghiện ma túy (do Công an phường C quản lý) đến Cơ quan để cảm hóa, giáo dục và tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể của đối tượng tượng nghiện ma túy. Qua kết quả xét nghiệm có nhiều đối tượng bị nghiện ma túy, trong đó có 02 đối tượng là Trần Bá L1 và Phan Ngọc T2. Sau khi tiến hành làm việc với L1 và T2 thì Cơ quan điều tra đã chứng minh được ngày 15/6/2023 Đặng Văn T tàng trữ trái phép chất ma túy là để bán cho người khác trong đó có định bán cho Phan Ngọc T2 và Cơ quan điều tra cũng chứng minh được trước khi bị bắt quả tang vào ngày 15/6/2023 thì T có bán ma túy cho Phan Ngọc T2 và Trần Bá L1, 02 người này khai nhận đã mua ma túy của T để sử dụng cụ thể như sau:

· Đối với Trần Bá L1 khai nhận: L1 bị nghiện ma túy (loại ma túy đá) được khoảng 03 - 04 năm. L1 biết Đặng Văn T có bán ma túy là do bạn nghiện chơi ma túy chung chỉ cho L1 biết và L1 đã mua ma túy (loại ma túy đá) của T để sử dụng được 03 lần:

  • Lần thứ nhất: Lộc mua ma túy của T là vào khoảng tháng 5/2023, L1 đi đến đoạn đường đal (qua khỏi cậu Từ Tải, ở phía bên trái theo hướng từ phường C đi xã M) gặp T mua 25 số ma túy đá (mỗi số tương đương với 01 tép ma túy nhỏ) với số tiền là 1.300.000 đồng, nhưng do L1 mua số lượng nhiều nên T không có phân ra từng tép mà để chung trong bịch nilong nẹp miệng được gói lại bằng mảnh giấy trắng, cột dây thun màu vàng đưa cho L1.
  • Lần thứ hai: L1 mua ma túy của T là cách lần thứ nhất khoảng 01 tuần, L1 mua túy của T với số lượng vẫn là 25 số với số tiền là 1.300.000 đồng.
  • Lần thứ ba: L1 mua ma túy của T cách lần thứ hai khoảng 01 tuần, L1 mua túy của T cũng với số lượng là 25 số với số tiền là 1.300.000 đồng.

Cách thức những lần T giao ma túy cho L1 đều giống nhau, ma túy T bán đều được để trong bọc ni long nẹp miệng nhỏ, được gói trong mảnh giấy trắng, cột dây thun màu vàng (dài khoảng 01 ngón tay trỏ, độ rộng khoảng 02 ngón tay). Những lần L1 mua ma túy của T để sử dụng thì L1 không rõ số lượng ma túy mà L1 mua có trọng lượng là bao nhiêu và số lượng ma túy mà L1 mua của T thì L1 đã sử dụng.

Trong 03 lần L1 mua ma túy của T để sử dụng thì có lần thứ hai do L1 chở vợ là Mai Quỳnh N đi mua đồ rồi sẵn gặp T nên hỏi mua ma túy. Khi L1 gặp T hỏi mua 25 số nên Như hỏi L1 thì Như mới biết L1 mua ma túy của T và Như thấy L1 có đưa tiền cho T nhưng không rõ là đưa bao nhiêu.

Sau khi L1 mua ma túy của T sử dụng lần thứ ba thì vài ngày sau (L1 không nhớ chính xác là khi nào) thì L1 nghe tin Công an bắt T tại cầu T (trên Đường C) thị xã B, qua ngày hôm sau thì T được thả. Sau đó, T bị Công an khám xét nhà và T bị bắt giam lại. Trước khi mua ma túy của T sử dụng thì L1 mua ma túy của 01 người nam thanh niên khoảng 40 tuổi (không rõ họ, tên và địa chỉ) ở khu vực gần cầu T (thuộc phường T, thị xã B) để sử dụng. Từ khi biết T bị bắt lần đầu tại cầu T thì L1 mua ma túy của 01 người nam thanh niên khoảng 40 tuổi ở vực gần cầu T để sử dụng. Lần gần nhất L1 mua ma túy của người nam thanh niên này để sử dụng cách ngày Cơ quan điều tra làm việc với L1 vào ngày 10/10/2023 là khoảng 04 ngày.

- Qua điều tra Mai Quỳnh N khai: Vào khoảng cuối tháng 5/2023 (Như không nhớ thời gian chính xác), lúc L1 chở N đi mua đồ, lúc đi vào đường đal thuộc ấp M, xã M (đường đal đầu tiên nằm bên trái theo hướng cầu T đường C đi xã M) thì L1 gặp T nhà ở khóm Đ, phường Đ, thị xã B rồi dừng xe hỏi mua 25 số, Như biết L1 mua ma túy của T nhưng không biết 25 số là bao nhiêu. T đưa 01 bịch gói trong giấy trắng và L1 đưa tiền cho T nhưng N không biết chính xác là bao nhiêu.

- Đối với Phan Ngọc T2 khai nhận: T2 bị nghiện ma túy (loại ma túy đá) được khoảng 05 năm. Vào khoảng đầu tháng 5/2023, T2 chơi lắc bầu cua tại khu vực đường lộ cũ (gần ngã tư G giữa đường P và đường C thuộc phường C, thị xã B) thì T2 có gặp Đặng Văn T chơi lắc bầu cua. Thế hỏi thăm Tiền thì T2 biết T có bán ma túy nên T2 xin số điện thoại của T để liên hệ mua ma túy. Cách thức Thể mua ma túy của T là T2 gọi điện thoại cho T trước (T2 sử dụng số điện thoại: 0333.611.xxx, T sử dụng số điện thoại 0939.390.xxx), hỏi T có ma túy đá không, nếu có ma túy thì T2 mua. Khi có ma túy giao thì T sẽ điện thoại cho T2 ra dưới gầm cầu T (thuộc tổ I, ấp M, xã M, thị xã B để nhận ma túy và đưa tiền cho T. T4 đã mua ma túy (loại ma túy đá) của T để sử dụng 04 lần:

  • Lần thứ nhất: Thể hỏi mua ma túy của T là khoảng giữa tháng 5/2023, T2 mua với số lượng là 25 số (mỗi số tương đương với 01 tép ma túy nhỏ) với số tiền là 1.300.000 đồng, nhưng do T2 mua số lượng nhiều nên T không có phân ra từng tép nhỏ mà để chung trong bịch nilong nẹp miệng được quấn bịch nilong màu đen bên ngoài, có cột dây thun màu vàng đưa cho T2.
  • Lân thứ hai: Cách lần thứ nhất là 02 ngày, vào buổi sáng T2 gặp T ở ngoài đường (không nhớ đường nào) nên T2 hỏi T mua ma túy. Đến tối cùng ngày, T gọi điện thoại cho T2 rồi T2 đến điểm hẹn gặp T mua 25 số ma túy với số tiền 1.300.000 đồng.
  • Lần thứ ba: Cách lần thứ hai khoảng 05 ngày, T gọi điện thoại cho T2 hỏi mua ma túy không thì T2 đồng ý mua nên khi T đến điểm hẹn thì T gọi cho T2 đến lấy ma túy với số lượng là 25 số, với số tiền là 1.300.000 đồng.
  • Lần thứ tư: Là vào buổi sáng ngày 15/6/2023, T2 có gọi điện thoại cho T đặt mua 25 số loại ma túy đá với số tiền là 1.300.000 đồng để sử dụng. Sau đó, T2 đợi T gọi điện thoại ra để lấy ma túy nhưng không thấy T gọi, T2 gọi điện thoại lại cho T nhưng cũng không gọi được nên T2 đến điểm hẹn tại khu vực cầu T thì T2 biết T bị Công an bắt.

Tất cả những lần T2 liên hệ với T để mua ma túy thì T2 đều sử dụng số điện thoại: 0333.611.xxx của T2 để liên lạc với T qua số điện thoại: 0939.390.xxx. Trong 03 lần Thể mua ma túy của T để sử dụng thì ma túy T2 mua của T đều được chứa trong bịch nilong nẹp miệng nhỏ (dài khoảng 01 ngón tay trỏ, độ rộng khoảng độ rộng của 02 ngón tay khép lại nhau) và đều được gói trong bịch nilong màu đen, cột dây thun màu vàng. Thể không rõ số lượng ma túy từng lần mua của T có khối lượng là bao nhiêu và số lượng ma túy mà T2 mua của T thì T2 đã sử dụng hết. Riêng ngày 15/6/2023, T2 có liên hệ với T để mua ma túy sử dụng nhưng T2 chưa nhận được ma túy và T2 cũng chưa có đưa tiền mua ma túy cho T thì T bị Công an bắt.

Sau khi biết T bị bắt thì T2 tìm mua ma túy của 01 người nam thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) ở khu vực gần câu T, thuộc phường T, thị xã B để sử dụng. Lần gần nhất Thể mua ma túy của người thanh niên này để sử dụng cách ngày Cơ quan điều tra làm việc với Thể vào ngày 10/10/2023 là khoảng 03 ngày.

Cơ quan điều tra tiến hành cho L1 và T2 nhận dạng qua ảnh thì L1 và Thể xác định bị cáo Đặng Văn T là người đã bán ma túy cho L1 và T2 để sử dụng.

  • Căn cứ vào giấy xác nhận của Trung tâm V tại thị xã B thì Phan Ngọc T2 là chính chủ của số điện thoại: 0333.611.xxx.
  • Qua kết quả dữ liệu thông tin số điện thoại 0939.390.xxx do Công ty D khu vực 9 – Chi nhánh Tổng công ty V1 cung cấp như sau:
  • Số điện thoại 0939.390.xxx do Đặng Văn T là người đứng tên đăng ký.
  • Ngày 15/6/2023, thời gian vào lúc 09 giờ 10 phút 49 giây có số điện thoại 0333.611.xxx gọi đến số điện thoại của Đặng Văn T với thời lượng là 13 giây.
  • Ngày 13/6/2023, thời gian vào lúc 14 giờ 22 phút 34 giây, số điện thoại 0939.390.xxx của T có gọi vào số điện thoại 0333.611.xxx của Thể với thời lượng là 14 giây; thời gian vào lúc 14 giờ 20 phút số điện thoại 0939.390.xxx của T có gọi vào số điện thoại 0333.611.xxx của Thể với thời lượng là 00 giây; thời gian vào lúc 13 giờ 57 phút 36 giây, số điện thoại 0939.390.xxx của T có gọi vào số điện thoại 0333.611.xxx của Thể với thời lượng là 25 giây;
  • Ngày 01/6/2023, thời gian 20 giờ 22 phút 58 giây, số điện thoại 0939.390.xxx của T có gọi vào số điện thoại 0333.611.xxx của Thể với thời lượng là 00 giây.

Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 51/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án 09 (chín) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt ngày 07/8/2023, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ trước 01 ngày (ngày 15/6/2023).

Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên quyết định về xử lý vật chứng, quyết định trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024, bị cáo Đặng Văn T có đơn kháng cáo với nội dung: Bị cáo kêu oan, và không thừa nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giải oan cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng trình bày như sau:

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đặng Văn T không thừa nhận thực hiện hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng tại phiên tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh đã áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là không oan. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số số 51/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án 09 (chín) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt ngày 07/8/2023, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ trước 01 ngày (ngày 15/6/2023). Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Án phí phúc thẩm: Bị cáo Đặng Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Đặng Văn T trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm tuyên bị cáo không phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy”.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Phan Ngọc T2 trình bày: Cách thức Thể mua ma túy của bị cáo T là T2 gọi điện thoại cho bị cáo T trước (Thể sử dụng số điện thoại: 0333.611.xxx, bị cáo T sử dụng số điện thoại 0939.390.xxx), hỏi bị cáo T có ma túy đá không, nếu có ma túy thì T2 mua. Khi có ma túy giao thì bị cáo T sẽ điện thoại cho T2 ra dưới gầm cầu T (thuộc tổ 1, ấp M, xã M, thị xã B để nhận ma túy và đưa tiền cho bị cáo T. T2 đã mua ma túy (loại ma túy đá) của bị cáo T để sử dụng 03 đến 04 lần. Tất cả những lần T2 liên hệ với bị cáo để mua ma túy thì T2 đều sử dụng số điện thoại: 0333.611.xxx của Thể để liên lạc với bị cáo qua số điện thoại: 0939.390.xxx. Thể mua của bị cáo T thì T2 đã sử dụng hết. Riêng ngày 15/6/2023, T2 có liên hệ với bị cáo T để mua ma túy sử dụng nhưng T2 chưa nhận được ma túy và T2 cũng chưa có đưa tiền mua ma túy cho bị cáo T thì bị cáo bị Công an bắt.

Người làm chứng anh Nguyễn Minh C và anh Trương Phước A trình bày: Ngày 15/6/2023 bị cáo Đặng Văn T có dấu hiệu nghị vấn nên khi lực lượng Công an của Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B kết hợp Công an xã M, thị xã B yêu cầu T dừng xe lại để kiểm tra thì phát hiện bị cáo Đặng Văn T thả từ trong lòng bàn tay trái xuống đường một vật được quấn bọc nilong màu đen bên ngoài, có cột sợi dây thun ở giữa màu vàng ở giữa, rồi bị cáo T điều khiển cho xe đi thêm một đoạn khoảng 50 mét mới dừng xe lại để lực lượng công an kiểm tra. Sau khi lực lượng Công an tiến hành kiểm tra bị cáo T thì nghi đồ vật phía trong bọc nilong màu đen mà bị cáo T vừa ném xuống đường là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng và đồ vật.

Người làm chứng anh Đỗ Minh H trình bày: Có ký tên của người chứng kiến trong túi niêm phong ký hiệu NS3.

Lời nói sau cùng của bị cáo T: Xin Hội đồng xét xử xem xét lại vụ án cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T trong thời hạn luật định và hợp lệ, nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Trần Bá L1 và người làm chứng chị Mai Như Q, anh Đinh Văn L2, anh Lê Nhật L3 vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Ngân hàng K – Chi nhánh thị xã B, tỉnh Vĩnh Long có đơn xin xét xử văng mặt, nhưng trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, nên việc vắng mặt này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 351 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và phiên tòa phúc thẩm bị cáo Đặng Văn T đều không thừa nhận hành vi phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người làm chứng thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm.

Xét, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đặng Văn T khai bị cáo không cầm giữ hay đụng vào vật thu giữ, niêm phong và giám định nhưng căn cứ tại kết luận giám định số 4109/KL-KTHS ngày 26/6/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận “Trên mẫu vật giám định có chứa tế bào người, của một nam giới. Kiểu gen của nam giới này trùng với kiểu gan của Đặng Văn T”. Kết luận giám định số 4109/KL-KTHS ngày 26/6/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với lời khai của những người làm chứng gồm: anh Trương Phước A, anh Nguyễn Minh C và anh Đinh Văn L2. Do đó, có căn cứ kết luận: Vào lúc 09 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, Đội Cảnh sát ĐTTP về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã B kết hợp Công an xã M, thị xã B làm nhiệm vụ tuần tra đến khu vực thuộc tổ I, ấp M, xã M, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long thì phát hiện Đặng Văn T đang điều khiển xe môtô biển số 64H1 - 345.38 theo hướng từ xã M về phường C, thị xã B có biểu hiện nghi vấn tàng trái phép chất ma túy. Lực lượng Công an yêu cầu T dừng xe để kiểm tra nhưng T không dừng lại, khi thấy lực lượng Công an thì T thả từ trong lòng bàn tay trái xuống đường một vật bên ngoài được quấn lại bằng bịch nilong màu đen, có cột sợi dây thun màu vàng ở giữa, rồi T điều khiển cho xe đi thêm một đoạn khoảng 50 mét mới dừng xe lại để lực lượng công an kiểm tra. Sau khi lực lượng Công an tiến hành kiểm tra T thì nghi đồ vật phía trong bọc nilong màu đen mà T

vừa ném xuống đường là ma túy nên lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng.

Theo kết luận giám định số 4065/KL-KLHS ngày 21/6/2023 của Phân viên Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận tinh thể màu trắng là ma túy, khối lượng 9,9403 gam, loại Methamphetamine;

Căn cứ vào lời khai của anh Phan Ngọc T2 có mua ma túy của bị cáo T nhiều lần, lần đầu tiên mua vào tháng 5/2023, khi mua anh có liên hệ với bị cáo T từ số điện thoại 0333.611.xxx để gọi cho bị cáo T qua số điện thoại 0939.390.xxx. Buổi sáng ngày 15/6/2023, T2 có gọi cho bị cáo T để đặt mua ma túy và hẹn gặp nhau ở cầu T để nhận ma túy là phù hợp với kết quả dữ liệu do Công ty D – Chi nhánh tổng công ty V1 cung cấp thông tin nhật ký cuộc gọi của “0939.390.096” của bị cáo. Vì vậy, có căn cứ xác định hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Đặng Văn T nhằm mục đích bán lại cho người khác. Bị cáo Đặng Văn T nhận thực và điều khiển được hành vi của mình nhưng cố tình phạm tội đối với số lượng 9,9403 gam ma túy loại Methamphetamine. Do đó, cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Đặng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm về ma túy và tệ nạn xã hội khác, gây mất trật tự trị an xã hội. Với mục đích kiếm tiền phi pháp, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật thực hiện hành vi mua bán ma túy với số lượng lớn. Cần thiết xét xử nghiêm, tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo T phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có nhân thân xấu, không thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên không được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như cấp sơ thẩm đã áp dụng là đúng. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức án 09 (chín) năm tù là tương xứ với hành vi phạm tội của bị cáo Đặng Văn T.

[4] Đối với Trần Bá L1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và kết quả xét nghiệm của L1 là dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine nên Công an thị xã B đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với L1 xong.

Đối với Phan Ngọc T2 có hành vi mua ma túy của T để sử dụng nhưng T2 không biết số tiền 1.300.000 đồng mà T2 thỏa thuận mua ma túy với T vào ngày

15/6/2023 thì sẽ mua được ma túy với khối lượng ma túy cụ thể là bao nhiêu. Thể cũng không rõ số lượng ma túy từng lần mua của T trước đó để sử dụng có khối lượng là bao nhiêu và ma túy mà T2 mua của T thì T2 đã sử dụng hết. Bản thân Thể vào ngày 15/6/2023 cũng chưa nhận được ma túy của T và chưa đưa tiền cho T. Do T2 chưa có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên không đủ cơ sở để xử lý T2 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, do T2 khai có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và kết quả xét nghiệm của T2 là dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine nên Công an thị xã B đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với T2 xong.

Đối với người nam thanh niên bán ma túy cho L1 và T2: Do L1 và T2 không biết rõ họ tên và địa chỉ cụ thể của người này ở đâu nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được, khi nào làm rõ sẽ xử lý.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T.

[5] Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp, nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đặng Văn T phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Đặng Văn T; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 09 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.

Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn T mức án 09 (chín) năm tù, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt ngày 07/8/2023, nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ trước 01 ngày (ngày 15/6/2023).

2. Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

3. Án phí phúc thẩm: Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TANDTC: 01;
  • - TANDCC: 01;
  • - VKSNDCC: 01;
  • - VKSND TVL: 01;
  • - TAND +VKSND TXBM: 02;
  • - CQTHADS TXBM: 01;
  • - CQTHAHS TXBM: 01;
  • - TG, BC: 02;
  • - P HỒ SƠ-CAVL: 01;
  • - STP: 01;
  • - UBND phường Đông Bình: 01;
  • - TNV+P KTNV: 02;
  • - Lưu: 02.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phước Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HS-PT ngày 15/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về hình sự phúc thẩm (về tội mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 65/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (về tội Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Đặng Văn T phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger