TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/6/2024 “V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Ngân
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể
Ông Bùi Văn Hồng
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 69/2024/TLST - HNGĐ, ngày 22/4/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 63/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 05/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị T, sinh năm 1991
- HKTT: TDP A, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh
- Chỗ ở hiện nay: Thôn H, xã X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn xin xét xử vắng mặt
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1984
- HKTT: TDP A, thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại Nhật Bản, có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung :
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị T và anh Nguyễn Văn T1 đăng ký kết hôn ngày 23/02/2010 tại UBND thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.
Theo chị Hồ Thị T trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được 2 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm mâu thuẫn về kinh thế nên vợ chồng bất hòa. Giữa năm 2012 chị T đưa con về nhà ngoại sống, sau đó vợ chồng về chung sống, năm 2014 anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Anh T1 không gửi tiền về cho vợ con, vợ chồng lại mâu thuẫn. Năm 2016 chị T đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan, vợ chồng không sống chung với nhau. Sau khi chị T sang Đài Loan được 01 tháng thì anh T1 bị trục xuất về nước, năm 2022 anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Vợ chồng sống ly thân nhiều năm, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau, không còn tình cảm nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
Tại biên bản ghi lời trình bày của anh Nguyễn Văn T1 ngày 09/5/2024 (có sự chứng kiến của chị Nguyễn Thị Thúy Q- Là chị gái anh T1), theo anh T1 trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2022 anh T1 đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, vợ chồng sống xa nhau và phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau. Chị T làm đơn ly hôn, anh T1 đồng ý ly hôn với chị T.
- Về con chung: Vợ chồng có 2 con chung là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 03/10/2011 và Nguyễn Thiện Â, sinh ngày 02/4/2014. Chị T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Nguyễn Thiện Â. Giao con chung Nguyễn Tiến D cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về tiền cấp dưỡng nuôi con không ai phải thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung cho ai. Anh T1 đồng ý kiến chị T, đề nghị Tòa án giao con chung Nguyễn Tiến D cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con chung Nguyễn Thiện A cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị T, anh T1 không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83,123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đoạn 2 điểm b tiểu mục 2.1, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị T, cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1; về con chung: Giao con chung Nguyễn Thiện  cho chị Hồ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Tiến D cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp nuôi dưỡng, trong thời gian anh T1 chưa về nước, giao chị T chăm sóc nuôi dưỡng cháu D thay anh T1. Không ai phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; Về án phí buộc chị T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- [1.1] Tại công văn số 429/QLXNC-P3, ngày 07/5/2024 của Phòng Q1 Công an tỉnh H về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Văn T1 đã xuất cảnh ngày 23/5/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo thông tin người nhà anh T1 cho biết hiện tại anh đang lao động tại Nhật Bản. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh T1 đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
- [1.2] Theo Công văn số 253/TANDTC-PC, ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh anh Nguyễn Văn T1 qua chị Nguyễn Thị Thúy Q, là chị gái anh T1. Chị Q cho biết hiện tại anh T1 lao động tại nước Nhật Bản, còn địa chỉ cụ thể chị không biết, vì anh T1 không nói cho gia đình biết. Anh T1 điện thoại có hình ảnh, có sự chứng kiến của Q, Toà án đã ghi lại tại biên bản ngày 09/5/2024, anh T1 cho biết hiện tại anh đang lao động tại nước N, anh T1 không cung cấp địa chỉ hiện nay của anh cho Tòa án, anh T1 không yêu cầu Tòa án tống đạt văn bản trực tiếp cho anh và đề nghị Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho anh thông qua bà Lê Thị M, ông Nguyễn Văn V là bố, mẹ đẻ của anh. Anh T1 không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Chị T có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt anh T1, chị T theo quy định tại Điều 238, 477 BLTTDS.
- Về nội dung:
- [2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị T và anh Nguyễn Văn T1 đăng ký kết hôn ngày ngày 23/02/2010 tại UBND thị trấn X, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị T, anh T1 đều thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị T, anh T1 không còn tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm nhau, vợ chồng sống ly thân nhau nhiều năm. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị T, xử cho chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1.
- [2.2] Quan hệ con chung: Vợ chồng có 2 con chung là Nguyễn Tiến D, sinh ngày 03/10/2011 và Nguyễn Thiện Â, sinh ngày 02/4/2014. Xét thấy, chị T, anh T1 đều có nguyện vọng được nuôi con chung. Chị T, anh T1 đều có thu nhập ổn định đảm bảo cuộc sống của con. Mặc dù các con có nguyện vọng được ở với mẹ là chị T. Tuy nhiên, để đảm bảo cuộc sống cho các con cũng như kinh tế của chị T, anh T1 trong việc nuôi dưỡng con chung, nên chấp nhận sự thỏa thuận chị T, anh T1. Căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao chon chung Nguyễn Thiện  cho chị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao con chung Nguyễn Tiến D cho anh T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong thời gian anh T1 ở nước ngoài chị T tự nguyên nuôi cháu D Thay anh T1. Anh thuật, chị T không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh T1, chị T có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.
- [2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Hồ Thị T và anh Nguyễn Văn T1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.
- [2.4] Về án phí: Chị Hồ Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83,123, 127 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 28, 37, 227, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án Ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn T1
- Về con chung: Giao con chung Nguyễn Tiến D, sinh ngày 03/10/2011 cho anh Nguyễn Văn T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Giao con chung Nguyễn Thiện Â, sinh ngày 02/4/2014 cho chị Hồ Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị T, anh T1 không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau. Anh T1, chị T có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.
- Về án phí: Buộc chị Hồ Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000848 ngày 17/4/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Hồ Thị T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn anh Nguyễn Văn T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Hội thẩm nhân dân | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
| Bùi Văn Hồng Nguyễn Tất T2 | Nguyễn Hà N |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Hà Ngân |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn có yếu tố nước ngoài
