TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 65/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 18/6/2024.
V/v “Tranh chấp hôn nhân
và gia đình”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Tới
Ông Lê Như Hạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Mai Hồng Minh - Thư ký TAND tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thanh Tâm - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 19/2024/TLST-HNGĐ ngày 30/01/2024 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 55/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/5/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D; Sinh ngày: 10/11/1991
Nơi ĐKHKTT: Phố Thắng, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Bá Q; Sinh ngày 18/08/1988;
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: Phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở hiện nay: Nước Lào
Tại phiên tòa anh Q và chị D đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị D trình bày:
Về hôn nhân: Tôi và anh Nguyễn Bá Q tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/07/2009, số 54, quyển số 01/2009 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Ba tháng đầu sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống với nhau rất hạnh phúc nhưng càng về sau càng nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do bất đồng về quan điểm sống và cách nhìn nhận cuộc sống của hai bên không phù hợp với nhau. Không thể sống cuộc sống như vậy nên tháng 04/2010 tôi đã ly thân, bế con về nhà mẹ đẻ sinh sống tại Phố H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Kể từ khi ly thân, chúng tôi không còn quan tâm đến nhau cũng như không còn nói chuyện với nhau nhiều nữa và cũng không còn giữ liên lạc. Đến tháng 03/2023, anh Q xuất khẩu lao động sang Lào làm việc. Mặc dù hai bên đã rất cố gắng để hòa giải và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hai gia đình cũng nhiều lần can thiệp nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, để cả hai được tự do có cuộc sống mới nên tôi làm đơn này yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Bá Q.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08/01/2010. Hiện nay, cháu Kim N đang ở cùng với D từ nhỏ. Khi ly hôn chị đề nghị giao cháu Kim N cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị không yêu cầu bố là ông Nguyễn Bá Q cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và nợ chung nên chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị D trình bày không biết địa chỉ cụ thể của anh Q tại nước Lào nên không thể cung cấp cho Tòa án.
Tại biên bản tự khai của anh Nguyễn Bá Q đề ngày 06/02/ 2024 và ngày 25/5/2024 anh Q trình bày như sau:
Ngày 05/02/2024, anh có về Việt Nam để ăn Tết Nguyên đán và thăm gia đình. Thông qua chị D thì anh biết được rằng: Ngày 19/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra Thông báo nộp tiền tạm ứng án phí số 17/2024/TB-TLVA vụ án ly hôn của gia đình. Sau đó, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra Thông báo thụ lý vụ án ly hôn giữa anh và bà Nguyễn Thị D. Vì vậy, anh làm các bản tự khai, trình bày ý kiến với Tòa án như sau:
Về hôn nhân: Anh Q và chị Nguyễn Thị D tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 03/07/2009, số 54, quyển số 01/2009 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng anh Q trình bày như chị D. Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Q đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị D được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08/01/2010. Hiện nay, cháu Kim N đang ở cùng với chị D từ nhỏ. Khi ly hôn anh Q đồng ý giao cháu Kim N cho chị D được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Q không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản và công nợ chung: Anh Q thống nhất vợ chồng không có tài sản và nợ chung nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Hiện nay anh Q đang đi lao động ở bên nước Lào không có địa chỉ chính xác thỉnh thoảng anh lại về Việt Nam nên không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án. Anh đã nhận đầy đủ giấy tờ tố tụng của Tòa án và xin xét xử vắng mặt.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 51, 56, 57,80, 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, 37 BLTTDS và công văn 253 ngày 26/11/2018 của TAND tối cao. Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D, xử cho chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Bá Q; Giao cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08/01/2010 cho chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản và công nợ chung: Chị D và anh Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
- Về thẩm quyền: Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn trình bày hiện tại bị đơn anh Nguyễn Bá Q đang sinh sống và làm việc tại N Lào. Tại công văn số: 539/QLXNC-P3 ngày 05/01/2024 của Cục Q1 - Bộ C cung cấp thông tin cho Tòa án xác định anh Nguyễn Bá Q, sinh ngày 18/8/1988 đã xuất cảnh ngày 09/8/2023. Do trong vụ án này có bị đơn cư trú ở nước ngoài, tuy nhiên có nói cư trú cuối cùng tại phố T, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:
Chị Nguyễn Thị D chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Bá Q ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của anh Q ở tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu anh Q cung cấp địa chỉ bên nước Lào nhưng anh Q vẫn không cho biết địa chỉ mà chỉ cho biết địa chỉ ở Việt Nam, Tuy nhiên anh đã trực tiếp nhận các văn bản tố tụng của Tòa án tống đạt vì vậy Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn có tình giấu địa chỉ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Nguyễn Thị D và bị đơn anh Nguyễn Bá Q đều có đơn xin xét xử vắng mặt; Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt anh Nguyễn Bá Q và chị Nguyễn Thị D.
[2]. Xét nội dung khởi kiện của chị Nguyễn Thị D:
[2.1]. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Bá Q và chị Nguyễn Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có Giấy đăng ký kết hôn ngày 03/07/2009, số 54, quyển số 01/2009 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp, là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn đến tháng 04 năm 2010 thì mâu thuẫn trầm trọng nguyên nhân bất đồng quan điểm trong cuộc sống, thường xuyên cãi nhau, không quan tâm nhau, không còn tình cảm và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị D thấy tình cảm vợ chồng đã hết đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xin được ly hôn với anh Q để sớm ổn định cuộc sống.
Xét thấy, cuộc sống chung của anh Q và chị D không còn tồn tại, mục đích hôn nhân là cùng tạo lập, xây dựng cuộc sống chung không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị D và cũng là yêu cầu của anh Nguyễn Bá Q, cho chị D được ly hôn với anh Nguyễn Bá Q là phù hợp.
[2.2]. Về con chung: Anh Nguyễn Bá Q và chị Nguyễn Thị D có một con chung là cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08/01/2010. Nguyện vọng của chị D là trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Kim N, chị D không yêu cầu anh Q cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Xét thấy hiện tại anh Q đang làm việc tại N Lào, không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Kim N được, anh Q cũng đồng ý giao cháu Kim N cho mẹ cháu là chị D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, đây cũng là nguyện vọng của cháu Kim N. Nên giao cháu Kim N cho chị D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận sự tự nguyện của chị D về việc không yêu cầu anh Q phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng chị. Tuy nhiên, quá trình nuôi dưỡng con chung, để bảo đảm cuộc sống cho cháu, khi cần thiết chị D có quyền khởi kiện yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3]. Về tài sản chung và công nợ: Chị D và anh Q đều không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xét.
[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị D là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị D phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, được trừ vào tiền tạm ứng án phí mà anh Nguyễn Ngọc T đã nộp thay cho chị Nguyễn Thị D.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 51, Điều 56, Điều 80, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 4 Điều 147, Điều 238, Điều 266; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị D.
- - Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị D được ly hôn với anh Nguyễn Bá Q.
- - Về con chung: Giao con chung của vợ chồng là cháu Nguyễn Thị Kim N, sinh ngày 08/01/2010 cho mẹ đẻ là chị Nguyễn Thị D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.
- Anh Nguyễn Bá Q không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Q có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Trường hợp có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì thực hiện theo quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- - Về tài sản và công nợ chung: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Bá Q không yêu cầu giải quyết tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị D phải chịu 300.000đ án phí sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí mà anh Nguyễn Ngọc T đã nộp thay cho chị Nguyễn Thị D tại Biên lai thu số: 0000107 ngày 25/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Bá Q có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đại Long |
Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hông và con cái
