Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 65/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 04/01/2024

V/v: Tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hòa

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Giang

Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 2267/2023/TLST-HNGĐ ngày 05/10/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7944/2023/QĐXX-DS ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Phước K, sinh năm: 1992;

Địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ liên hệ: Số B Đường số A, Khu phố B, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Anh Nguyễn Phước K vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu E, sinh năm: 1996;

Địa chỉ thường trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Địa chỉ liên hệ: Số B Đường số A, Khu phố B, phường L, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Chị Nguyễn Thị Thu E vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các biên bản làm việc khác có trong hồ sơ, nguyên đơn anh Nguyễn Phước K trình bày:

Anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E chung sống với nhau tự nguyện vào năm 2016, có đăng ký kết hôn số 23 ngày 15/4/2016 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc được 4 năm đầu, từ năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên gây gổ, cãi vã. Từ năm 2022 đến nay chị Nguyễn Thị Thu E tự ý bỏ ra ngoài ở và hai vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Trong khoảng thời gian sống ly thân cả hai cũng không có biện pháp nào để hàn gắn, mâu thuẫn không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng. Anh nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân và tạo lập gia đình đã không còn ý nghĩa. Vì vậy, anh xin được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu E để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E có một con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 22/11/2016. Trong suốt quá trình vợ chồng sống ly thân và tới hiện tại con vẫn do anh Nguyễn Phước K trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Phước K yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Đăng K1 và không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu E cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh Nguyễn Phước K khai nhận anh và chị Nguyễn Thị Thu E không có tài sản chung.

- Nợ chung: Anh Nguyễn Phước K khai nhận anh và chị Nguyễn Thị Thu E không có nợ chung.

Tại phiên tòa, anh Nguyễn Phước K có đơn xin vắng mặt.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thu E vắng mặt tại phiên tòa, tuy nhiên chị Nguyễn Thị Thu E có ý kiến trình bày trong bản tự khai có nội dung sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu E và anh Nguyễn Phước K chúng sống với nhau từ năm 2016, do tự nguyện, có đăng ký kết hôn số 23 ngày 15/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp.

Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Thu E và anh Nguyễn Phước K thường xuyên gây gổ cãi vã, bất đồng quan điểm sống. Từ năm 2022 đến nay hai bên đã tự sống ly thân. Trong khoảng thời gian sống ly thân cả hai cũng không có biện pháp nào để hàn gắn, mâu thuẫn không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng. Nay chị Nguyễn Thị Thu E yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết cho chị và anh Nguyễn Phước K được ly hôn để cả hai ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Chị Nguyễn Thị Thu E và anh Nguyễn Phước K có một con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 22/11/2016. Hiện tại anh Nguyễn Phước K đang trực tiếp nuôi con. Ly hôn chị Nguyễn Thị Thu E đồng ý giao cho anh Nguyễn Phước K trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Đăng K1, chị sẽ cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của mình.

- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Thu E xác nhận không có.

- Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thu E xác nhận không có.

Tại phiên tòa, Chị Nguyễn Thị Thu E có đơn xin vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thẩm quyền: Anh Nguyễn Phước K xin ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu E, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Thời điểm tòa án thụ lý vụ án chị Nguyễn Thị Thu E đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn anh Nguyễn Phước K và bị đơn chị Nguyễn Thị Thu E cùng vắng mặt nhưng cùng có đơn xin vắng mặt. Theo quy định tại Khoản 1, Đ b Khoản 2 Điều 227; điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo thủ tục chung.

- Về nội dung tranh chấp:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 23 ngày 15/4/2016 do Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp thì hôn nhân giữa anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E được pháp luật công nhận là hợp pháp.

Anh Nguyễn Phước K yêu cầu ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu E do nhận thấy quan hệ hôn nhân thực tế đã không còn tồn tại, hai bên đã tự sống ly thân từ năm 2022 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tại bản tự khai và các biên bản làm việc khác có trong hồ sơ thì cả anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E cùng thừa nhận hai bên thường hay bất đồng quan điểm sống, không tin tưởng nhau, dẫn đến gây gổ, cãi vã, xúc phạm nhau; đã tự sống ly thân từ năm 2022 nhưng không bên nào tìm được hướng hàn gắn lại; Anh Nguyễn Phước K cương quyết xin ly hôn, chị Nguyễn Thị Thu E đồng ý cùng yêu cầu tòa án giải quyết cho chị và anh K ly hôn tuy nhiên do công việc bận chị Nguyễn Thị Thu E không đến tòa án để ký biên bản thuận tình ly hôn được, chị Nguyễn Thị Thu E yêu cầu tòa án xét xử theo quy định của pháp luật. Qua đó thấy rằng mâu thuẫn giữa anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E là có thật.

Anh Nguyễn Phước K thật sự muốn ly hôn nên không tìm hướng hàn gắn, chị Nguyễn Thị Thu E cũng đồng ý yêu cầu tòa án giải quyết cho ly hôn qua đó thấy rằng tình cảm của anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E đã không còn để vì nhau xây dựng cuộc sống chung.

Xét mâu thuẫn gia đình giữa anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của anh Nguyễn Phước K có cơ sở để chấp nhận.

- Về con chung: Quá trình chung sống anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E có một con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 22/11/2016. Anh

Nguyễn Phước K yêu cầu được nuôi con chung Nguyễn Đăng K1 và không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu E cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét thấy: Quá trình giải quyết vụ án cả anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E đều xác nhận anh Nguyễn Phước K đang là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Sau khi ly hôn chị Nguyễn Thị Thu E đồng ý giao con chung cho anh Nguyễn Phước K tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng do vậy để đảm bảo cho trẻ K1 có cuộc sống ổn định, không bị sáo trộn môi trường sống, môi trường học tập và ổn định tâm lý thì đề nghị được nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Đăng K1 của anh K là phù hợp cần được xem xét chấp nhận.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, anh Nguyễn Phước K không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu E phải cấp dưỡng nuôi con. Đây là sự tự nguyện của anh K, không trái pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E cùng xác nhận anh và chị xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E cùng xác nhận anh và chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Phước K có yêu cầu ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 9; Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 57 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểu 186; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Phước K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu E.

Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 22/11/2016 cho anh Nguyễn Phước K là người trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Nguyễn Phước K về việc không yêu cầu chị Nguyễn Thị Thu E phải cấp dưỡng nuôi con.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền đến thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E cùng xác nhận anh và chị xin tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E cùng xác nhận anh và chị không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), anh Nguyễn Phước K phải chịu nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Nguyễn Phước K đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền số AA/2023/0004971 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh lập ngày 22/9/2023. Anh Nguyễn Phước K đã nộp đủ tiền án phí.

3. Quyền kháng cáo:

Anh Nguyễn Phước K và chị Nguyễn Thị Thu E được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKSND T.p Thủ Đức;
  • - THA DS T.p Thủ Đức;
  • - TAND T.p Hồ Chí Minh;
  • - Cơ quan đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 65/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Phước K được ly hôn với chị Nguyễn Thị Thu E
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger