Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 65/2024/DS-ST

Ngày 14 - 8 - 2024

V/v "Tranh chấp về thừa kế

và hủy quyết định cá biệt”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hồ Bá Võ,

Ông Mai Xuân Thường

Thư ký phiên tòa: bà Đậu Thị Bích Thủy, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 140/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2022 về việc “Tranh chấp về thừa kế và hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1959

Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt

- Bị đơn: ông Nguyễn Hữu K, sinh năm 1964

Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An
  2. Địa chỉ: khối C, thị trấn C, huyện Q, tỉnh Nghệ An

    Đại diện theo pháp luật: ông Hoàng Văn B, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An

    Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Xuân D, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).

  3. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1946
  4. Địa chỉ: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1955
  2. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

  3. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1957
  4. Địa chỉ: thôn F, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

  5. Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1966
  6. Địa chỉ: xóm B, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (các bà: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị C): ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1959 (nguyên đơn); địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

  1. Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1963
  2. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

    Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L1: ông Nguyễn Hữu K (bị đơn); có mặt.

  3. Chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1988
  4. Địa chỉ: B, FPT P, phường H, quận N, thành phố Đ; vắng mặt.

  5. Anh Nguyễn Hữu T, sinh năm 1990
  6. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

  7. Anh Nguyễn Văn C1, sinh năm 1993
  8. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

  9. Bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1963
  10. Địa chỉ: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn trình bày, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn và là người đại diện theo ủy quyền của các bà: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị C là ông Nguyễn Ngọc L, trình bày:

Bố mẹ ông Nguyễn Ngọc L là cụ Nguyễn Hữu H (sinh năm 1925, chết năm 2004), cụ Vũ Thị U (sinh năm 1926, chết năm 1995). Vợ chồng cụ H, cụ U có 06 người con chung, gồm: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Thị C, Nguyễn Ngọc L; không ai có con nuôi hoặc con riêng.

Khi còn sống, bố mẹ ông Nguyễn Ngọc L tạo lập được một thửa đất có diện tích 419m², tại thửa số 874, bản đồ 299 và một ngôi nhà ở cấp 4, công trình phụ, tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Sau khi lập gia đình, vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L và vợ chồng ông Nguyễn Hữu K (vợ ông L là bà Nguyễn Thị L2; vợ ông K là bà Nguyễn Thị L1) chung sống với bố mẹ đẻ ông L, ông K trên thửa đất này một thời gian thì Nhà nước có chủ trương cắt đất ở cho gia đình có hai con dâu trở lên, theo đó vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L được Nhà nước cắt đất phía sau,

liền kề thửa đất của bố mẹ đẻ ông L, có thu tiền sử dụng đất. Sau đó, vợ chồng ông L làm nhà, đưa bố mẹ đẻ ông L qua đó sinh sống đến khi các cụ qua đời; vợ chồng ông K tiếp tục sinh sống tại thửa đất của bố mẹ đẻ L (thửa số 874, bản đồ 299, tại thôn H, xã Q).

Năm 1995, mẹ ông Nguyễn Ngọc L qua đời, không để lại di chúc. Cụ Hàm tuổi già, sức yếu. Ông L công tác xa nhà, không nắm được chủ trương của địa phương về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông Nguyễn Hữu K đã kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 ngày 05/02/1996, diện tích 419m², tại thửa số 874, bản đồ 299, tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Anh, chị, em ông Nguyễn Ngọc L đã họp bàn nhiều lần để giải quyết mâu thuẫn nhưng không có kết quả nên ông L khởi kiện, yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế theo pháp luật đối với di sản của bố mẹ ông để lại là diện tích 419m² đất tại thửa 874, tờ bản đồ 299, tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (không yêu cầu chia di sản là nhà ở); hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 mang tên Nguyễn K, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, chị em ông L chỉ yêu cầu mở rộng ngõ đi từ đường liên thôn vào nhà ông L thêm 02 mét, song song ngõ đi vào nhà ông L hiện nay (diện tích đất này ông Nguyễn Hữu K đang sử dụng), mục đích là để mở rộng ngõ đi vào nhà ông L, nơi đang thờ tự gia tiên nhiều đời, do ông L đảm nhiệm.

Nay nếu Tòa án xét xử, phân chia thừa kế theo pháp luật, chị em ông L không yêu cầu phân chia tài sản trên đất do không còn giá trị sử dụng; chỉ yêu cầu phân chia thừa kế đối với diện tích đất tại thửa đất thửa số 874, tờ bản đồ 299, tại thôn H, xã Q, chị em ông L nhường phần lớn kỷ phần được hưởng cho ông K sử dụng, chỉ nhận 02 mét đất có chiều rộng, diện tích, kích thước như đã thể hiện tại sơ đồ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Q thẩm định, đo đạc hiện trạng, ký phê duyệt ngày 28 tháng 12 năm 2023, vì mục đích nêu trên.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị L1 - ông Nguyễn Hữu K trình bày:

Ông Nguyễn Hữu K thống nhất với ông Nguyễn Ngọc L về họ tên, năm sinh, năm chết và các con đẻ của cụ H, cụ U. Ngoài ra, theo ông K, cụ H có 01 con riêng và vợ chồng cụ H có 01 con nuôi nhưng đều đã chết trước cụ H, cụ U khi chưa có vợ con. Ông K thừa nhận bố mẹ đẻ ông K chết, không ai để lại di chúc.

Về nguồn gốc đất mà ông Nguyễn Ngọc L đang tranh chấp chia thừa kế: toàn bộ diện tích đất mà vợ chồng ông L và vợ chồng ông K đang sử dụng, là tài sản do các đời trước để lại cho vợ chồng cụ H. Ông L và ông K lấy vợ, sống chung cùng cụ H, cụ U một thời gian tại nhà, đất của các cụ tại thửa đất nêu trên - thửa 426-1, tờ bản đồ số 05, Bản đồ 299. Trước khi cụ H, cụ U qua đời, các cụ đã cho ông K toàn bộ diện tích đất của thửa đất nêu trên, gia đình ông K đã sử dụng lâu dài, ổn định, được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822, ngày cấp 05/02/1996.

Nay ông L khởi kiện cùng các chị yêu cầu như trên, ông K không chấp nhận vì toàn bộ nhà và toàn bộ diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822, ngày 05/02/1996 cũng như theo hiện trạng, đã là tài sản của ông K.

Ngoài ra, ông Nguyễn Hữu K phản tố, yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị L2 (vợ ông L), số G 527826 ngày 05/2/1996, do diện tích đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là tài sản chung của cụ H, cụ U; yêu cầu chia thừa kết theo pháp luật đối với diện tích đất tại thửa 426-2 tờ bản đồ số 05 – Bản đồ 299 và đất lối đi vào nhà ông L, bà L2 tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, hiện đều đang do vợ chồng ông L sử dụng.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L1 (vợ ông Nguyễn Hữu K) trình bày: bà L1 là vợ hợp pháp của ông Nguyễn Hữu K, có các con chung là: Nguyễn Thị P, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Văn C1. Diện tích đất mà ông Nguyễn Ngọc L yêu cầu chia thừa kế, bố mẹ đẻ ông K (cụ H, cụ U) đã tặng cho ông K nên thuộc quyền sử dụng riêng của ông K, ông K đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng G 527822 ngày 05/02/1996, bà L1 và các con bà L1 không được quyền sử dụng. Bà L1 không yêu cầu ai trích trả công sức.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Văn C1, anh Nguyễn Văn T1 trình bày: bố mẹ đẻ anh C1, anh T1 là ông K, bà L1. Các anh đang sinh sống cùng ông K, bà L1. Các anh không tôn tạo gì đối với thửa đất mà ông L đang yêu cầu chia thừa kế, nhưng có đóng góp công sức làm nên ngôi nhà ở hiện nay. Diện tích đất nêu trên, cụ H, cụ U đã tặng cho riêng ông K, nên thuộc quyền sử dụng của ông K. Anh C1, anh T1 không yêu cầu ai trích trả công sức.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị P trình bày: bố mẹ đẻ chị P là ông K, bà L1. Chị P đã lập gia đình riêng, sinh sống tại thành phố Đà Nẵng. Chị P không tôn tạo gì đối với thửa đất trên. Diện tích đất tại thửa 426-1, tờ bản đồ số 05, Bản đồ 299, cụ H, cụ U đã tặng cho ông K, nên thuộc quyền sử dụng của ông K. Chị P không yêu cầu ai trích trả công sức.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị L2 trình bày: bà L2 nhất trí toàn bộ lời khai, trình bày ở trên của chồng bà – ông Nguyễn Ngọc L; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, lý do: diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà - Nguyễn Thị L2, số G 527826 ngày 05/2/1996, là đất cấp tách hộ (đối với gia đình có từ hai dâu trở lên). Đây là tài sản chung của vợ chồng bà, không phải di sản của cụ H, cụ U.

Ông L, bà Y, bà N giữ nguyên ý kiến trình bày, yêu cầu tại phiên tòa như đã nêu ở trên; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, lý do: diện tích đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị L2, số G 527826 ngày 05/2/1996 là đất cấp tách hộ (đối với gia đình có từ hai dâu trở lên), cấp cho vợ chồng ông L, là tài sản chung của vợ chồng ông L, bà L2, không thuộc di sản của cụ H, cụ U. Ngoài ra, ông L, bà Y, bà N khẳng định bố mẹ đẻ các ông, bà không có con nuôi, không ai có con riêng.

Quá trình xét xử công khai, sau khi các đương sự trình bày ý kiến, yêu cầu, tranh tụng, đã thỏa thuận được với nhau các nội dung sau đây:

- Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng diện tích 110 m² đất tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó: diện tích đất ngõ đi ra, vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2 hiện nay là 62,4 m²; đất tiếp giáp ngõ đi nêu trên và tiếp giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hữu K là 47,6m²), được nối bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10A,10,11,1; vị trí, mốc giới theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa bằng sơ đồ kèm theo bản án; ông Nguyễn Ngọc L được sở hữu các tài sản trên đất được giao quyền sử dụng nêu trên, không phải trích trả giá trị cho ai.

- Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc L tự nguyện thống nhất, thỏa thuận như sau: ông Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng toàn bộ diện tích 110 m² đất tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó: diện tích đất ngõ đi ra, vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2 hiện nay là 62,4 m²; đất tiếp giáp ngõ đi nêu trên và tiếp giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hữu K là 47,6m 2), được nối bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10A,10,11,1; vị trí, mốc giới theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa bằng sơ đồ kèm theo bản án; ông Nguyễn Ngọc L được sở hữu các tài sản trên đất được giao quyền sử dụng nêu trên, không phải trích trả giá trị cho bà Y, bà N, bà O, bà C.

- Ông Nguyễn Hữu K được quyền sử dụng đất còn lại tại thửa 42-1, tờ bản đồ số 5 - Bản đồ 299, diện tích 355,5m², tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó, đất ở: 200m²; đất vườn: 155,5 m 2), được nối bởi các điểm: 1,11,12,13,14,15,16,17,1 theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa kèm theo bản án.

- Nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc L rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 mang tên Nguyễn K, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996.

- Bị đơn - ông Nguyễn Hữu K rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527826 mang tên Nguyễn Thị L2, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996 và về việc chia thừa theo pháp luật đối với diện tích đất tại thửa 426-2 tờ bản đồ số 05 – Bản đồ 299 và đất lối đi vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu, đề nghị:

- Chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa như trên; chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận của các bà Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, Nguyễn Thị C và ông Nguyễn Ngọc L như đã nêu ở trên; chấp nhận sự tự nguyện, rút một phần yêu cầu của nguyên đơn, rút toàn bộ yêu cầu phản tố

của bị đơn.

- Về chi phí tố tụng và án phí: đề nghị giải quyết theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Vụ án dân sự về “Tranh chấp về thừa kế và hủy quyết định cá biệt” nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Tại phiên tòa, đại diện của Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An vắng mặt, nhưng đã có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt; bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N tiếp tục ủy quyền cho ông Nguyễn Ngọc L; bà Nguyễn Thị O và bà Nguyễn Thị C vắng mặt, nhưng đã có văn bản ủy quyền hợp lệ cho ông Nguyễn Ngọc L; bà Nguyễn Thị L1 vắng mặt nhưng đã có văn bản ủy quyền hợp lệ cho ông Nguyễn Hữu K; chị Nguyễn Thị P vắng mặt nhưng đã đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt những người trên theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Ngọc L.

[2.1.1] Ông Nguyễn Ngọc L khởi kiện, yêu cầu Tòa án hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 của Ủy ban nhân dân huyện Q cấp cho ông Nguyễn Hữu K (Nguyễn Kim) ngày 05/02/1996 và phân chia di sản thừa kế là diện tích đất tại thửa đất số 426.1 tờ bản đồ số 5, Bản đồ 299, có diện tích 450m², nay là thửa số 97, tờ bản đồ số 24, diện tích 419m².

[2.1.2] Tại phiên tòa, ông Nguyễn Ngọc L rút yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 của Ủy ban nhân dân huyện Q cấp cho ông Nguyễn Hữu K (N) ngày 05/02/1996. Xét thấy: việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của của ông L như trên là tự nguyện, phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.1.3] Đối với yêu cầu chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 426.1, tờ bản đồ số 5, Bản đồ 299, thấy rằng:

- Về nguồn gốc đất: trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và xác nhận của Ủy ban nhân dân huyện Q; sau khi xem xét, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: thửa đất số 426.1, tờ bản đồ số 5 (Bản đồ 299) có diện tích 450m² (nay là thửa số 97, tờ bản đồ số 24, diện tích 419m²); diện tích đo thực tế do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023 là 403,1m², có nguồn gốc là tài sản chung của vợ chồng cụ Nguyễn Hữu H (chết năm 2004), cụ Vũ Thị U (chết năm 1995). Khi cụ U còn sống, tài sản trên chưa chuyển nhượng, tặng cho ai. Sau khi cụ U chết, cụ H vẫn sinh sống tại thửa đất này. Năm 1996, Nhà nước có chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình theo Nghị định 64 thì ông Nguyễn Hữu K kê khai và được Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 đối với thửa đất trên mang tên ông Nguyễn K (tức Nguyễn Hữu K). Vợ chồng cùng các con ông K xây dựng nhà ở, sinh sống ổn định tại thửa

đất đó, không có tranh chấp. Tuy nhiên, không có tài liệu, chứng cứ chứng minh vợ chồng ông Nguyễn Hữu K hoặc ai khác đã được tặng cho, chuyển nhượng, thừa kế diện tích đất thuộc thửa đất số 426.1, tờ bản đồ số 5 (Bản đồ 299), do đó việc ông K kê khai, Ủy ban nhân dân huyện Q cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 ngày 05/02/1996 cho ông K trong thời gian mở thừa kế đối với phần di sản của cụ Vũ Thị U là vi phạm điều cấm của pháp luật, xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của các đồng thừa kế đối với phần di sản của bà U. Do cụ Nguyễn Hữu H, cụ Vũ Thị U chết không để lại di chúc, nên diện tích đất tại thửa đất số 426.1, tờ bản đồ số 5 (Bản đồ 299) là di sản thừa kế của cụ H, cụ U, được giải quyết, phân chia theo pháp luật.

- Về thời hiệu khởi kiện về thừa kế đối với di sản của cụ Nguyễn Hữu H, cụ Vũ Thị U: cụ U chết 1995, cụ H chết năm 2004, ngày 28/9/2021 phát sinh tranh chấp yêu cầu chia di sản của các cụ nên theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự, thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản của cụ U, cụ H vẫn còn.

- Về hàng thừa kế: cụ Nguyễn Hữu H và cụ Vũ Thị U có 06 người con chung gồm các ông, bà: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Thị C. Ông K cho rằng cụ U, cụ H có con nuôi, con riêng, đã chết trước các cụ khi chưa có vợ con, nhưng chị em ông L không thừa nhận và không có cơ sở chứng minh. Do đó, theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015, những người được thừa kế di sản của cụ H, cụ U theo pháp luật là các ông, bà: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, Nguyễn Ngọc L, Nguyễn Hữu K, Nguyễn Thị C.

- Về phân chia di sản thừa kế:

[3] Tại phiên tòa, các bên đương sự tự nguyện, thỏa thuận như sau:

[3.1] Nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc L rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 mang tên Nguyễn K, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996.

[3.2] Bị đơn - ông Nguyễn Hữu K rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527826 mang tên Nguyễn Thị L2, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996 và về việc chia thừa theo pháp luật đối với diện tích đất tại thửa 426-2 tờ bản đồ số 05 – Bản đồ 299 và đất lối đi vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2.

Việc nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện; bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố như trên là tự nguyện, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng diện tích 110 m² đất tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó: diện tích đất ngõ đi ra, vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2 hiện nay là 62,4 m²; đất tiếp giáp ngõ đi nêu trên và tiếp giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hữu K là 47,6m²), được nối bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10A,10,11,1; vị trí, mốc giới theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện

ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa bằng sơ đồ kèm theo bản án; ông Nguyễn Ngọc L được sở hữu các tài sản trên đất được giao quyền sử dụng nêu trên, không phải trích trả giá trị cho ai.

[3.4] Bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc L tự nguyện thống nhất, thỏa thuận như sau: ông Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng toàn bộ diện tích 110 m² đất tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó: diện tích đất ngõ đi ra, vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2 hiện nay là 62,4 m²; đất tiếp giáp ngõ đi nêu trên và tiếp giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hữu K là 47,6m 2), được nối bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10A,10,11,1; vị trí, mốc giới theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa bằng sơ đồ kèm theo bản án; ông Nguyễn Ngọc L được sở hữu các tài sản trên đất được giao quyền sử dụng nêu trên, không phải trích trả giá trị cho bà Y, bà N, bà O, bà C.

[3.5] Ông Nguyễn Hữu K được quyền sử dụng đất còn lại tại thửa 42-1, tờ bản đồ số 5 - Bản đồ 299, diện tích 355,5m², tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó, đất ở: 200m²; đất vườn: 155,5 m²), được nối bởi các điểm: 1,11,12,13,14,15,16,17,1 theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa kèm theo bản án.

Sự thỏa thuận như trên của các đương sự là tự nguyện, không trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

[4] Về công sức

Bà Nguyễn Thị L2 (vợ ông Nguyễn Ngọc L); bà Nguyễn Thị L1 (vợ ông Nguyễn Hữu K); chị Nguyễn Thị P, anh Nguyễn Văn C1, anh Nguyễn Văn T1 (con ông K, bà L1) không ai yêu cầu ai trích trả công sức, miễn xét.

[5] Về chi phí tố tụng: ông Nguyễn Ngọc L tự chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá đã nộp là 12.500.000 đồng, không yêu cầu ai hoàn lại, miễn xét.

[6] Về án phí:

Các đồng thừa kế: bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Ngọc L, ông Nguyễn Hữu K là người cao tuổi, đã có đơn đề nghị miễn nộp tiền án phí, nên được miễn án phí theo quy định pháp luật.

Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản được hưởng theo thỏa thuận: 22 m² x 1.000.000đ/ m² x 5% là 1.980.000 đồng (một triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ các Điều: 26, 34, 37, 39, 147, 157, 165, 246 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều: 123, 650, 651, khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015;

Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án,

1.1. Đình chỉ việc giải quyết đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - ông Nguyễn Ngọc L về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527822 mang tên Nguyễn K, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996.

1.2. Đình chỉ việc giải quyết đối với toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn - ông Nguyễn Hữu K về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số G 527826 mang tên Nguyễn Thị L2, do Ủy ban nhân dân huyện Q cấp ngày 05/02/1996 và về việc chia thừa theo pháp luật đối với diện tích đất tại thửa 426-2 tờ bản đồ số 05 - Bản đồ 299 và đất lối đi vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2.

1.3. Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng diện tích 110m² đất tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó: diện tích đất ngõ đi ra, vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2 hiện nay là 62,4m²; đất tiếp giáp ngõ đi nêu trên và tiếp giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hữu K là 47,6m²), được nối bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10A,10,11,1; vị trí, mốc giới theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa bằng sơ đồ kèm theo bản án; ông Nguyễn Ngọc L được sở hữu các tài sản trên đất được giao quyền sử dụng nêu trên, không phải trích trả giá trị cho ai.

1.4. Ghi nhận sự thỏa thuận của bà Nguyễn Thị Y, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị O, bà Nguyễn Thị C, ông Nguyễn Ngọc L như sau: ông Nguyễn Ngọc L được quyền sử dụng toàn bộ diện tích 110m² đất tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó: diện tích đất ngõ đi ra, vào nhà vợ chồng ông Nguyễn Ngọc L, bà Nguyễn Thị L2 hiện nay là 62,4m²; đất tiếp giáp ngõ đi nêu trên và tiếp giáp đất còn lại của ông Nguyễn Hữu K là 47,6m 2), được nối bởi các điểm 1,2,3,4,5,6,7,8,9,10A,10,11,1; vị trí, mốc giới theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa bằng sơ đồ kèm theo bản án; ông Nguyễn Ngọc L được sở hữu các tài sản trên đất được giao quyền sử dụng nêu trên, không phải trích trả giá trị cho bà Y, bà N, bà O, bà C.

1.5. Ông Nguyễn Hữu K được quyền sử dụng đất còn lại tại thửa 42-1, tờ bản đồ số 5 - Bản đồ 299, diện tích 355,5m², tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An (trong đó, đất ở: 200m²; đất vườn: 155,5 m²), được nối bởi các điểm: 1,11,12,13,14,15,16,17,1 theo sơ đồ xem xét thẩm định đất có tại hồ sơ vụ án do Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Q thực hiện ngày 28/12/2023, được Tòa án cụ thể hóa kèm theo bản án.

1.6. Ông Nguyễn Ngọc L, ông Nguyễn Hữu K có trách nhiệm liên hệ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để thực hiện việc kê khai, đăng ký, đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án theo quy định pháp

luật về đất đai.

2. Chi phí tố tụng: ông Nguyễn Ngọc L tự chịu toàn bộ chi phí thẩm định, định giá tài sản là 12.500.000 đồng.

3. Án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho các ông, bà: Nguyễn Thị Y, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị O, ông Nguyễn Ngọc L, ông Nguyễn Hữu K. Bà Nguyễn Thị C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần di sản được hưởng theo thỏa thuận: 22 m² x 1.800.000đ/m² x 5% là 1.980.000đ (một triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

4. Các đương sự có mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt, được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc kể từ ngày niêm yết hợp lệ bản sao Bản án./.

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND tỉnh Nghệ An;

- Cục THADS tỉnh Nghệ An;

- Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Ngọc Tiếp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/DS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về thừa kế và hủy quyết định cá biệt

  • Số bản án: 65/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế và hủy quyết định cá biệt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger