Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 65/2024/DS-PT

Ngày 24 - 6 - 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Thanh Hương

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Kiều Hương

Ông Nguyễn Đức Anh

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương Ly - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 33/2025/TLPT-DS ngày 04 tháng 4 năm 2025 về việc “ Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 36/2022/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo và kháng nghị; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 102/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Bị đơn: Bà Lê Thị T1, sinh năm 1934; địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt

Đại diện theo ủy quyền: Bà Đậu Thị H, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số nhà D, đường V, khối T, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Quang H1, sinh năm 1977, vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt và ông Nguyễn Bá A, sinh năm 1994– Luật sư thuộc văn phòng L1 Nghệ An. Địa chỉ: Số D N, phường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

1

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Tô Thị L, sinh năm 1988. địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Đại diện theo ủy quyền của chị Tô Thị L: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người kháng cáo: Bà Lê Thị T1 - Bị đơn trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Ngày 07 tháng 4 năm 2022, vợ chồng anh Nguyễn Văn T được nhà nước cấp cho giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, diện tích 286,4 m², địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên Nguyễn Văn T và Tô Thị L.

Về nguồn gốc thửa đất: Vợ chồng anh T nhận chuyển nhượng thửa đất của anh Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị Bảo D, ngày 21/3/2022 vợ chồng anh T đã ký kết Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Đậu Thị H là người được anh Đ và chị D ủy quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá chuyển nhượng là 1.250.000.000 đồng. Đã trả 3 lần với số tiền 1.050.000.000 đồng. Sau đó Anh T đã trả tiếp cho anh T2 (là con bà T1) 02 lần nữa mỗi lần 40.000.000 đồng (tổng 80.000.000 đồng). Hiện nay vợ chồng anh T còn chưa thanh toán số tiền còn lại là 120.000.000 đồng.

Quá trình sử dụng thửa đất: Sau khi vợ chồng anh T được cấp bìa bà Lê Thị T1 đã cản trở không bàn giao đất cho gia đình anh T. Bà Lê Thị T1 đang sinh sống trên thửa đất của vợ chồng anh T, mặc dù anh T, chị L đã nhiều lần yêu cầu bà Lê Thị T1 trả lại đất nhưng bà T1 vẫn nhất quyết chây ỳ, không chịu di dời tới nơi khác. Sự việc tranh chấp quyền sử dụng đất này đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An hoà giải, làm việc nhiều lần nhưng kết quả không thành.

Quá trình giải quyết vụ án Anh T yêu cầu mỗi tháng bà T1 phải trả cho Anh T số tiền 3.000.000 đồng kể từ khi ngày cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến nay trừ vào số tiền vợ chồng anh T còn nợ mua đất. Tại phiên tòa sơ thẩm anh T đề nghị không giải quyết yêu cầu này nữa.

Anh T yêu cầu Toà án Nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giải quyết buộc bà Lê Thị T1 phải trả lại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, diện tích 286,4 m², địa chỉ: Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để gia đình anh T sử dụng.

2

Tại bản tự khai, lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Lê Thị T1 và Đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Đậu Thị H trình bày:

Bà Lê Thị T1 sinh sống trên thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, diện tích 286,4m² tại thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An từ trước cho đến nay. Nguồn gốc thửa đất là của vợ chồng bà T1, B đỏ đứng tên ông Đậu Quang K (chồng bà T1). Sau khi ông Đậu Quang K chết thì thửa đất đó mang tên bà Lê Thị T1. Trong quá trình sử dụng thửa đất đó thì bà Lê Thị T1 đã làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất và tài sản trên đất cho con trai là anh Đậu Anh T2 cũng như hiến một phần đất để làm con đường và một phần đất làm nơi thờ cúng. Sau đó anh Đậu Anh T2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất này lại cho vợ chồng cháu Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị Bảo D. Đến năm 2022 thì anh Đ và chị D có uỷ quyền lại cho bà H để làm thủ tục chuyển nhượng thửa đất này cho anh T và chị L.

Ban đầu trong quá trình thảo luận trước đó giữa Bà H và anh Nguyễn Văn T dự định mua thửa đất này sau đó kết hợp với phần đất của anh Đậu Anh T2 rồi sẽ chia dọc ra rồi trừ một phần đất cho bà Lê Thị T1. Sau đó giữa bà H và anh Nguyễn Văn T có thống nhất với nhau khi anh T nhận chuyển nhượng phần đất của Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị Bảo D thì sẽ trừ ra 86,4m² đất và số tiền 200.000.000 đồng để cho bà H lấy kinh phí xây dựng nhà ở cho bà Lê Thị T1 và cũng là nơi thờ cúng của gia đình và thoả thuận này đã được lập thành văn bản theo Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021; giấy cam kết viết ngày 21/02/2022 và giấy cam kết viết ngày 21/3/2022. Nhưng sau đó khi lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì anh Nguyễn Văn T có nói là lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ, sau đó mới tách phần đất 86,4m² cho bà Lê Thị T1 sau. Và từ đó đến nay bà Lê Thị T1 vẫn sống trong ngôi nhà của bà.

Sau khi anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L không thực hiện như đã cam kết nên không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu TAND huyện Thanh Chương hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho anh T.

- Quá trình giải quyết vụ án chị Tô Thị L trình bày: Ngày 07/4/2022 vợ chồng chị được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, diện tích 286,4m², địa chỉ Thôn G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L.

Nguồn gốc thửa đất được cấp nói trên là do vợ chồng chị nhận chuyển nhượng của anh Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị Bảo D. Sau khi nhận giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất vợ chồng chị muốn dọn đến ở nhưng gia đình bà T1 cản trở không cho, bà T1 nhất quyết không chịu chuyển đi, con trai

3

của bà T1 là anh Đậu Văn Đ1 còn xây dựng bờ rào xây cổng khóa lại không cho vợ chồng chị đi vào thửa đất của mình.

Ngày 04/9/2022 vợ chồng chị có trình báo với UBND xã T và xã đã đình chỉ thi công nhưng gia đình bà T1 vẫn tiếp tục xây dựng. Đến nay bà T1 vẫn sống trên thửa đất không chịu dời đến nơi ở mới nên gia đình chị chưa được đến sinh sống tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, địa chỉ thửa đất xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An.

- Tại phiên tòa cấp sơ thẩm đã tạm dừng phiên tòa để lấy ý kiến của anh Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị Bảo D qua ứng dụng zalo, anh Đ và chị D có ý kiến như sau:

Vào Ngày 14/3/2022 vợ chồng anh Đ, chị D có ký Hợp đồng ủy quyền cho bà Đậu Thị H trú tại thành phố V, tỉnh Nghệ An về việc chuyển nhượng thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An với phần diện tích đất là 176,6m². Trong quá trình đó bà Đậu Thị H đã thay mặt anh Đ, chị D làm Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất nói trên cho anh Nguyễn Văn T.

Trên thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15 tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An với diện tích 176,6m² đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng có hai ngôi nhà gồm: 01 ngôi nhà bà Lê Thị T1 đang sinh sống, một ngôi nhà do gia đình anh Đậu Anh T2 đang sinh sống.

Hiện nay xảy ra tranh chấp thì anh Đ, chị D có ý kiến lúc làm ủy quyền cho bà Đậu Thị H bán đất cho anh Nguyễn Văn T thì chị D anh Đ yêu cầu bà H nói với Anh T chuyển 86m² đất và chuyển 150.000.000 đồng mà anh T còn nợ cho bà Lê Thị T1 (là bà ngoại của chị D). Sau khi làm xong các thủ tục trên thì bà H mới được chuyển nhượng đất cho anh T. Chị D đề nghị xử lý sự việc đúng pháp luật.

Bản án Dân sự sơ thẩm số 36/2024/DSST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã quyết định: Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; Điều 147, Điều 157, Điều 165 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 274, Điều 275; Điều 463; Bộ luật dân sự năm 2015 và các Điều 305, Điều 474, Điều 476 Bộ luật dân sự năm 2005. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T.
  2. Buộc bà Lê Thị T1 trả lại 286,4m² tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L.
  3. Về chi phí thẩm định và định giá tài sản: Buộc bà Lê Thị T1 trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền chi phí thẩm định và định giá tài sản là 11.824.000 đồng.

4

  1. Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lê Thị T1. Trả lại cho anh Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng mà anh đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0011739, ngày 19 tháng 2 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 10 tháng 10 năm 2024, Bà Lê Thị T1 kháng cáo không chấp nhận toàn bộ Bản án sơ thẩm, do Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương ra bản án không khách quan, trái quy định của pháp luật trong quá trình xét xử vụ án, vi phạm thủ tục tố tụng và nội dung, không đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bà T1

Ngày 22/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có Quyết định kháng nghị số 2299/QĐ-VKS-DS đối với Bản án sơ thẩm số 36/2024/DSST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương. Đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hủy bản án sơ thẩm; giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Anh Nguyễn Văn T giữ nguyên nội dung khởi kiện, anh T và chị Tô Thị L đều thừa nhận có tài liệu Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021; giấy cam kết viết ngày 21/02/2022 và giấy cam kết viết ngày 21/3/2022 như bị đơn đã nộp, có cam kết thỏa thuận trước khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sư dụng đất 21/3/2022 nhưng không hoàn toàn đúng như bị đơn trình bày vì theo Bản cam kết ngày 21/02/2022 có hai cam kết, một là sau khi cấp bìa anh T, chị L chuyển nhượng cho bà Lê Thị T1 86,4m² phần đất giáp nhà thờ chứ không phải là trừ tại diện tích đó cho bà T1 và cam kết thứ hai là Biên bản việc kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 11/3/2024 nhưng do anh Đậu Anh T2 không thực hiện cam kết nên vợ chồng anh T cũng không thực hiện cam kết chuyển nhượng diện tích 86,4m² cho bà T1, đồng thời anh T và chị L cho rằng yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L của bị đơn là không đúng vì thủ tục chuyển nhượng và cấp bìa đúng trình tự theo quy định của pháp luật.

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo. Đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị đề nghị HĐXX căn cứ các Điều 68, điều 73, điều 200, điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các Điều 120, điều 124, điều 402, điều 408 Bộ luật dân sự 2015 chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị T1 hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DSST, ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương; và giao hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại theo quy định của pháp luật do vi phạm thủ tục tố tụng và nội dung:

5

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đậu Thị H, chị Vũ Thị D và anh Nguyễn Quốc Đ vào tham gia tố tụng: Theo Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất lập ngày 21/3/2022 giữa bên chuyển nhượng là vợ chồng anh Nguyễn Quốc Đ, chị Vũ Thị Bảo D và bên nhận chuyển nhượng vợ chồng anh Nguyễn Văn T, chị Tô Thị L. Theo hợp đồng chuyển nhượng, thì bà Đậu Thị H là người được anh Đ và chị D uỷ quyền đứng ra ký kết hợp đồng, thế nhưng Toà án cấp sơ thẩm không đưa bà H với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng. Tòa án không xem xét yêu cầu phản tố của bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, phía đại diện của bị đơn là bà Đậu Thị H đã có yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp ngày 07/4/2022 mang tên vợ chồng anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L đối với thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, diện tích 286,4 m².

- Về nội dung: Nguồn gốc thửa đất vợ chồng anh T nhận chuyển nhượng là của của bà Lê Thị T1, và bà T1 đã sinh sống trên thửa đất này từ trước năm 1980 đến nay. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng chị D và vợ chồng anh T là loại hợp đồng có điều kiện theo Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021, Giấy cam kết ngày 21/2/2022 và ngày 21/3/2022, trước khi ký Hợp đồng nhận chuyển nhượng thửa đất của chị D thì anh Đ, anh T đã đặt cọc số tiền 250.000.000 đồng để mua một phần thửa đất số 36 mang tên anh Đậu Anh T2 (con trai bà T1), và mua thửa đất số 160, tờ bản đồ 15 của chị D. Các bên cam kết anh T nhận 2 bìa đất để tách bìa mang tên anh T và chị Tô Thị L. Bà H cũng là người tham gia ký cam kết mua bán đất này; Bà H và anh T thống nhất với nhau về việc: sau khi anh T nhận phần đất của chị D và anh Đ thì sẽ trừ ra phần đất 86,4m² và số tiền 200.000.000 đồng để bà H lấy kinh phí xây dựng nhà ở cho bà T1 và làm nơi thờ cúng của gia đình. Nhưng sau đó, anh T đề nghị lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất, sau đó mới tách ra 86,4m² cho bà T1. Hiện nay, phía anh T vẫn chưa thực hiện trách nhiệm của mình theo nội dung cam kết ngày 21/2/2022 và ngày 21/3/2022. Do vậy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng chị D và vợ chồng anh T chưa phát sinh hiệu lực. Tại thời điểm xác lập và ký kết hợp đồng, trên thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15 có các tài sản sau: có 01 nhà lớn lợp ngói xây dựng năm 2005; 01 nhà nhỏ sát nhà lớn xây năm 2007; 01 công trình vệ sinh làm khoảng năm 2006; giếng khoan, sân láng bê tông đều do bà T1 quản lý sử dụng nhưng tại Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai bên lại không đề cập đến căn nhà thuộc sở hữu của bà T1. Bản án sơ thẩm không xem xét toàn diện các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xem xét, đánh giá chứng cứ không khách quan, không đúng với nội dung tài liệu đã phản ánh có trong hồ sơ vụ án

Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm:

6

- Việc tuân theo pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm đã tuân theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bà T1 trong hạn luật định, thuộc đối tượng không phải nộp dự phí và có đơn xin miễn, nên hợp lệ.

- Bà T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm bà cho rằng Tòa án giải quyết vụ án không khách quan, không đúng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của bà. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung kháng nghị về thủ tục tố tụng và nội dung giải quyết vụ án.

- Về thủ tục tố tụng: Thửa đất có nguồn gốc của vợ chồng bà T1; sau đó chuyển nhượng cho anh Đậu Anh T2; anh Đậu Anh T2 chuyển nhượng cho chị D, anh Đ; tại thời điểm các bên ký hợp đồng chuyển nhượng các tài sản trên đất do bà Lê Thị T1, anh T2, bà Đ2, anh H2, chị Y quản lý sử dụng; Tranh chấp phát sinh từ Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người trực tiếp ký cam kết và thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh T, chị L là bà Đậu Thị H, nhưng quá trình giải quyết vụ án Tòa án sơ thẩm không đưa Đậu Anh T2, chị Vũ Thị Bảo D, Nguyễn Quốc Đ cũng như làm rõ các thành viên sinh sống trong ngôi nhà để đưa họ vào tham gia tố tụng để làm rõ tài sản thuộc quyền sở hữu của ai; thu thập hồ sơ cấp giấy CNQSD đất cho bà T1, anh T2, chị Vũ Thị Bảo D, anh Nguyễn Quốc Đ cũng như không xác định bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chưa đầy đủ, không đúng quy định tại Điều 68 BLTTDS.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn có yêu cầu xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên anh T, chị L, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét yêu cầu của đương sự là không đúng quy định của pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án:

Quá trình giải quyết vụ án bà Lê Thị T1 và bà Đậu Thị H người đại diện theo ủy quyền của bà T1 đều cho rằng trước khi ký Hợp đồng chuyển nhượng QSD đất, thì ngày 15/11/2021 bà H với anh T có viết Giấy đặt cọc số tiền 250 triệu đồng mua thửa đất 160 và một phần thửa đất số 36 thuộc quyền sử dụng của anh Đậu Anh T2. Đến ngày 15/2/2022, bà H và vợ chồng anh T, chị L lập Giấy đặt cọc mua thửa đất số 160, TBĐ số 15, diện tích 286,4m² của anh Đ, chị D. Đến ngày 21/02/2022, anh T, bà H, người làm chứng anh Đậu Anh T2 ký Giấy cam kết, có nội dung: “...Ngoài ra, chúng tôi có thỏa thuận riêng sau khi chuyển nhượng lô đất nói trên thì ông T có trách nhiệm chuyển nhượng cho bà Lê Thị T1 sinh năm 1934 (mẹ của bà Đậu Thị H) với diện tích 86,4m² phần đất đó được tính giáp nhà thờ....”, và xuất trình các tài liệu để chứng minh; do anh T không thực hiện đúng cam kết, nên bà T1, bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T; tại phiên tòa hôm nay anh T chị L đều thừa nhận có ký giấy cam kết như bà T1 cung cấp, nhưng do anh T2 không thực hiện đúng cam kết nên anh

7

T, chị L cũng không thực hiện cam kết của mình. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án và Bản án sơ thẩm không xem xét, nhận định cam kết giữa anh T, bà H có phải là điều kiện khi chuyển nhượng hay không; sau khi ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dung đất thì nội dung cam kết đó có còn giá trị không và phải thực hiện như thế nào mà quyết định buộc bà Lê Thị T1 trả lại cho anh T, chị L thửa đất trên là chưa đầy đủ.

Mặt khác, theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện trên đất tranh chấp có 01 nhà lớn lợp ngói xây dựng năm 2005; 01 nhà nhỏ sát nhà lớn xây năm 2007; 01 công trình vệ sinh làm khoảng năm 2006, giếng, khoan, sân láng bê tông. Tại phiên tòa hôm nay anh T, chị L thừa nhận tại thời điểm nhận chuyển nhượng đất và hiện nay toàn bộ tài sản xây dựng trên thửa đất tranh chấp do bà T1, vợ chồng anh T2 quản lý sử dụng. Như vậy, khi các bên ký hợp đồng chuyển nhượng cũng như hiện nay trên đất tranh chấp đang có tài sản do bà T1, vợ chồng anh T2 quản lý sử dụng. Tại khoản 1 Điều 1 của Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 21/3/2022 chỉ thể hiện các bên chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 160, TBĐ số 15, diện tích 286,4m² và tại mục II của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Sở tài nguyên môi trường tỉnh N cấp ngày 07/4/2022 mang tên anh T, chị L chỉ chứng nhận anh T, chị L được quyền sử dụng thửa đất trên mà không chứng nhận quyền sở hữu về nhà ở, công trình xây dựng khác trên đất, nhưng Bản án sơ thẩm nhận định bà T1 không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng của mình; tài sản đã được Sở tài nguyên môi trường tỉnh N cấp giấy chứng nhận nên thuộc quyền sử dụng của anh T chị L là không có căn cứ và không đúng sự thật khách quan trong vụ án làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bà T1.

Hơn nữa, Bản án sơ thẩm quyết định buộc bà T1 trả lại cho ông T, bà L thửa đất trên, nhưng không quyết định giải quyết các tài sản trên đất hiện do bà T1 đang quản lý sử dụng là chưa triệt để và gây khó khăn cho công tác thi hành án.

Đề nghị HĐXX: Chấp nhận kháng cáo của bà T1 và quyết định kháng nghị của VKS, áp dụng khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự Hủy bản án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án sơ thẩm giải quyết lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào Bản án sơ thẩm, các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Tại đơn khởi kiện nguyên đơn anh Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giải quyết buộc bà Lê Thị T1 phải trả lại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, diện tích 286,4 m² tại Thôn

8

G, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An để gia đình anh T sử dụng. Đây là vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất nên Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương thụ lý là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 9 điều 26 BLTTDS. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án tại Bản tự khai, Biên bản việc kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 11/3/2024 và Biên bản hòa giải ngày 11/3/2024 đại diện của bị đơn có ý kiến: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu TAND huyện Thanh Chương hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, địa chỉ xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An mang tên anh Nguyễn Văn T, chị Tô Thị L. Như vậy vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất và có yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định cá biệt nhưng cấp sơ thẩm không làm rõ và bỏ sót yêu cầu này của bị đơn, tại thời điểm xét xử ngày 30/9/2024 cấp sơ thẩm đã đưa ra xử là không đúng quy định tại khoản 4 điều 34 BLTTDS và khoản 4 điều 32 Luật tố tụng hành chính.

[1.2]. Đơn kháng cáo của bị đơn và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[1.3]. Cấp sơ thẩm không đưa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng và không đảm bảo quyền và nghĩa vụ cho đương sự:

Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm anh Nguyễn Văn T, chị Tô Thị L, bà Lê Thị T1, Đại diện ủy quyền của bị đơn là bà Đậu Thị H đều trình bày anh Nguyễn Quốc Đ và chị Nguyễn Thị Bảo D1 ủy quyền cho bà Đậu Thị H ký Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L.

Tại phiên tòa sơ thẩm anh T thừa nhận giá chuyển nhượng thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là 1.250.000.000 đồng. Anh T, chị L đã trả 1.050.000.000 đồng (Trả ba lần). Sau đó chuyển khoản cho anh Đậu Anh T2 con của bà T1 là 40.000.000 đồng x 2 lần = 80.000.000 đồng. Số tiền còn lại chưa trả là 120.000.000 đồng.

Bị đơn và đại diện theo ủy quyền của bị đơn đều trình bày việc chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất 160 thì trước khi chuyển nhượng các bên đã có cam kết trừ lại diện tích cho bà Lê Thị T1 86,4m² và số tiền 200.000.000 đồng anh T chưa trả các bên thỏa thuận cho bà T1 sửa lại nhà để sống cho đến khi bà T1 mất thì làm nhà thờ.

Trong quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm, quyết định xét xử vụ án cấp sơ thẩm xác định ông Đậu Văn Đ1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan do anh T, chị L trình bày ông Đ1 (là con trai bà T1) đã xây dựng bờ rào xây cổng khóa lại không cho vợ chồng chị L, anh T đi vào thửa đất số 160 của mình nhưng không lấy ý kiến của ông Đ1. Tại phiên tòa mở lần thứ nhất ngày 27/8/2024, vắng mặt ông Đ1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Tòa án không hoãn phiên tòa mà vẫn đưa vụ án ra xét xử là vi phạm quy định tại khoản 1 điều 227 BLTTDS.

9

Quá trình xét xử sơ thẩm thấy thiếu ý kiến của anh Nguyễn Quốc Đ, chị Nguyễn Thị Bảo D1 cấp sơ thẩm tạm ngừng phiên tòa để lấy ý kiến của anh Đ, chị D1 qua tin nhắn zalo rồi đưa ra xét xử nhưng tại phần đầu của Bản án sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 và tại Biên bản phiên tòa thể hiện người tham gia tố tụng gồm anh T, bà T1 và chị L.

Như vậy, quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm không đưa anh Nguyễn Quốc Đ, chị Nguyễn Thị Bảo D1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là không đảm bảo quyền lợi của anh Đ, chị D1 được quyền đưa ra yêu cầu độc lập vì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đòi lại đất liên quan đến Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 160 và tại phần đầu của Bản án không xác định anh Đ, chị D1 và ông Đ1 là người có quyền lợi liên quan để thực hiện quyền được nhận Bản án và quyền kháng cáo cho những người này là vi phạm thủ tục tố tụng.

- Trong vụ án bà Đậu Thị H tham gia với tư cách là người ủy quyền của nguyên đơn tham gia tố tụng. Tuy nhiên xét lời trình bày của các đương sự và tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy rằng tại thời điểm các bên ký hợp đồng chuyển nhượng, người trực tiếp ký cam kết và thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với anh T, chị L là bà Đậu Thị H. Theo quy định tại Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự bà Đậu Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, nhưng Tòa án không xác định bà H là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan để lấy ý kiến của bà Đậu Thị H là chưa đầy đủ, thiếu sót.

Bị đơn xuất trình các tài liệu Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021; giấy cam kết viết ngày 21/02/2022 và giấy cam kết viết ngày 21/3/2022 liên quan đến thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, tiền chuyển nhượng, tiền đặt cọc và nội dung thỏa thuận tách 86,4m² và phần tiền chuyển nhượng 200.000.000 đồng cho bà T1 làm nhà trước khi chuyển nhượng liên quan anh Đậu Anh T2 (Con bà T1), bà Đậu Thị H (con bà T1) và anh Nguyễn Văn T. Ngoài ra nguyên đơn có trình bày số tiền chuyển nhượng đất thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An anh T có trả 2 lần 80.000.000 đồng cho anh Đậu Anh T2. Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn anh T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị L thừa nhận có tài liệu bị đơn nộp Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021; giấy cam kết viết ngày 21/02/2022 và giấy cam kết viết ngày 21/3/2022 mà bị đơn đã nộp nhưng cấp sơ thẩm không xác định anh Đậu Anh T2 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là chưa đầy đủ, thiếu sót.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về nguồn gốc đất thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và tài sản trên đất:

Nguyên đơn anh T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị L xác định nguồn gốc thửa đất và tài sản trên đất là nhận chuyển nhượng của chị Vũ Thị Bảo D, anh Nguyễn Quốc Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

10

ký kết ngày 21/3/2022 giữa vợ chồng anh T và bà Đậu Thị H (bà H được anh Đ, chị D ủy quyền).

Ý kiến của bị đơn, Đại diện theo ủy quyền của bị đơn và tại Biên bản làm việc ngày 15/9/2022 tại UBND xã T xác định nguồn gốc thửa đất như sau: Ngày 16/12/1995 thửa đất này được nhà nước cấp GCNQSD đất cho ông Đậu Văn K1 (chồng bà T1), nguồn gốc là do gia đình khai phá và sử dụng trước năm 1980. Sau khi ông K1 mất đến năm 2016 thực hiện trắc địa lại bản đồ địa chính và cấp GCNQSD đất cho các hộ gia đình sinh sống ổn định thửa đất đã chuyển sang cho bà Lê Thị T1 được sử dụng. Đầu năm 2019 tặng cho một phần quyền sử dụng đất cho con trai là Đậu Anh T2 đến năm 2020 Đậu Anh T2 chuyển nhượng cho chị Vũ Thị Bảo D và anh Nguyễn Quốc Đ. Đầu năm 2022 gia đình anh Đ đã làm thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L.

Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ các lời khai của nguyên đơn, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề nhận định “Mặt khác thửa đất này là do anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị D2 nhận chuyển nhượng từ anh Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị D sau khi anh Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị D đã được nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không có tài liệu nào chứng minh thửa đất hay ngôi nhà này thuộc quyền sử dụng của bà lê Thị T1 như bị đơn trình bày. Cho nên khẳng định toàn bộ thửa đất này và tài sản trên đất trước thời điểm chuyển nhượng cho anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L thuộc quyền sử dụng của anh Nguyễn Quốc Đ và chị Vũ Thị Bảo D chứ không phải của bà Lê Thị T1 hay bất cứ ai”.

Cấp sơ thẩm chưa thu thập hồ sơ cấp đất từ bà T1 sang anh Đậu Anh T2, từ anh Đậu Anh T2 sang cho chị Vũ Thị Bảo D, anh Nguyễn Quốc Đ cho đến khi chuyển nhượng cho anh T, chị L để xác định nguồn gốc đất, tài sản trên đất và thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất để giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bỏ sót yêu cầu hủy quyết định cá biệt của bị đơn, không xác minh việc bà T1 tặng cho con trai anh Đậu Anh T2 có tặng cho tài sản trên đất hay không? anh Đậu Anh T2 chuyển nhượng sang cho cháu là anh Đ, chị D có chuyển nhượng cả đất và nhà hay không? là thiếu sót, chưa đầy đủ.

[2.2]. Về thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký kết ngày 21/3/2022:

Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm nguyên đơn thừa nhận việc thực hiện Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/3/2022 giữa anh T, chị L và bà Đậu Thị H (được chị D và anh Đ ủy quyền) thì nguyên đơn chưa thanh toán hết tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của chị D, anh Đ. Theo anh T giá chuyển nhượng thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An là 1.250.000.000 đồng. Anh T, chị L đã trả 1.050.000.000 đồng (Trả ba lần). Ngoài ra tại cấp phúc thẩm anh T và chị L nộp tài liệu “Giấy nhận tiền từ thầy T” ngày 10 tháng 5 năm 2022 với nội dung nhận anh Đậu Anh T2 nhận số

11

tiền 70.000.000 đồng của anh T trong tiền anh Đậu Anh T2 bán đất, anh T còn trình bày đã trả thêm 10.000.000 đồng cho anh T2. Nên số tiền mua đất còn lại chưa trả là 120.000.000 đồng.

Tại cấp sơ thẩm bị đơn bà T1 đã xuất trình các tài liệu: Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021; giấy cam kết viết ngày 21/02/2022 và giấy cam kết viết ngày 21/3/2022 và cho rằng các con bà T1 (bà Đậu Thị H, anh Đậu Anh T2) đã có thỏa thuận với anh T là làm thủ tục tách bìa cho Anh T, bà T1 và trích 200.000.000 đồng tiền chuyển nhượng còn lại cho bà T1 sửa nhà để ở.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 27/8/2024 thấy thiếu sót ý kiến của chị D và anh Đ nên tạm ngừng phiên tòa. Sau khi lấy ý kiến anh Đ và chị D qua zalo anh Đ chị D trình bày chị D và anh Đinh ủy Q cho bà Đậu Thị H trú tại thành phố V, tỉnh Nghệ An về việc chuyển nhượng thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An với phần diện tích đất là 176,6m². Trong quá trình đó bà Đậu Thị H đã thay mặt anh Đ, chị D làm Hợp đồng chuyển nhượng thửa đất ngày 21/3/2022 với anh Nguyễn Văn T. Trên thửa đất số 160 có hai ngôi nhà gồm: 01 ngôi nhà bà Lê Thị T1 đang sinh sống, một ngôi nhà do gia đình anh Đậu Anh T2 đang sinh sống. Khi làm ủy quyền cho bà Đậu Thị H bán đất cho Anh Nguyễn Văn T chị D anh Đ yêu cầu bà H nói với anh T chuyển 86m² đất và chuyển 150.000.000 đồng Anh T còn nợ cho bà Lê Thị T1 (là bà ngoại của chị D). Sau khi làm xong các thủ tục trên thì bà H mới được chuyển nhượng đất cho Anh T.

Như vậy diện tích chuyển nhượng, số tiền chuyển nhượng thửa đất mà anh T, chị L chưa thanh toán mà các đương sự trình bày không trùng khớp nhau, cấp sơ thẩm chưa làm rõ. Mặc dù tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn anh T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nộp tài liệu “Giấy nhận tiền từ thầy T” ngày 10 tháng 5 năm 2022 viết tay nhưng do anh Đậu Anh T2 không được cấp sơ thẩm đưa vào với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên cấp phúc thẩm không có căn cứ để xác định giấy này có đúng do anh Đậu Anh T2 viết hay không và chưa có cơ sở xác định số tiền chuyển nhượng còn lại mà vợ chồng anh T chưa thanh toán cho chị D, anh Đ.

- Tại cấp phúc thẩm anh T, chị L thừa nhận có các tài liệu như bà T1 nộp là Giấy cọc tiền mua đất ngày 15/11/2021; giấy cam kết viết ngày 21/02/2022 và giấy cam kết viết ngày 21/3/2022 nhưng theo anh T, chị L thì có hai cam kết: cam kết thứ nhất là sau khi chuyển nhượng lô đất mang tên anh T và chị L thì anh T có trách nhiệm chuyển nhượng cho bà T1 diện tích 86,4m² đất chứ không phải trừ lại diện tích này cho bà T1 như bị đơn trình bày và cam kết thứ hai là anh Đậu Anh T2 (con bà T1) phải tách một phần đất ở thửa đất số 36 bám mặt đường 46 C tính từ ki ốt cho vợ chồng anh T. Do anh Đậu Anh T2 không thực hiện cam kết nên anh T, chị L không thực hiện chuyển nhượng 86,4m2 cho bà T1. Do cấp sơ thẩm không lấy ý kiến của anh T, chị L, bà T1, anh Đ, chị D, anh Đậu Anh T2, bà H về các tài liệu bà T1 cung cấp, chưa xem xét đầy đủ nội dung

12

các tài liệu bà T1 giao nộp để xác định có thỏa thuận trước khi chuyển nhượng với nội dung sau khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì anh T, chị L phải có nghĩa vụ trừ lại 86,4m² cho bà T1 và 200.000.000 đồng để xây nhà cho bà T1 ở và là nơi thờ phụng như bị đơn trình bày hay không? cam kết này có phải là điều kiện để thực hiện việc giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không.

Cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp mang tên anh Nguyễn Văn T và chị Tô Thị L để quyết định bà T1 trả lại đất cho anh T, chị L là thiếu sót, chưa đầy đủ.

[2.3]. Theo Biên bản xem xét thẩm định trên thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An có tài sản là 01 nhà lớn lợp ngói; 01 nhà nhỏ sát nhà lớn; 01 công trình vệ sinh, giếng, khoan, sân láng bê tông, hiện nay toàn bộ tài sản xây dựng trên thửa đất tranh chấp do bà T1 quản lý sử dụng.

Tại Hợp đồng chuyển nhượng chỉ thể hiện đối tượng chuyển nhượng là thửa đất số 160, tờ bản đồ số 15, tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện chứng nhận anh T, chị L được quyền sử dụng thửa đất không chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất.

Trong khi đó Bà H là Đại diện ủy quyền của bị đơn trình bày bà chỉ ký Hợp đồng chuyển nhượng đất theo ủy quyền của anh Đ và chị D, không chuyển nhượng tài sản trên đất là 02 nhà và nhà vệ sinh. Bà T1 sống trên đất. Tại Biên bản thẩm định tại chỗ bà H và ông Đ1 trình bày 01 nhà xây năm 2005, 01 nhà xây 2006 và 01 nhà vệ sinh xây dựng năm 2007 đều trước thời điểm chuyển nhượng quyền sử dụng đất năm 2022 cho anh T, chị L, trong khi thửa đất có nguồn gốc của gia đình bà T1 sử dụng từ năm 1980.

Tại Bản án sơ thẩm nhận định bà T1 không cung cấp được tài liệu chứng minh tài sản thuộc quyền sử dụng của mình, căn cứ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đề nhận định thửa đất và tài sản trên đất thuộc quyền sử dụng của anh T và chị L mà không thu thập tài liệu xác định nguồn gốc ngôi nhà, được xây dựng khi nào, ai là người xây dựng, ai là người được quyền sở hữu? ai là người đang sử dụng và sử dụng từ khi nào là chưa đánh giá toàn diện, khách quan.

Trên thửa đất có tài sản trên đất nhưng cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà T1 trả đất, nhưng không quyết định tài sản trên đất là thiếu sót, chưa triệt để và ảnh hưởng quyền lợi của đương sự, gây khó khăn cho việc thi hành án.

[3]. Do việc thu thập chứng cứ của Tòa án sơ thẩm chưa được thực hiện đầy đủ, Bản án sơ thẩm có nhiều thiếu sót về nội dung và vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục nên cần chấp nhận kháng cáo của bà T1 và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào khoản 3 điều 308, điều 310 Bộ luật tố tụng dân sự hủy toàn bộ bản án sơ thẩm để giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Chi phí tố tụng và án phí sơ thẩm sẽ được giải quyết khi giải quyết lại vụ án.

13

[4]. Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của bà Lê Thị T1 được chấp nhận nên bà T1 không phải chịu án phí DSPT.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14, quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

  1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 36/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
  2. Về án phí, chi phí tố tụng khác:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng khác sẽ được giải quyết khi giải quyết lại vụ án.
    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - TAND huyện Thanh Chương;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Chương;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thị Thanh Hương

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2024/DS-PT ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 65/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất T - T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger