Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN KỲ

TỈNH NGHỆ AN

Bản số: 65/2023/HSST

Ngày: 25/10/2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên Tòa: bà Nguyễn Thị Thu Hương

Các hội thẩm nhân dân

  1. Bà: Nguyễn Thị Phúc.
  2. Ông: Lê Văn Toàn.

Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Hải Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tân Kỳ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Dân - Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 10 năm 2023. Tại Tòa án nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/HSST ngày 2 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2023/QĐXXST-HS ngày 10/10/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Hoài N; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 05/7/1963 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; nơi ĐKHKTT, C ở: Khối H, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 10/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông: Đặng Bá T (Đã chết) và bà: Lê Thị Đ (Đã chết); vợ: Võ Thị Kim A, sinh năm: 1965; con: Có 02 con, lớn 33 tuổi, nhỏ 27 tuổi; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 03/02/2023 đến nay tại địa phương; có mặt tại phiên tòa.

Bị hại:

  1. Chị Trương Thị D, sinh năm: 1982. Trú tại: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  2. Chị Trương Thị H, sinh năm: 2001. Trú tại: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  3. Chị Đậu Thị Q, sinh năm: 1991. Trú tại: xóm K, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  4. Chị Nguyễn Thị V, sinh năm: 1988. Trú tại: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  5. Chị Trương Thị L, sinh năm: 1996. Trú tại: xóm X, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  6. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1997. Trú tại: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Lô Thị H2, sinh năm: 1985. Trú tại: xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  2. Chị Phạm Thị T1, sinh năm: 1984. Trú tại: xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  3. Chị Trương Thị L1, sinh năm: 1997. Trú tại: xóm V, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  4. Chị Sầm Thị N1, sinh năm: 1993. Trú tại: xóm Đ, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  5. Chị Bùi Thị H3, sinh năm: 1988. Trú tại: xóm L, xã H, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  6. Chị Trương Thị H4, sinh năm: 1994. Trú tại: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  7. Chị Nguyễn Thị L2, sinh năm: 1996. Trú tại: xóm X, xã V, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  8. Chị Trương Thị N2, sinh năm: 1985. Trú tại: xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  9. Chị Trương Thị X, sinh năm: 1992. Trú tại: xóm V, xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  10. Anh Nguyễn Đức D1, sinh năm: 1987. Trú tại: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  11. Anh Hồ Hải H5, sinh năm: 1987. Trú tại: xóm T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  12. Anh Lữ Văn M, sinh năm: 1999. Trú tại: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; có mặt.
  13. Chị Trương Thị H4, sinh năm: 1993. Trú tại: xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  14. Chị Nông Thị K, sinh năm: 1995. Trú tại: xóm C, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  15. Chị Nguyễn Thị H6, sinh năm: 1983. Trú tại: xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  16. Chị Trần Thị H7, sinh năm: 1981. Trú tại: xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 06 giờ 50 phút ngày 06/10/2022, Đặng Hoài N điều khiển xe ôtô khách loại 29 chỗ ngồi, biển số: 37F-002.06, trên xe có chở 29 (Hai mươi chín) công nhân của Công ty Cổ phần may Minh Anh huyện T đi trên đường Q hướng từ xã T đến xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Khi đến khu vực ngã tư T, đoạn giao nhau giữa đường Q, Quốc lộ D và đường T thuộc địa phận xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Đặng Hoài N tiếp tục điều khiển xe đi thẳng để sang đường T hướng về xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Trong lúc điều khiển xe đi qua khu vực ngã tư, Đặng Hoài N quan sát về phía bên phải thì thấy trên đường Q đang có chiếc xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 do anh Nguyễn Đức D1, sinh năm: 1987, trú tại: xóm H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An điều khiển cũng đang chạy vào khu vực ngã tư theo hướng từ bên phải sang bên trái (theo hướng di chuyển của Đặng Hoài N). Vị trí chiếc xe ô tô khách và chiếc xe ô tô đầu kéo khi Đặng Hoài N quan sát thấy thì cách nhau khoảng 15 mét. Lúc này, Đặng Hoài N nghĩ anh Nguyễn Đức D1 cũng đã quan sát thấy xe ô tô của mình và sẽ điều khiển chiếc xe đầu kéo tránh xe ô tô khách đảm bảo an toàn nên Đặng Hoài N không giảm tốc độ để nhường đường mà tiếp tục điều khiển xe đi thẳng qua khu vực ngã tư. Tuy nhiên, lúc đó anh Nguyễn Đức D1 không quan sát thấy xe ô tô khách do bị khuất tầm nhìn bởi lùm cây phía bên góc trái khu vực ngã tư nên vẫn không dừng xe lại mà tiếp tục điều khiển xe đi vào khu vực ngã tư. Khi xe ô tô do anh Nguyễn Đức D1 điều khiển còn cách xe ô tô khách do Đặng Hoài N điều khiển khoảng 05 đến 07 mét thì anh D1 mới quan sát thấy xe ô tô khách nên đã dẫm phanh để xe giảm tốc độ nhưng do khoảng cách của hai xe quá gần nên xe ô tô đầu kéo không kịp dừng lại. Thời điểm hai xe gần va chạm với nhau thì Đặng Hoài N không dẫm phanh để xe giảm tốc độ mà cố gắng điều khiển xe chạy nhanh hơn để vượt qua đầu xe ô tô đầu kéo nhưng không kịp nên xe ô tô đầu kéo do anh Nguyễn Đức D1 điều khiển đã đâm trúng vào phần hông xe phía sau bên phải của chiếc xe ô tô khách do Đặng Hoài N điều khiển. Sau khi va chạm thì chiếc xe ô tô đầu kéo đã đẩy chiếc xe ô tô khách đi sang phía bên góc trái khu vực ngã tư (theo hướng di chuyển ban đầu của Đặng Hoài N) và đẩy xe ô tô khách quay đầu hướng về xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Hậu quả: Một số công nhân ngồi trên xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 bị thương, trong đó có 15 (Mười lăm) công nhân bị thương nặng phải nhập viện để điều trị; Xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 và xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 bị hư hỏng.

Sau khi vụ tai nạn xảy ra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tổ chức khám nghiệm hiện trường và tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, chất ma túy trong cơ thể của các lái xe, đồng thời cần xác định trọng tải xe đầu kéo với kết quả như sau:

  • Tại thời điểm điều khiển xe gây tai nạn, trong cơ thể Đặng Hoài N và anh Nguyễn Đức D1 không có nồng độ cồn và chất ma túy.
  • Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông xe ôtô biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 chở hàng vượt quá trọng tải cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe là: 48,4% (Bốn mươi tám phẩy bốn phần trăm).

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường vụ tai nạn giao thông được xác định xảy ra tại ngã tư T đoạn giao nhau giữa đường Q, Quốc lộ D và đường T thuộc địa phận xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Các đoạn đường đều là đường thẳng, mặt đường bằng phẳng, được rải thảm nhựa. Tại đoạn đường Quốc lộ 48E có vạch sơn vàng đứt quãng, chia đoạn đường thành hai phần đường ngược chiều nhau. Độ rộng đường Quốc lộ 48E là 5,9 mét, Quốc lộ D là 07 mét và Tỉnh lộ 545 là 08 mét. Tại đoạn giao giữa các mép của các đoạn đường trên là đoạn gấp khúc. Tại vị trí góc điểm giao phía trước giữa Quốc lộ D và Quốc lộ D (theo hướng từ xã N, huyện T đi huyện N, tỉnh Nghệ An) có các lùm cây, bụi cỏ che khuất tầm nhìn của các phương tiện lưu thông từ hai đoạn đường này đi ra khu vực ngã tư.

  • Về hệ thống Biển báo hiệu giao thông đường bộ:
  • Tại Quốc lộ D theo chiều từ xã N, huyện T đi huyện N, tỉnh Nghệ An có cắm 01 (một) Biển báo tốc độ tối đa cho phép 60km/h và Biển báo cấm vượt nằm ở bên phải đường cách ngã tư T về phía xã N, huyện T khoảng 100 mét.
  • Tại đường Quốc lộ 48D hướng từ huyện Q đi xã N, huyện T có cắm 01 (một) Biển báo hết tất cả các hiệu lệnh nằm phía bên phải đường cách ngã tư T về hướng huyện Q 10 mét.
  • Chọn hướng xã N, huyện T đi huyện N, tỉnh Nghệ An làm hướng chính. Chọn đường thẳng vuông góc từ cột mốc số H9/137 với mép đường Quốc lộ 48E là mốc cố định để đo vuông góc với các dấu vết, phương tiện trên hiện trường và chọn vạch kẻ vàng đứt quãng giữa đường Quốc lộ 48E làm mép chuẩn để đo vuông góc với các dấu vết, phương tiện trên hiện trường. Tiến hành khám nghiệm phát hiện các dấu vết sau:
  1. Vết mài cao su lốp đôi trên mặt đường nhựa, chiều theo hướng chính, dạng đứt quãng, dài 20 mét, chỗ rộng nhất 0,6 mét. Tâm điểm đầu vết cách về phía bên trái mép chuẩn là 0,25 mét, cách mốc cố định là 64 mét. Tâm điểm cuối vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 2,6 mét, cách mốc cố định là 86,9 mét.
  2. Vết mài cao su lốp đôi trên mặt đường nhựa, chiều theo hướng chính, dạng liên tục, dài 14,5 mét, chỗ rộng nhất 0,55 mét. Tâm điểm đầu vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 1,6 mét, cách mốc cố định là 62,5 mét. Tâm điểm cuối vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 02 mét, cách mốc cố định là 77,1 mét.
  3. Tâm điểm giao giữa các tim đường của Quốc lộ D, Quốc lộ D và Tỉnh lộ 545 nằm trên mép chuẩn, cách mốc cố định là 79,2 mét.
  4. Vết chuầy cao su trên mặt đường nhựa, chiều theo hướng chính, từ trái qua phải, dạng không liên tục, dài 13,3 mét, chỗ rộng nhất 0,2 mét. Điểm đầu vết cách về phía bên trái mép chuẩn là 0,6 mét, cách mốc cố định là 79 mét. Điểm cuối vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 6,33 mét, cách mốc cố định là 90,8 mét và nằm ngay dưới lốp sau bên phụ xe ô tô biển số 37F-002.06.
  5. Vết chuầy cao su trên mặt đường nhựa, chiều theo hướng chính, từ trái qua phải, dạng không liên tục, dài 10,7 mét, chỗ rộng nhất 0,25 mét. Điểm đầu vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 1,2 mét, cách mốc cố định là 82,65 mét. Điểm cuối vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 08 mét, cách mốc cố định là 90,55 mét và nằm ngay dưới lốp sau bên lái xe ô tô biển số 37F-002.06.
  6. Vết chuầy cao su trên mặt đường nhựa, chiều theo hướng chính, từ trái qua phải, dạng không liên tục, dài 5,25 mét, chỗ rộng nhất 0,2 mét. Điểm đầu vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 1,93 mét, cách mốc cố định là 77,8 mét. Điểm cuối vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 3,7 mét, cách mốc cố định là 82,45 mét.
  7. Vết chuầy cao su trên mặt đường nhựa, chiều theo hướng chính, từ trái qua phải, dạng không liên tục, dài 4,2 mét, chỗ rộng nhất 0,2 mét. Điểm đầu vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 3,95 mét, cách mốc cố định là 79,1 mét. Điểm cuối vết cách về phía bên phải mép chuẩn là 4,2 mét, cách mốc cố định là 82,85 mét.
  8. Xe ô tô biển số 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc tải, biển số: 37R-038.76 có đầu xe quay về hướng huyện N, đuôi xe quay về hướng xã N, huyện T, tỉnh Nghệ An. Mép ngoài lốp trước bên lái cách mép chuẩn về phía bên phải là 2,73 mét, cách mốc cố định là 96,3 mét. Mép ngoài lốp sau cùng bên lái cách mép chuẩn về phía bên phải là 2,1 mét, cách mốc cố định là 86 mét.
  9. Xe ô tô biển số 37F-002.06 có đầu xe quay về hướng xã N, huyện T, đuôi xe quay về hướng huyện N, tỉnh Nghệ An. Mép ngoài lốp trước bên phụ cách mép chuẩn về phía bên phải là 4,6 mét, cách mốc cố định là 87,45 mét. Mép ngoài lốp sau bên phụ cách mép chuẩn về phía bên phải là 6,33 mét, cách mốc cố định là 90,8 mét.
  10. Tấm kính vỡ có kích thước (1,9x0,9) mét. T2 vùng cách mép chuẩn về phía bên phải là 7,4 mét, cách mốc cố định là 80,2 mét.
  11. Vùng kính, nhựa vỡ phân bố không đồng đều, nằm trong diện có kích thước là (06x04) mét. T2 vùng cách mép chuẩn về phía bên phải là 04 mét, cách mốc cố định là 89,4 mét.
  12. Vùng tổ chức kính vỡ vụn, phân bố không đồng đều, nằm trong diện có kích thước là (09x05) mét. T2 vùng cách mép chuẩn về phía bên phải là 1,75 mét, cách mốc cố định là 82,9 mét.

* Kết quả khám nghiệm các phương tiện:

(1) Khám nghiệm xe ô tô biển số: 37F-002.06: (Bút lục số: 94- 107 HSVA).

Phương tiện khám nghiệm là xe ô tô nhãn hiệu HYUNDAI, màu sơn: vàng-xám, mang biển số: 37F - 002.06. Xe có kích thước bao là (7090 x 2090 x 2750) mm, chiều dài cơ sở là 4085mm.

Chọn hướng từ đuôi xe đến đầu xe làm hướng đo chính.

Tiến hành khám nghiệm phương tiện phát hiện:

  • Các dấu vết bên phải xe: Thành xe bị đẩy dồn theo hướng từ phải sang trái. Từ vị trí cách mặt sau đuôi xe 1,95m kéo dài đến vị trí cách mặt trước đầu xe 2,35m và kéo dài từ mép dưới thành xe đến phía trên khung trần xe có vùng dấu vết bong tróc sơn, trượt xước, móp lõm kim loại, vỡ kính chắn gió, bề mặt bám dính sơn màu xanh trên diện có kích thước (2,5 x 2,15)m, điểm cao nhất cách đất 2,65m, chiều hướng từ phải sang trái, trừ trước ra sau. Dấu vết làm thành xe tại vị trí này ép sát vào dãy ghế bên phải xe. Tiếp sát phía sau dấu vết này về phía sau đuôi xe có bám dính máu.
  • Kính chắn gió phía bên phải từ cửa lên xuống kéo về phía sau bị nứt vỡ hoàn toàn rơi vào trong xe.
  • Thành xe vị trí ngay trước cửa lên xuống bị trượt xước, móp lõm, đứt rách kim loại, bong tróc sơn tít có dạng hình xoáy tròn, kích thước đường kính 43cm, điểm cao nhất cách đất 80cm.
  • Các dãy ghế bên phải trong xe bị xô lệch theo hướng từ phải sang trái, từ trước ra sau.
  • Kính chắn gió phía trước không còn trên xe.

(2) Khám nghiệm phương tiện xe Ôtô biển kiểm soát: 37H-037.54 kéo theo Somi-romoóc tải, biển số: 37R-038.76:

Phương tiện khám nghiệm là chiếc xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu CNHTC, sơn màu xanh, biển số: 37H-037.54, kéo theo Rơ-móoc biển số: 37R-038.76. Kích thước bao của đầu kéo là (6985 x 2496 x 3950) mm, chiều dài cơ sở của đầu kéo là 3225 + 1350 mm. Kích thước bao của R-móoc là (9280 x 2500 x 3790) mm, chiều dài cơ sở của R-móoc là 4510 + 1310 + 1310 mm.

Chọn hướng từ đuôi xe đến đầu xe làm hướng đo chính.

Tiến hành khám nghiệm phương tiện phát hiện:

  • Các bộ phận của mặt trước đầu kéo gồm: Bađơxốc, tấm bắt biển hiệu xe, cụm đèn chiếu sáng phía trước không còn trên xe. Kiểm tra các bộ phận này thấy:
    • Bađơxốc bị đẩy cong gập, bề mặt bị trượt xước đứt rách kim loại, chiều hướng từ trước về sau, kích thước (2,3 x 0,2) m, bề mặt bám dính các chất màu trắng, màu đèn không liên tục.
    • Tấm bắt biển hiệu xe: Mặt trước bị trượt xước không liên tục, kích thước (1,93 x 01)m, bề mặt bám dính các chất màu trắng, màu đèn không liên tục, chiều hướng từ trước ra sau.
    • Mặt ngoài cụm đèn chiếu sáng phía trước bên phải và bên trái bị trượt xước, góc bên trái đèn chiếu sáng bên trái bị gãy vỡ.
    • Mặt ngoài các bộ phận ở mặt trước đầu xe (ở phía trong Bađơxốc và tấm bắt biển hiệu xe) bị trượt xước không liên tục trên diện tích có kích thước (2,4 x 1,55) m, điểm cao nhất cách đất 2,05 m.
  • Cụm kim loại ở phía trước đầu xắc-xi bên phải bị trượt xước, kích thước (16 x 15) cm, vị trí thấp nhất cách đất 60 cm.
  • Kính chắn gió phía trước bị nứt vỡ hoàn toàn, tại vị trí cao cách đất 2,45m tấm kính bị vỡ hằn lõm dạng đường thẳng ngang đầu xe, dài 1,9m.
  • Mặt ngoài lốp trước bên phải có vết trượt sáng cao su ốp nhựa vành L3-zăng bánh này bị trượt xước nứt vỡ.
  • Mặt ngoài hai thanh kim loại phía ngoài các bình hơi bên phải bị trượt xước sơn, kim loại, bám dính chất màu trắng, màu đen, màu nâu đỏ, kích thước (1,28 x 0,45)m.

* Đến ngày 07/10/2022, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh nghệ An ra Yêu cầu định giá tài sản số: 25/YC-CSĐT đối với các tài sản bị hư hỏng, thiệt hại liên quan đến vụ tai nạn giao thông. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 50/KL-HĐĐGTS ngày 15/12/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Nghệ An kết luận:

  • Giá trị của các chi tiết, bộ phận, tài sản của xe ô tô chở khách loại 29 chỗ ngồi nhãn hiệu HYUNDAI COUNTY-ĐV, biển số: 37F-002.06, sản xuất năm 2015, niên hạn sử dụng năm 2035, sau khi trừ khấu hao, bị hư hỏng, thiệt hại tại thời điểm ngày 06/10/2022 là: 141.540.000 đồng (Một trăm bốn mươi mốt triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
  • Giá trị của các chi tiết, bộ phận, tài sản của xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu: CNHTC, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơ mi rơ moóc tải, nhãn hiệu: YUNLI, biển số: 37R-038.76, sản xuất năm 2022, niên hạn sử dụng năm 2047, bị hư hỏng, thiệt hại tại thời điểm ngày 06/10/2022 là: 40.770.000 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng).

* Đến ngày 24/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định dấu vết cơ học số: 123/QĐ-CSĐT. Tại Bản kết luận giám định số: 300/KLGD-KTHS (D1) ngày 09/12/2022 của Phòng K1, Công an tỉnh N kết luận:

(1) Ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô đầu kéo biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 di chuyển trên đường Quốc lộ 48E theo hướng từ xã N, huyện T đi huyện N, xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 di chuyển theo hướng từ trái sang phải so với chiều hướng di chuyển của xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76.

(2) Xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 và xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm đầu tiên:

  • Trên hiện trường: Ở khu vực ngã tư T, nơi giao nhau giữa đường Quốc lộ 48E, đường Q và đường T.
  • Trên phương tiện:
    • Trên xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06: Ở giữa thành xe bên phải.
    • Trên xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76: Ở mặt trước đầu xe ô tô đầu kéo.
  • Tư thế va chạm: Mặt lăn các dãy bánh lốp của xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 và xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 đang tiếp xúc với mặt đường.

(3) Không đủ cơ sở xác định tốc độ di chuyển của xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 và xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn.

* Ngày 29/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định các số: 128/QĐ-CSĐT, 129/QĐ-CSĐT, 130/QĐ-CSĐT, 131/QĐ-CSĐT, 132/QĐ-CSĐT và 133/QĐ-CSĐT trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh N giám định tỷ lệ thương tích đối với 06 (Sáu) người bị thương gồm: Chị Trương Thị H, chị Nguyễn Thị H1, chị Trương Thị D, chị Nguyễn Thị V, Chị Trương Thị L, chị Đậu Thị Q. Tại Bản kết luận giám định các số: 598/TTPY, 599/TTPY, 600/TTPY, 603/TTPY, 604/TTPY và 605/TTPY ngày 29/11/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh N kết luận:

  • Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể chị Nguyễn Thị V do thương tích gây nên hiện tại là: 48% (Bốn mươi tám phần trăm);
  • Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể chị Trương Thị H do thương tích gây nên hiện tại là: 60% (Sáu mươi phần trăm);
  • Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể chị Trương Thị L do thương tích gây nên hiện tại là: 24% (Hai mươi tư phần trăm);
  • Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể chị Nguyễn Thị H1 do thương tích gây nên hiện tại là: 37% (Ba mươi bảy phần trăm);
  • Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể chị Trương Thị D do thương tích gây nên hiện tại là: 49% (Bốn mươi chín phần trăm);
  • Tỷ lệ tổn thương trên cơ thể chị Đậu Thị Q do thương tích gây nên hiện tại là: 44% (Bốn mươi bốn phần trăm);

- Đối với 09 (Chín) người bị thương còn lại gồm: Chị Bùi Thị H3, Lô Thị H2, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị T1, Sầm Thị N1, Trương Thị H4, Trương Thị L1, Trương Thị N2, và chị Trương Thị X. Cơ quan CSĐT Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đã ra các Quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích, tiến hành bàn giao Giấy hẹn giám định của Trung tâm pháp y tỉnh N và ra các Quyết định dẫn giải những người trên đến Trung tâm pháp y tỉnh N để giám định tỷ lệ thương tích. Tuy nhiên, những người trên có đơn từ chối giám định tỷ lệ thương tích nên việc giám định không thực hiện được.

* Tại Công văn số: 3808/SGTVT-VT ngày 11/11/2022 của Sở Giao thông vận tải tỉnh N xác định khu vực ngã tư T nơi giao nhau giữa đường Q, Quốc lộ D và đường T là vị trí nút giao cùng mức, không có giải phân cách giữa, không có đèn tín hiệu, khi các phương tiện đi vào nút giao phải giảm tốc độ và thực hiện nhường đường theo Quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019). Đồng thời xác định, ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô, biển số: 37H-037.54 kéo theo Rơ-moóc, biển số: 37R-038.76 di chuyển với tốc độ cho phép dưới 60km/h.

* Tại Báo cáo số: 190/BC-BĐH ngày 09/12/2022 của Ban điều hành vận tải và kiểm tra tải trọng xe thuộc Sở Giao thông vận tải tỉnh H xác định, ngay trước thời điểm xảy ra tai nạn vào ngày 06/10/2022, xe ô tô biển số: 37F-002.06 di chuyển với tốc độ như sau:

  • Vào lúc 06 giờ 46 phút 50 giây, di chuyển với tốc độ 47km/h.
  • Vào lúc 06 giờ 47 phút 10 giây, di chuyển với tốc độ 54km/h.
  • Vào lúc 06 giờ 47 phút 30 giây, di chuyển với tốc độ 52km/h.
  • Vào lúc 06 giờ 47 phút 50 giây, tốc độ 0km/h.

Quá trình điều tra xác định, bị cáo Đặng Hoài N đã có Giấy phép lái xe hạng D và anh Nguyễn Đức D1 đã có Giấy phép lái xe hạng E, Fc còn hiệu lực được điều khiển các loại xe liên quan trong vụ tai nạn giao thông nêu trên.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, bị cáo Đặng Hoài N và anh Nguyễn Đức D1 đã khai nhận đầy đủ diễn biến, nội dung hành vi của mình. Lời khai của bị cáo và người liên quan hoàn toàn phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 66/CT-VKS ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An, truy tố bị cáo Đặng Hoài N, về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Đặng Hoài N thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ giữ nguyên nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 260, điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hoài N mức án 36 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 60 tháng. Về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt bổ sung: Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Bị cáo đã bồi thường cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Phần tranh luận bị cáo Đặng Hoài N không tranh luận gì. Bị cáo có lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Đặng Hoài N đã khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Kỳ đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường vụ tai nạn giao thông lập hồi 9 giờ ngày 6/10/2022; tại kết luận giám định số 598/TTPY; 599/TTPY; 600/TTPY; 603/TTPY; 604/TTPY; 605/TTPY ngày 29/11/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh N. Như vậy đã có đủ cở sở để kết luận: Khoảng 06 giờ 50 phút ngày 06/10/2022 tại khu vực ngã tư T, đoạn giao nhau giữa đường Q, Quốc lộ D và đường Tỉnh lộ 545 thuộc xóm Đ, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Đặng Hoài N điều khiển xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 chở 29 (Hai mươi chín) công nhân của Công ty Cổ phần may Minh Anh huyện T đã thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe được ưu tiên qua khu vực ngã tư nên đã xảy ra va chạm với xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 do anh Nguyễn Đức D1 điều khiển gây ra tai nạn giao thông. Hậu quả: 15 (Mười lăm) công nhân ngồi trên xe ô tô khách bị thương, trong đó các chị Nguyễn Thị V, Trương Thị H, Trương Thị L, Nguyễn Thị H1, Trương Thị D, Đậu Thị Q bị thương với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của 06 người là: 262% (Hai trăm sáu mươi hai phần trăm); Xe ô tô đầu kéo, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 bị hư hỏng với thiệt hại tài sản là: 40.770.000 đồng (Bốn mươi triệu bảy trăm bảy mươi nghìn đồng) và xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06 bị hư hỏng nặng.

Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, đã phạm vào tội: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ,” được quy định tại điểm b khoản 3, Điều 260 Bộ luật hình sự.

[3] Hành vi “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ. Bị cáo vi phạm khi điều khiển xe ô tô khách, biển kiểm soát: 37F-002.06 thiếu chú ý quan sát, không nhường đường cho xe được ưu tiên qua khu vực ngã tư đã vi phạm quy định tại điểm b khoản 6 Điều 5 Nghị định 100 ngày 30/12/2019 của Chính Phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt; Vi phạm khoản 1 Điều 24 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019).

[4] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của loại tội phạm. Hành vi phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ mà bị cáo N thực hiện là loại tội phạm thuộc vào trường hợp rất nghiêm trọng, một mình bị cáo thực hiện.

Xét tính tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Hoài N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự giác bồi thường, khắc phục thiệt hại cho các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người phạm tội là người có công với cách mạng đã tham gia Q1 tỉnh nguyên Việt Nam giúp cách mạng Lào được tặng Kỷ niệm chương. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s, x khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Thiệt hại mà bị cáo gây ra đã được bị cáo khắc phục, bồi thường đầy đủ, các bị hại đã phục hồi hoàn toàn sức khỏe và trở lại làm việc, lao động bình thường, không có thiệt hại về tính mạng con người. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng. Với các tình tiết nêu trên, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, thiết nghĩ cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, áp dụng Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt liền kề và cho bị cáo hưởng hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ nghiêm.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Hội đồng xét xử nhận thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo vì vậy miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Đặng Hoài N, anh Nguyễn Đức D1 và anh Hồ Hải H5 (Là chủ sở hữu chiếc xe ô tô, biển số: 37H-037.54, kéo theo Rơ-móoc, biển số: 37R-038.76) đã tự nguyện bồi thường cho những người bị thương với tổng số tiền là: 388.000.000 đồng (Ba trăm tám mươi tám triệu đồng). Ngoài ra, trong quá trình điều tra, anh Nguyễn Đức D1 và anh Hồ Hải H5 đã tự nguyện hỗ trợ cho bị cáo Đặng Hoài N với số tiền: 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng) để khắc phục, sửa chữa lại chiếc xe ô tô khách, biển số: 37F-002.06. Các bị hại và các bên liên quan đã tiến hành thỏa thuận dân sự với nhau và không có yêu cầu bồi thường gì thêm về mặt dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng vụ án: 01 (một) chiếc xe ô tô đầu kéo, nhãn hiệu CNHTC, số loại: ZZ4257, màu xanh, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 và 01 (một) chiếc xe ô tô khách, nhãn hiệu HYUNDAI, số loại: COUNTY, màu vàng- xám, biển số: 37F-002.06. Các vật chứng nêu trên là phương tiện trong vụ tai nạn giao thông, xét không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trả lại tài sản cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật.

[8] Đối với hành vi bị cáo Đặng Hoài N điều khiển xe ô tô khách gây tai nạn dẫn đến 09 (Chín) công nhân gồm: Các chị Bùi Thị H3, Lô Thị H2, Nguyễn Thị L2, Phạm Thị T1, Sầm Thị N1, Trương Thị H4, Trương Thị L1, Trương Thị N2, Trương Thị X ngồi trên xe bị thương nhưng cả 09 (Chín) người này đều có đơn xin từ chối giám định tỷ lệ thương tích nên không có căn cứ xác định trách nhiệm hình sự đối với Đặng Hoài N về hậu quả thiệt hại nêu trên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Đối với hành vi của anh Nguyễn Đức D1 điều khiển xe ô tô, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 gây tai nạn nhưng do khu vực ngã tư là nút giao cùng mức nên xe do Nguyễn Đức D1 điều khiển là xe được ưu tiên đi vào khu vực ngã tư so với xe ô tô, biển số: 37F-002.06 do Đặng Hoài N điều khiển, hơn nữa khi vào ngã tư anh Nguyễn Đức D1 đã điều khiển xe đi với tốc độ cho phép dưới 60km/h theo biển báo giới hạn tốc độ được cắm tại khu vực trên nên hành vi của D1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Nguyễn Đức D1 điều khiển xe ô tô, biển số: 37H-037.54 kéo theo Sơmi-rơmoóc, biển số: 37R-038.76 chở hàng vượt quá trọng tải cho phép tham gia giao thông được ghi trong Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của xe đã vi phạm điểm a khoản 5 Điều 24 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Đức D1 về hành vi này là đúng quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 260; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hoài N 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thử thách 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 25/10/2023). về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Giao bị cáo Đặng Hoài N về cho Ủy ban nhân dân thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, quản lý giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình bị cáo có trách nhiệm với địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách bị cáo được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 điều 65 bộ luật hình sự.

2. Về án phí: Áp dụng, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Hoài N phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Công an huyện Tân Kỳ;
  • - VKSND huyện Tân Kỳ;
  • - Chi cục THADS Tân Kỳ;
  • - Bị cáo; Đương sự;
  • - UBND thị trấn Quỳ Hợp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

T.M/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 65/2023/HSST ngày 25/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 65/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN KỲ, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 65/2023/HSST ngày 28/9/2023
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger