Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN PHÚ NHUẬN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 649/2023/KDTM-ST

Ngày: 18 - 8 - 2023

V/v tranh chấp hợp đồng

mua bán và gửi giữ hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân:

  • - Bà Huỳnh Thu An
  • - Bà Nguyễn Đông Xuân

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Minh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 219/2020/TLST-KDTM ngày 04 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán và gửi giữ hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 153/2023/QĐXXST-KDTM ngày 02 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH T1

Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông

Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/4/2020). (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Công ty CP D

Địa chỉ: 4 P, Phường C, quận P, Tp .

Đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Võ Thái H là đại diện theo pháp luật. (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/4/2020 của Công ty TNHH T1 và quá trình giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thành T là người đại diện của nguyên đơn trình bày:

Công ty TNHH T1 (Gọi tắt là Công ty T1) và Công ty CP D (Gọi tắt là Công ty D) có ký 4 Hợp đồng mua bán và 4 Hợp đồng kinh tế như sau:

  1. Hợp đồng mua bán số B09-20/TP-HN ngày 06/01/2020, Công ty D bán cho Công ty T1 số lượng 100.000 kg Cà phê R loại R2/xô, đơn giá là 32.950 đồng/kg, thành tiền là 3.295.000.000 đồng; Sau đó hai bên tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số KT17-20/TP-HN ngày 07/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D số lượng cà phê trên với giá tạm tính tại thời điểm ký hợp đồng là 32.600 đồng/kg, Công ty D tạm ứng cho Công ty H2 70% giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng. Cùng ngày, hai bên lập Biên bản đối chiếu bù trừ công nợ thể hiện tổng giá trị Công ty T1 phải trả cho Công ty D là 1.013.000.000 đồng.
  2. Hợp đồng mua bán số: B14-20/TP-HN ngày 07/01/2020, Công ty D bán cho Công ty T1 số lượng 100.000 kg Cà phê R loại R2/xô, đơn giá là 32.700 đồng/kg, thành tiền là 3.270.000.000 đồng; Sau đó hai bên tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số KT18-20/TP-HN ngày 07/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D lô hàng cà phê với giá tạm tính tại thời điểm ký hợp đồng là 32.700 đồng/kg, Công ty D tạm ứng cho Công ty H2 70% giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng. Cùng ngày, hai bên lập Biên bản đối chiếu bù trừ công nợ thể hiện tổng giá trị Công ty T1 phải trả cho Công ty D là 981.000.000 đồng.

Tổng cộng Công ty T1 phải đã trả cho Công ty D là 1.994.000 đồng vào ngày 08/01/2020.

  1. Hợp đồng kinh tế số KT37-20/TP-HN ngày 14/01/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi 200.000 kg Cà phê R loại R2/xô, với giá là 32.100 đồng/kg, thành tiền là 6.420.000.000 đồng cho Công ty D, Công ty D tạm ứng cho Công ty H2 70% giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng.
  2. Hợp đồng mua bán số B63-20/TP-HN ngày 04/3/2020, Công ty D bán cho Công ty T1 số lượng 200.000 kg Cà phê R loại R2/xô, đơn giá là 32.600 đồng/kg, thành tiền là 6.520.000.000 đồng; Sau đó hai bên tiếp tục ký Hợp đồng kinh tế số KT84-20/TP-HN ngày 04/3/2020 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký gửi cho Công ty D lô hàng cà phê với giá tạm tính tại thời điểm ký hợp đồng là 32.600 đồng/kg, Công ty D tạm ứng cho Công ty H2 70% giá trị tiền hàng theo giá tạm tính ngày ký hợp đồng. Cùng ngày, hai bên lập Biên bản đối chiếu bù trừ công nợ thể hiện tổng giá trị Công ty T1 phải trả cho Công ty D là 1.956.000.000 đồng. Công ty T1 đã thực hiện thanh toán vào ngày 05 và 09/3/2020.

Ngày 25/3/2020, Công ty DCông ty T1 lập các Biên bản chốt giá và các biên bản thanh lý các hợp đồng kinh tế. Cụ thể:

  • Biên bản chốt giá Hợp đồng kinh tế số KT17-20/TP-HN ngày 07/01/2020 là 30.520 đồng/tấn và hai bên ký Biên bản thanh lý ngày 25/3/2020 của hợp đồng số KT17-20/TP-HN ngày 07/01/2020 thể hiện Công ty D phải trả cho Công ty T1 số tiền 770.000.000 đồng.
  • Biên bản chốt giá Hợp đồng kinh tế số KT18-20/TP-HN ngày 07/01/2020 là 30.520 đồng/tấn và hai bên ký Biên bản thanh lý ngày 25/3/2020 của hợp đồng số KT18-20/TP-HN ngày 07/01/2020 thể hiện Công ty D phải trả cho Công ty T1 số tiền 763.000.000 đồng.
  • Biên bản chốt giá hợp đồng kinh tế số KT37-20/TP-HN ngày 14/01/2020 là 30.570 đồng/tấn và hai bên ký Biên bản thanh lý ngày 25/3/2020 của hợp đồng số KT37-20/TP-HN ngày 14/01/2020 thể hiện Công ty D phải trả cho Công ty T1 số tiền 1.620.000.000 đồng.
  • Biên bản chốt giá hợp đồng kinh tế số KT84-20/TP-HN ngày 04/3/2020 là 30.865 đồng/tấn và hai bên ký Biên bản thanh lý ngày 25/3/2020 của hợp đồng số KT84-20/TP-HN ngày 04/3/2020 thể hiện Công ty D phải trả cho Công ty T1 số tiền 1.609.000 đồng.

Tổng cộng Công ty D phải trả cho Công ty T1 số tiền của 4 Hợp đồng kinh tế là 4.762.000.000 đồng. Công ty T1 đã xuất hóa đơn điều chỉnh giá của 4 Hợp đồng như các Biên bản chốt giá ngày 25/3/2020.

Kể từ ngày ký thanh lý các hợp đồng kinh tế cho đến nay Công ty D vẫn chưa trả số tiền 4.762.000.000 đồng cho Công ty T1 nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền nợ hàng là 4.762.000.000 đồng và lãi suất chậm trả là 0.8%/tháng tính từ ngày 26/3/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm.

Bị đơn là Công ty CP D có người đại diện hợp pháp là ông Võ Thái H trình bày:

Ông H xác định mọi hoạt động kinh doanh của Công ty D là do ông Lê Hải B thực hiện, ông hoàn toàn không biết nội dung cụ thể. Ông không có ý kiến và không có tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án để nộp. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Ông đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, hòa giải và xét xử.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

  • + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
  • + Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:

Công ty TNHH T1 khởi kiện yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán và gửi giữ hàng hóa đối với bị đơn Công ty CP D có trụ sở tại quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về việc vắng mặt của đương sự:

Do các bên đương sự xin vắng mặt nên căn cứ quy định tại các Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.

[3] Về nội dung tranh chấp:

[3.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền là 4.762.000.000 đồng.

Căn cứ các Biên bản thanh lý cùng ngày 25/3/2020 của các hợp đồng số KT17-20/TP-HN ngày 07/01/2020; của hợp đồng số KT18-20/TP-HN ngày 07/01/2020; của hợp đồng số KT37-20/TP-HN ngày 14/01/2020 và của hợp đồng số KT84-20/TP-HN ngày 04/3/2020 thì Công ty CP D phải trả cho Công ty TNHH T1 số tiền 4.762.000.000 đồng. Kể từ ngày ký các biên bản thanh lý các hợp đồng kinh tế cho đến nay Công ty D vẫn chưa trả số tiền trên cho Công ty T1, đã xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả trả số tiền 4.762.000 đồng là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 50 Luật Thương mại.

[3.2] Về yêu cầu trả lãi chậm thanh toán

Nguyên đơn yêu cầu được tính lãi trên số tiền nợ 4.762.000.000 đồng tính từ ngày 26/3/2020 với mức lãi suất 0,8%/tháng. Hội đồng xét xử xét lãi suất nợ trung và dài hạn của Ngân hàng TMCP N là 12%/năm, Ngân hàng N1 là 12,5%/năm, Ngân hàng TMCP C là 12,5%/năm, mức lãi suất quá hạn trung bình được tính là 150% trên mức lãi suất trong hạn. Như vậy mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường là 18,5%/năm. Nguyên đơn chỉ yêu cầu mức lãi suất 0,8%/tháng đương đương với 9,6%/năm là có sơ sở chấp nhận theo Điều 306 Luật Thương mại. Buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi chậm trả từ ngày 26/3/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 18/8/2023 là 4.762.000.000 đồng x 40 tháng 23 ngày x 0,8%/tháng = 1.553.046.933 đồng.

Tổng cộng số tiền nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tính tới ngày xét xử sơ thẩm là 6.315.046.933 đồng.

[4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T1 được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn Công ty CP D phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 24, 50, 55 và Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016;

Căn cứ Điều 11 Nghị quyết số 01/2019 ngày 11/9/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về việc áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;

Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Công ty TNHH T1.

    Buộc Công ty CP D phải trả cho Công ty TNHH T1 số tiền 6.315.046.933 (Sáu tỷ ba trăm mười lăm triệu không trăm bốn mươi sáu ngàn chín trăm ba mươi ba) đồng (Trong đó gốc là 4.762.000.000 đồng và lãi chậm thanh toán là 1.553.046.933) đồng.

  2. Về án phí:

    - Công ty CP D phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 114.315.047 (Một trăm mười bốn triệu ba trăm mười lăm ngàn không trăm bốn mươi bảy) đồng.

    - H1 lại cho Công ty TNHH T1 56.381.000 (Năm mười sáu triệu ba trăm tám mươi mốt ngàn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042714 ngày 04/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về nghĩa vụ thi hành án:

    Kể từ ngày Công ty TNHH T1 có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty CP D không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng Công ty CP D còn phải trả tiền lãi cho Công ty TNHH T1 trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

    Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM;
  • - VKSND quận Phú Nhuận;
  • - CC THADS quận Phú Nhuận;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Út

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 649/2023/KDTM-ST ngày 18/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán và gửi giữ hàng hóa

  • Số bản án: 649/2023/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán và gửi giữ hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa và gửi giữ hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger