TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 648/2025/HS-PT
Ngày: 27-10-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Châu
Các Thẩm phán:1. Ông Trương Công Huấn
2. Ông Nguyễn Văn Hậu
Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 10 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 561/2025/TLPT-HS ngày 09/10/2025 đối với bị cáo Nguyễn Hoài A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ chí Minh, A N, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh;
Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam C (T30), Công an Thành phố H;
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Hoài A; giới tính: Nam; sinh năm 1988, tại tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp); nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở: Số B, tỉnh lộ 2, ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị Ngọc M; chung sống như vợ chồng với Đỗ Thị T1 cùng là bị cáo trong vụ án; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 69/2009/HSST ngày 21/4/2009 của Toà án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 5, Thành phố Hồ Chí Minh) xử phạt 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” của bản án số 177/2008/HSST ngày 30/12/2008 của Tòa án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Toà án nhân dân Khu vực 2, Thành phố Hồ Chí Minh) buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm tù.
Bị bắt, tạm giam từ ngày 31/12/2024; có mặt tại điểm cầu thành phần.
Người tham gia tố tụng khác: Ông Phạm Vinh Q, cán bộ Trại tạm giam C (T30), Công an Thành phố H; có mặt tại điểm cầu thành phần.
Trong vụ án còn có bị cáo Đỗ Thị T1 không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoài A và Đỗ Thị T1 thuê nhà tại địa chỉ B, đường tỉnh lộ 8, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là số B, đường tỉnh lộ 8, ấp B, xã P, Thành phố Hồ Chí Minh) sống chung với nhau như vợ chồng và buôn bán quán ăn. Trong quá trình sinh sống và kinh doanh quán ăn do không có tiền tiêu xài nên A bàn bạc, rủ T1 lên mạng tìm mua thiết bị điện tử. Khi có người giao hàng, T1 tìm cách nói dối có con nhỏ về nhà trông để chủ tài sản tin tưởng rời đi để A và T1 chiếm đoạt tài sản. Vào ngày 24/12/2024, A sử dụng tài khoản zalo "Tinh Hoa Ẩm Thực" tìm thấy tài khoản zalo của ông Nguyễn Phương T2 là chủ cửa hàng mua bán thiết bị điện tử đặt mua 02 cây đèn led với số tiền 5.700.000 đồng, ông T2 đồng ý và cho nhân viên giao hàng tại quán ăn của A, T1 nhưng chưa trả tiền.
Vào ngày 25/12/2024, A tiếp tục liên hệ với ông T2 mua 06 laptop hiệu Thinkpad với số tiền 34.200.000 đồng, khi nhân viên đến giao, A lấy lý do kiểm tra máy và yêu cầu nhân viên đi về. Sau đó, A tiếp tục lấy lý do báo có 01 máy bị lỗi, để kiểm tra lại và tiếp tục mua ông T2 01 dàn loa âm thanh với số tiền 90.000.000 đồng. Ân yêu cầu Trọng liên L với Nguyễn Văn S đến để chở hàng về tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp), ông S đồng ý hẹn 00 giờ 00 phút ngày 27/12/2024 đến quán ăn để chở hàng và nhờ Nguyễn Đăng H đi cùng.
Vào khoảng 00 giờ 00 phút ngày 27/12/2024, ông T2 cùng 03 nhân viên đến lắp ráp dàn loa, A bỏ đi ra ngoài nhắn tin cho T1 kêu viện lý do để cho ông T2 và nhân viên đi về. T1 lấy lý do có con nhỏ phải về trông, để sáng hôm sau làm tiếp, tin lời T1, ông T2 và nhân viên đi thuê phòng nghỉ. Khi ông T2 và nhân viên đi ra khỏi quán, A về nhà, gọi S, H đến chở tài sản chiếm đoạt được về nhà thuê trước đó tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp) cất giấu. Đỗ Thị T1 lấy 3 laptop mang đến cửa hàng H2 địa chỉ: Thị trấn M, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là khu phố A, xã T, tỉnh Đồng Tháp) do ông Võ Văn H1 làm chủ bán mỗi máy 3.200.000 đồng, tổng cộng 9.600.000 đồng, khi T1 đi về thì bị công an mời về trụ sở làm việc.
Khám xét nơi ở của Nguyễn Hoài A tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp) thu giữ 02 đèn led hiệu KTV; 01 dàn loa âm thanh bao gồm: 01 tủ máy nhôm, màu xanh rêu, 01 cục đẩy 2K hiệu CA, 01 cục đẩy 4K kênh JBL, 01 con vang X5 hiệu TXA, 01 bộ micro hiệu Benly, 01 bộ quản lý nguồn hiệu SB K90 Pro, 01 mixer hiệu Soundcraft, 02 loa Sub Kep hiệu 432, 06 loa Array hiệu 432, 02 loa Monitor hiệu 432, Dây điện loa summer, 01 bộ J hiệu Neutrick; 03 máy laptop hiệu Lenovo Thinkpad.
Kết luận định giá tài sản số 170/KL-HĐĐGTS ngày 31/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự:
- 01 tủ máy nhôm, màu xanh rêu trị giá 2.500.000 đồng;
- 01 cục đẩy 2K hiệu CA trị giá 7.500.000 đồng;
- 01 cục đẩy 4K kênh JBL trị giá 9.500.000 đồng;
- 01 con vang X5 hiệu TXA trị giá 3.600.000 đồng;
- 01 bộ micro hiệu Benly trị giá 3.800.000 đồng;
- 01 bộ quản lý nguồn hiệu SB K90 Pro trị giá 1.500.000 đồng;
- 01 mixer hiệu Soundcraft trị giá 3.800.000 đồng;
- 02 loa Sub Kep hiệu 432 trị giá 10.000.000 đồng;
- 06 loa Array hiệu 432 trị giá 25.800.000 đồng;
- 02 loa Monitor hiệu 432 trị giá 5.000.000 đồng;
- Dây điện loa summer trị giá 3.000.000 đồng;
- 01 bộ Jack hiệu Neutrick trị giá 2.000.000 đồng;
- 06 cái Laptop hiệu Lenovo Thinkpad trị giá 30.000.000 đồng;
- 02 đèn led hiệu KTV trị giá 5.000.000 đồng;
Tổng trị giá tài sản 113.000.000 đồng (một trăm mười ba triệu đồng).
Bản Cáo trạng số 279/CT-VKS.CC ngày 09/6/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Hoài A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/12/2024.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên xử phạt bị cáo Đỗ Thị T1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, nhưng cho hưởng án treo và xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/9/2025, bị cáo Nguyễn Hoài A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cho rằng không thực hiện hành vi lừa đảo như bản án đã xét xử, bị cáo kêu oan.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án sơ thẩm số 168/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự và căn cứ các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Toà án sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ. Sau khi xét xử sơ thẩm 05/9/2025 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời gian luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Mức hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội và kêu oan, tuy nhiên căn cứ các tài liệu, chứng cứ cơ quan điều tra thu thập chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy không có cơ sở chấp nhận lời khai kêu oan của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị cáo Nguyễn Hoài A tham gia tranh luận: Bị cáo không chiếm đoạt tài sản và đề nghị xem xét đơn kháng cáo bổ sung của bị cáo. Bị cáo không phạm tôi nên bị cáo không nhận tội. Bị cáo bị ép cung, đánh đập bắt bị cáo ký tên vào biên bản trống. Bị cáo nhập viện từ 31/12/2024 đến 09/01/2025 mới về và liên tục bị ói ra máu. Bị cáo không được đối chất với bị hại hay bị cáo T1. Bị cáo yêu cầu được đối chất trước tòa và xem xét lại toàn bộ vụ án. Bị cáo muốn nhận lại tài sản của mình. Thủ tục tố tụng là không đúng, vi phạm pháp luật. Không có biên bản hỏi cung nào là của bị cáo, bị cáo sắp chết nhưng bị cáo cần có sự công bằng, bị cáo bị oan. Bị cáo đề nghị xem xét về tài sản của bị cáo đã bị bị cáo T1 đem bán là không đúng quy định pháp luật. Bị cáo và T1 không có mối quan hệ nào mà tự ý bán tài sản của bị cáo giá trị gần 500 triệu đồng là không đúng.
Kiểm sát viên đối đáp: Viện kiểm sát chỉ xem xét đối với Đơn kháng cáo của bị cáo và không nhận được Đơn kháng cáo bổ sung của bị cáo. Các ý kiến khác của bị cáo đều đã được chứng minh trong hồ sơ qua những bản tường trình, biên bản hỏi cung, biên bản đối chất, các biên bản làm việc có chữ ký đầy đủ của bị cáo có cả biên bản làm việc với Kiểm sát viên cùng các chứng cứ tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, không có căn cứ bị cáo không phạm tội, Viện kiểm sát bảo lưu quan giải quyết vụ án.
Lời nói sau cùng: Bị cáo bị oan và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều tra lại vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài A trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo, bị cáo kêu oan cho rằng bị Điều tra viên đánh đập, ép cung nên đã khai theo nội dung ghi sẵn hoặc ký vào tờ giấy trắng.
[3] Xét kháng cáo kêu oan của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ bản tự khai, biên bản ghi lời khai cùng ngày 29/12/2024, biên bản hỏi cung bị can (từ bl 78 đến bl 83) cùng các biên bản đối chất giữa bị cáo với bị cáo Đỗ Thị T1 là người chung sống như vợ chồng, biên bản đối chất giữa bị cáo với bị hại Nguyễn Phương T2, biên bản nhận dạng đều có kiểm sát viên tham gia, tại cuối các biên bản bị cáo đều xác nhận đã đọc lại lời khai của bị cáo là đúng. Do đó, có đủ cơ sở xác định lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra được cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện khách quan, không có cơ sở xác định bị cáo bị đánh đập, ép cung như bị cáo nêu. Lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Hoài A phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác như biên bản khi khám xét thu giữ vật chứng, lời khai của người làm chứng của ông Nguyễn Văn S, Nguyễn Đăng H là người được các bị cáo thuê chở tài sản chiếm đoạt từ quán ăn về nơi ở bị cáo A thuê từ trước tại ấp M, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang (nay là ấp M, xã T, tỉnh Đồng Tháp) có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra thu thập để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo có đủ cơ sở kết luận: Từ ngày 24/12/2024 đến ngày 27/12/2-24, bị cáo Nguyễn Hoài A cùng Đỗ Thị T1 đã có hành vi gian dối chiếm đoạt số tài sản như đã nêu trên của ông Nguyễn Phương T2. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 113.000.000 đồng (một trăm mười ba triệu đồng). Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoài A cùng đồng phạm đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng người, đúng tội, không oan sai.
[4] Hành vi của bị cáo Nguyễn Hoài A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội. Xét, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ nhân thân, vai trò chủ mưu của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ và giá trị tài sản chiếm đoạt, xử phạt bị cáo 04 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo A kêu oan là không có căn cứ nên không được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đồng thời bị cáo đã 02 lần bị xét xử về nhóm tội chiếm đoạt tài sản dù đã được xóa án tích theo quy định của pháp luật nhưng cho thấy bị cáo có nhân thân xấu. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây cũng là lập luận để chấp nhận quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[5] Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Hoài A phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hoài A, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 168/2025/HS-ST ngày 29/8/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 8, Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo Nguyễn Hoài A như sau:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài A 04 (bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 31/12/2024.
Bị cáo Nguyễn Hoài A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Châu |
Bản án số 648/2025/HS-PT ngày 27/10/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 648/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/10/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm
