Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

Bản án số: 647/2024/HS-PT

Ngày 15/8/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

--------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyển;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Điền;

Ông Đặng Văn Hưng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Nhạn – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 532/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2024/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Tuấn T, sinh ngày 21/09/1988 tại Nghệ An; nơi thường trú: Số A đường D, khối C, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình H (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt truy nã, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/12/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Công G và Luật sư Hồ Công H1, Công ty L5, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị Bích H2, sinh năm: 1958; địa chỉ: Số A phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Xuân K, sinh năm 1958; địa chỉ: Số A phố Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. Có mặt.

1

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có kháng cáo: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1959; địa chỉ: Số A đường D, khối C, phường T, TP V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào năm 2010, bà Nguyễn Thị Bích H2 quen biết Nguyễn Tuấn T thời điểm đó là chiến sỹ Cảnh sát bảo vệ thuộc Trung đoàn Cảnh sát bảo vệ mục tiêu (E9) - Cục Cảnh sát bảo vệ - T5 - Bộ C thường xuyên đứng gác tại cổng E T, quận H, thành phố Hà Nội. Khoảng tháng 08/2010, T nói dối bà H2 là T có bố là ông Nguyễn Đình H đang giữ chức vụ Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N có quan hệ rộng, quen biết nhiều lãnh đạo ở T6 - Bộ C, có thể xin cho các trường hợp thi trượt Học viện C1 vào học các trường Trung cấp Công an nhân dân và xin đi nghĩa vụ tại Cục cảnh sát bảo vệ, với chi phí mỗi trường hợp là 200.000.000 đồng.

Bà H2 tin tưởng nên nhờ T xin cho cháu là anh Nguyễn Bá L thi trượt Học viện C1, có nguyện vọng vào học trường Trung cấp Cảnh sát vũ trang, T đồng ý và yêu cầu bà H2 đưa phiếu báo điểm thi cùng số tiền 200.000.000 đồng. Bà Hoàng Thị H3 (mẹ anh L) đã đưa cho bà H2 100.000.000 đồng và bản phô tô phiếu báo điểm thi đại học của anh L để nhờ bà H2 xin học cho anh L. Ngày 15/9/2010, bà H2 chuyển tiền vào tài khoản số 711A09642829 tại Ngân hàng V3 mang tên Nguyễn Tuấn T và đưa phiếu báo điểm thi của anh L cho T.

Khoảng 01 tuần sau, T nói với bà H2 hiện nay các trường Trung cấp Công an đang có chỉ tiêu bổ sung, nếu bà H2 có con, cháu người quen nào có nhu cầu vào học trong các trường Trung cấp Công an nhân dân thì đưa phiếu báo điểm và số tiền 200.000.000 đồng/người để T nhờ bố T xin cho. Tin tưởng T, bà H2 đã nói với bà Nguyễn Thị Hồng V1, bà Phạm Ái T1, bà Hoàng Thị Hồng K1, ông Vũ T2 về việc T giới thiệu có khả năng xin học cho các trường hợp thi trượt các trường Đại học C2 vào học các trường Trung cấp Công an nhân dân như T giới thiệu với bà H2. Khoảng cuối tháng 12 năm 2010, ông T2 đã đi cùng bà H2 gặp T tại một quán cafe trên đường T, quận H, thành phố Hà Nội, T cũng giới thiệu với ông T2 như giới thiệu với bà H2 và nói với ông T2 là yên tâm mọi việc T làm việc với bà H2. Sau đó, khoảng tháng 12/2010, bà Nguyễn Thị Hồng V1 đã đưa cho bà H2 số tiền 550.000.000 đồng (kèm theo phiếu báo điểm thi đại học bản phô tô của anh N, anh L1 và anh L2) để nhờ bà H2 xin cho 03 cháu là người quen của bà V1 là anh

2

Nguyễn Mạnh N1, anh Lê Hữu L3 vào học trường T7, Bộ C; anh Doãn Đại L4 vào học trường T8. Bà Phạm Ái T1 đã đưa cho bà H2 150.000.000 đồng (kèm theo giấy báo điểm thi đại học bản phô tô của anh K2 là cháu ruột bà T1) để nhờ bà H2 xin cho anh Phạm Quốc K3 vào học trường C2. Ông Vũ T2 đã đưa cho bà H2 300.000.000 đồng (kèm theo phiếu báo điểm thi đại học bản phô tô của anh Đ và anh T3) để nhờ bà H2 xin cho 02 cháu là anh Nguyễn Xuân Đ1 và anh Nguyễn Nhật T4 vào học trường T7, Bộ C. Bà Hoàng Thị Hồng K1 đã đưa cho bà H2 170.000.000 đồng (kèm theo phiếu báo điểm thi đại học bản phô tô của anh H2) để nhờ bà H2 xin cho anh Nguyễn Xuân H4 (là con trai bà K1) vào học trường Trung cấp Cảnh sát phòng cháy chữa cháy.

Bà H4 thống nhất với các trường hợp xin vào học trường C2, khi có giấy báo nhập học sẽ đưa số tiền còn lại cho bà H4. Tổng số tiền bà H4 nhận để xin học cho 08 trường hợp trên là 1.170.000.000 đồng. Vì Nguyễn Tuấn T yêu cầu mỗi trường hợp phải nộp 200.000.000 đồng, nên bà H4 đã ứng thêm số tiền 430.000.000 đồng của mình để chuyển cho T mỗi trường hợp đủ 200.000.000 đồng. Trong thời gian từ ngày 15/9/2010 đến ngày 02/3/2011, bà H4 đã chuyển 20 lần vào tài khoản ATM của Nguyễn Tuấn T số 711A09642829 tại Ngân hàng V3 (Giấy nộp tiền kiêm ủy nhiệm chuyển tiền đều ghi: Chuyển tiền vào tài khoản cho Nguyễn Tuấn T) với tổng số tiền là 1.635.000.000 đồng (trong đó 1.600.000.000 đồng để nhờ xin học cho 08 trường hợp, còn 35.000.000 đồng là bà H4 cho T vay). Sau khi nhận tiền, T cam kết đến ngày 02/3/2011 sẽ có giấy báo nhập học.

Đến ngày 02/3/2011, bà H4 tìm gặp T để lấy giấy báo nhập học nhưng không tìm được, gọi điện thoại T không nghe máy nên đã đến đơn vị của T tìm thì được biết T đã được xuất ngũ về nơi cư trú, kể từ ngày 12/01/2011 (theo Quyết định số 51/QĐ-C65(P2) ngày 12/01/2011 của Cục T5 quản lý hành chính về TTATXH). Bà H4 tiếp tục tìm hiểu thì được biết ông Nguyễn Đình H (bố đẻ T) không phải là Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N.

Ngày 05/3/2011, bà H4 gửi đơn đến Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố H (PC46) tố cáo Nguyễn Tuấn T có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt số tiền 1.635.000.000 đồng, Cơ quan điều tra, Công an thành phố H triệu tập T đến làm việc nhưng T không đến. Ngày 28/3/2011, Nguyễn Tuấn T viết Bản tường trình gửi (bưu điện) cho Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC46) – Công an thành phố H với nội dung: “Qua quen biết với bà Nguyễn Thị Bích H2, bà H2 có hỏi số tài khoản ATM của T và đề nghị để bà H2 gửi một ít tiền vào thẻ ATM của T và nhờ T rút hộ đưa cho bà H2. Từ khoảng tháng 10/2010 bà H2 đã gửi tiền vào tài khoản của T nhiều lần và T cũng đã rút tiền nhiều đợt đưa lại cho bà H2, mỗi lần như vậy bà H2 cho T 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng và đến ngày 31/01/2011 T có Quyết định ra khỏi ngành thì số tiền của bà H2 trong tài khoản thẻ còn khoảng 600.000.000

3

đồng. Vì số tiền bà H2 gửi không rõ ràng nên T không rút đưa cho bà H2 nữa. Đến đầu tháng 03/2011, Bà H2 vào nhà T tại số C L, K, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An và nói với bố T là ông Nguyễn Đình H, Sau đó bố T động viên T rút tiền trả bà H2. T thực hiện lời ông H, đến Ngân hàng TMCP C3, Chi nhánh B, thành phố V, tỉnh Nghệ An để rút tiền thì xe bà H2 đuổi theo T, vì sợ nên T đã bỏ chạy. T cam kết trả lại bà H2 số tiền trên”.

Tại Bản Kết luận giám định số 4195/PC54(GĐ) ngày 13/7/2012, Phòng K4 - Công an thành phố H kết luận: Chữ viết, chữ ký trên “Bản tường trình” đứng tên Nguyễn Tuấn T, đề ngày 28/3/2011 với mẫu so sánh là chữ do cùng một người viết và ký ra.

Ngày 02/12/2013, Cơ quan điều tra, Công an tỉnh N ghi lời khai của T, T khai nhận như nội dung bản tường trình trên, T không đưa ra thông tin bố của T làm Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, T không cam kết xin cho các cháu của bà H2 vào trường Trung cấp Công an và cũng không chiếm đoạt bất cứ số tiền nào của bà H2.

Ngày 19/02/2014, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh N, bà Nguyễn Thị V (là mẹ đẻ của T) và bà Nguyễn Thị Bích H2 lập biên bản thỏa thuận (có sự chứng kiến của đồng chí Nguyễn Viết H5 - Trưởng phòng PC45, Công an tỉnh N), về việc gia đình bà V sẽ có trách nhiệm trả cho bà H2 thay T một nửa số tiền 1.635.000.000 đồng là 800.000.000 đồng với điều kiện bà H2 phải rút đơn tố giác và Cơ quan điều tra phải ra quyết định không khởi tố vụ án đối với vụ việc trên. Ngày 01/6/2018, bà Nguyễn Thị V đã trả cho bà H2 200.000.000 đồng, ngày 28/6/2019 bà H2 có đơn xin rút đơn tố giác đối với T vì gia đình T đã cam kết trả tiền cho bà H2. Sau đó gia đình T không trả tiền cho bà H2 nên bà H2 lại đề nghị điều tra, xử lý T theo quy định của pháp luật. Tổng số tiền T chưa trả cho bà H2 là 1.435.000.000 đồng (Trong đó tiền xin học là 1.400.000.000 đồng, tiền bà H2 cho T vay 35.000.000 đồng). Cơ quan điều tra triệu tập T đến làm việc nhưng T không đến, kết quả xác minh xác định T bỏ trốn nên đã ra quyết định truy nã, ngày 24/12/2022 Nguyễn Tuấn T bị bắt theo quyết định truy nã (tại Công an phường F, quận T, thành phố Hồ Chí Minh).

Kết quả xác minh tại Học viện C1 và Trường Đại học P, Bộ C, của 08 thí sinh Nguyễn Mạnh N1, Doãn Đại L4, Lê Hữu L3, Nguyễn Nhật T4, Nguyễn Xuân Đ1, Phạm Quốc K3, Nguyễn Bá L, Nguyễn Xuân H4 đều không trúng tuyển, không tham gia học tập tại các khóa đại học, trung cấp từ năm 2010 đến nay.

Xác minh tại Ngân hàng V3 chi nhánh B (nay là chi nhánh V4), xác định bà Nguyễn Thị Bích H2 nhiều lần chuyển tiền vào tài khoản của T mở tại Ngân hàng V3. Nguyễn Tuấn T đã nhiều lần rút tiền, nhiều lần chuyển tiền đến tài khoản của

4

Thái Thị Hoài A mở tại Ngân hàng V3 (nhưng không xác định được ai là người rút tiền).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Tuấn T không thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai bà H2 hỏi mượn số tài khoản của T để chuyển số tiền 1.635.000.000 đồng rồi nhờ T rút tiền mặt ra đưa lại cho bà H2, mỗi lần rút tiền mặt ra đưa cho bà H2 thì bà H2 cho T từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Thời điểm bà H2 vào thành phố V để đòi tiền thì tài khoản của T còn 638.922.405 đồng. Vì số tiền bà H2 chuyển không rõ ràng nên T không rút tiền mặt đưa lại cho bà H2 mà T nhờ bố là ông Nguyễn Đình H chuyển trả lại cho bà H2 (ông Nguyễn Đình H đã chết vào năm 2021 nên không có căn cứ để xác minh làm rõ). Sau đó, T bỏ trốn sang Lào và không liên lạc với bà H2 nữa. Cơ quan điều tra cho bà H2 đối chất với T nhưng hai bên vẫn giữ nguyên lời khai của mình.

Bà Nguyễn Thị Bích H2 khai do tin tưởng T nên đã nhận 1.170.000.000 đồng của các bị hại nêu trên để xin học cho 08 cháu và đã ứng thêm tiền của cá nhân là 430.000.000 đồng để chuyển cho T tổng số 1.600.000.000 đồng, ngoài ra bà H2 còn cho T vay 35.000.000 đồng, tổng số tiền bà H2 chuyển cho T là 1.635.000.000 đồng. Sau khi bà H2 biết T không xin học cho các cháu mà chiếm đoạt số tiền trên thì bà H2 đã ứng tiền cá nhân của mình trả lại hết cho các bị hại (hiện không ai có yêu cầu bồi thường gì). Bà H2 đề nghị buộc T trả số tiền đã chiếm đoạt, không yêu cầu T trả số tiền vay là 35.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2024/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 24/12/2022.

Về dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Tuấn T phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Bích H2 1.600.000.000 đồng. Buộc bà Nguyễn Thị Bích H2 phải trả bà Phạm Thị V2 200.000.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án, xử lý vật chứng, về án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06/4/2024, bị cáo Nguyễn Tuấn T kháng cáo về tội danh; ngày 10/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V kháng cáo yêu cầu trả lãi đối với số tiền 200.000.000 đồng mà bà Nguyễn Thị Bích H2 có nghĩa vụ trả lại cho bà V và đề nghị xem xét dấu hiệu bỏ lọt tội phạm đối với bà Nguyễn Thị Bích H2.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Tuấn T thay đổi kháng cáo, bị cáo

5

không kêu oan, không đề nghị xem xét về tội danh mà đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt; bị cáo thừa nhận đã nhận tiền của bà H2 nhưng sau đó đã rút ra và trả bà H2 1.000.000.000 đồng; số tiền còn lại chưa trả được vì khi rút tiền bà H2 cho xã hội đen đuổi nên bỏ chạy; cần xem xét lại tại sao bà H2 lại tin tưởng người lính nghĩa vụ như bị cáo; xem xét bà H2 vi phạm những điều Đảng viên không được làm; bà H2 phải xác minh thông tin bị cáo đưa ra có đúng không. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét khách quan, toàn diện vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V rút kháng cáo và đồng ý bồi thường thay cho nghĩa vụ của bị cáo đối với bị hại số tiền 200.000.000 đồng đã đưa cho bị hại trước đó.

Bị hại là bà Nguyễn Thị Bích H2 đồng ý đối trừ số tiền 200.000.000 đồng bị hại phải trả cho bà Nguyễn Thị V với số tiền 1.600.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Tuấn T có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại, đề nghị HĐXX phúc thẩm ghi nhận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Tuấn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan; Đề nghị HĐXX áp dụng thêm điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ 01 - 02 năm tù, sửa một phần quyết định của bản án sơ thẩm về phần bồi thường.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Trên cơ sở kháng cáo của bị cáo, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về hòa nhập cùng gia đình, trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V rút toàn bộ kháng cáo, xét việc rút kháng cáo của bà V là tự nguyện, không bị ai ép buộc, căn cứ quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX phúc thẩm đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bà Nguyễn Thị V.

[2]. Bị cáo Nguyễn Tuấn T thừa nhận hành vi phạm tội như cấp sơ thẩm đã quy kết, lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Tuấn T tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị hại, người liên quan, người làm chứng, Bản trường trình của bị cáo ngày 28/3/2011, Biên bản thỏa thuận được lập ngày 19/02/2014 tại Cơ quan CSĐT – Công an tỉnh N, Kết luận giám định, các công văn phúc đáp của

6

Học Viện C1, Bộ C, Trường Đại học P, Bộ C, xác minh tại Ngân hàng V3 – Chi nhánh B về thông tin biến động số dư tài khoản của Nguyễn Tuấn T cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng tháng 08/2010, Nguyễn Tuấn T đưa ra thông tin gian dối giới thiệu với bà Nguyễn Thị Bích H2 có bố là ông Nguyễn Đình H đang giữ chức vụ Thủ trưởng Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N, có quan hệ rộng, quen biết nhiều lãnh đạo ở T6 - Bộ C, có thể xin cho các trường hợp thi trượt Học viện C1 vào học trong các trường Trung cấp công an nhân dân với chi phí mỗi trường hợp là 200.000.000 đồng. Bà H2 tin tưởng đã nói với một số người quen, thân của mình về việc T đưa ra thông tin như đã nêu trên, có 05 người đã đưa tiền cho bà H2 để đưa cho T nhờ xin học cho 08 trường hợp, như sau: Bà Hoàng Thị H3 đưa cho bà H2 100.000.000 đồng để xin học cho anh Nguyễn Bá L; Bà Nguyễn Thị Hồng V1 đưa cho bà H2 550.000.000 đồng để xin học cho anh Nguyễn Mạnh N1, anh Doãn Đại L4; anh Lê Hữu L3; Bà Phạm Ái T1 đưa cho bà H2 150.000.000 đồng xin học cho anh Phạm Quốc K3; Ông Vũ T2 đưa cho bà H2 300.000.000 đồng để nhờ xin học cho anh Nguyễn Xuân Đ1 và anh Nguyễn Nhật T4; Bà Hoàng Thị Hồng K1 đưa cho bà H2 170.000.000 đồng để nhờ xin học cho anh Nguyễn Xuân H4, tổng số tiền bà H4 nhận của 5 bị hại trên là 1.170.000.000 đồng, bà H4 thống nhất với các bị hại khi có giấy báo nhập học sẽ đưa cho bà H4 số tiền còn lại, nên trong thời gian từ ngày 15/9/2010 đến ngày 02/3/2011, bà H4 đã 20 lần chuyển cho T với tổng số tiền là 1.635.000.000 đồng (trong đó có tiền của bà H4 ứng ra cho các bị hại là 430.000.000 đồng, tiền bà H4 cho T vay là 35.000.000 đồng) vào tài khoản ATM số 711A09642829 tại Ngân hàng V3 của Nguyễn Tuấn T. Sau khi nhận tiền T không xin học cho 08 cháu như cam kết mà đó bỏ trốn chiếm đoạt toàn bộ số tiền đã nhận là 1.635.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân. Hiện gia đình T đã bồi thường cho bà H4 là 200.000.000 đồng, số tiền chưa bồi thường cho bà H4 là 1.435.000.000 đồng. Hành vi gian dối của bị cáo còn được thể hiện khi biết được thông tin bị bà Nguyễn Thị Bích H2 tố cáo Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã không ra làm việc tại Cơ quan điều tra, không hợp tác với Cơ quan điều tra để làm rõ việc bị cáo bị tố cáo có đúng sự thật hay không mà bỏ trốn dẫn đến bị truy nã và bị bắt ngày 24/12/2022 theo quyết định truy nã (tại Công an phường F, quận T, TP Hồ Chí Minh).

Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử bị cáo Nguyễn Tuấn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, không oan như những gì bị cáo bào chữa ở cấp sơ thẩm.

[3]. Về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Tuấn T, HĐXX thấy:

7

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng trách nhiệm hình sự nào, mặc dù quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo không thành khẩn nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã động viên bà Nguyễn Thị V (mẹ đẻ bị cáo) sử dụng số tiền 200.000.000 đồng đưa cho bà Nguyễn Thị Bích H2 trước đó để thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại thay cho bị cáo nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn xuất trình thêm tài liệu mới thể hiện bị cáo đã từng có thời gian (04 năm) thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân, bố đẻ bị cáo là ông Nguyễn Đình H quá trình công tác, phục vụ trong lực lượng Công an nhân dân đạt được nhiều thành tích xuất sắc, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất, hạng Ba, Huy chương chiến sỹ vẻ vang hạng Nhất, hạng Nhì, hạng Ba, Huy chương vì an ninh Tổ quốc, Huân chương bảo vệ Tổ quốc hạng Ba; bị cáo có bà là người có công với cách mạng, được tặng thưởng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng. Như vậy, xem xét khách quan, toàn diện vụ án; trên cơ sở cân nhắc, xem xét tới các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng, nhân thân của bị cáo và sự chuyển biến trong thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo cùng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì có cơ sở để HĐXX chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng pháp luật, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Việc giảm nhẹ một phần hình phạt nhưng vẫn áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục riêng bị cáo, phòng ngừa chung tội phạm.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 200.000.000 đồng đã đưa cho bị hại trước đó thay cho nghĩa vụ của bị cáo, được bị hại, bị cáo chấp nhận và đề nghị HĐXX phúc thẩm ghi nhận. Vì vậy, HĐXX phúc thẩm ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị V, đối trừ số tiền 200.000.000 đồng này với phần trách nhiệm dân sự của bị cáo Nguyễn Tuấn T đối với bị hại Nguyễn Thị Bích H2.

[5] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Nguyễn Tuấn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí phúc thẩm.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng

8

nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V.

Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị V, bà Nguyễn Thị Bích H2 và bị cáo Nguyễn Tuấn T về việc bà Nguyễn Thị V tự nguyện bồi thường số tiền 200.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Thị Bích H2 thay cho nghĩa vụ bồi thường của bị cáo Nguyễn Tuấn T; Bị cáo Nguyễn Tuấn T còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bích H2 số tiền 1.400.000.000 đồng. Bị hại Nguyễn Thị Bích H2 không phải trả lại bà Nguyễn Thị V số tiền 200.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì còn phải trả cho bên được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tuấn T; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 174/2024/HS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về hình phạt đối với bị cáo, cụ thể:

Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn T 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày bắt giữ 24/12/2022.

  1. Bị cáo Nguyễn Tuấn T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị V không phải chịu án phí phúc thẩm.

9

  1. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  1. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I – TANDTC;
  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THADS thành phố Hà Nội;
  • - Công an thành phố Hà Nội;
  • - TTG - Công an thành phố Hà Nội;
  • - Bị cáo (qua TTG);
  • - Người tham gia tố tụng khác (theo đ.c);
  • - Lưu: P. HCTP, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Phạm Văn Tuyển

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 647/2024/HS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 647/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 08/2010, Nguyễn Tuấn T đưa ra thông tin gian dối giới thiệu với bà Nguyễn Thị Bích H có bố là ông Nguyễn Đình H1 đang giữ chức vụ Thủ trưởng Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh N, có quan hệ rộng, quen biết nhiều lãnh đạo ở T4 - Bộ C, có thể xin cho các trường hợp thi trượt Học viện C1 vào học trong các trường Trung cấp công an nhân dân với chi phí mỗi trường hợp là 200.000.000 đồng. Bà H tin tưởng đã nói với một số người quen, thân của mình về việc T đưa ra thông tin như đã nêu trên, có 05 người đã đưa tiền cho bà H để đưa cho T nhờ xin học cho 08 trường hợp, như sau: Bà Hoàng Thị H2 đưa cho bà H 100.000.000 đồng để xin học cho anh Nguyễn Bá L; Bà Nguyễn Thị Hồng V đưa cho bà H 550.000.000 đồng để xin học cho anh Nguyễn Mạnh N, anh Doãn Đại L1; anh Lê Hữu L2; Bà Phạm Ái T1 đưa cho bà H 150.000.000 đồng xin học cho anh Phạm Quốc K; Ông Vũ T2 đưa cho bà H 300.000.000 đồng để nhờ xin học cho anh Nguyễn Xuân Đ và anh Nguyễn Nhật T3; Bà Hoàng Thị Hồng K1 đưa cho bà H 170.000.000 đồng để nhờ xin học cho anh Nguyễn Xuân H3, tổng số tiền bà H3 nhận của 5 bị hại trên là 1.170.000.000 đồng, bà H3 thống nhất với các bị hại khi có giấy báo nhập học sẽ đưa cho bà H3 số tiền còn lại, nên trong thời gian từ ngày 15/9/2010 đến ngày 02/3/2011, bà H3 đã 20 lần chuyển cho T với tổng số tiền là 1.635.000.000 đồng (trong đó có tiền của bà H3 ứng ra cho các bị hại là 430.000.000 đồng, tiền bà H3 cho T vay là 35.000.000 đồng) vào tài khoản ATM số 711A09642829 tại Ngân hàng V1 của Nguyễn Tuấn T. Sau khi nhận tiền T không xin học cho 08 cháu như cam kết mà đó bỏ trốn chiếm đoạt toàn bộ số tiền đã nhận là 1.635.000.000 đồng để sử dụng vào mục đích cá nhân. Hiện gia đình T đã bồi thường cho bà H3 là 200.000.000 đồng, số tiền chưa bồi thường cho bà H3 là 1.435.000.000 đồng. Hành vi gian dối của bị cáo còn được thể hiện khi biết được thông tin bị bà Nguyễn Thị Bích H tố cáo Lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã không ra làm việc tại Cơ quan điều tra, không hợp tác với Cơ quan điều tra để làm rõ việc bị cáo bị tố cáo có đúng sự thật hay không mà bỏ trốn dẫn đến bị truy nã và bị bắt ngày 24/12/2022 theo quyết định truy nã (tại Công an phường F, quận T, TP Hồ Chí Minh).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger