|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 647/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 16/6/2025.
V/v tranh chấp về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm .
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Văn Quản;
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên .
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh .
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Huyền Trang- Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 6 năm 2025, tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1433/2024/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2024,về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 776/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2025,giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim N,sinh năm 1986. (Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Cao Xuân L, sinh năm 1981 (Có đơn xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A, khu phố A, phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản tiến hành hòa giải, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim N trình bày:
Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Cao Xuân L tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 90/2010 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 26/02/2010. Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân cãi nhau do ông L quen biết người phụ nữ khác bên ngoài, thậm chí ông L còn đánh và xúc phạm bà Kim N. Bà Kim N và ông L đã ly thân từ năm 2018 đến nay. Bà Kim N tạo điều kiện nhiều lần để hàn gắn gia đình nhưng ông L không thay đổi. Bà Kim N rất mệt mỏi đối với cuộc hôn nhân này về tinh thần. Nay, bà Kim N cảm thấy không còn niềm tin và thương yêu, quý trọng ông Lương N1, không thể đoàn tụ được nữa, bà Kim N đề nghị sớm được ly hôn để ổn định cuộc sống và tinh thần. Vì vậy, bà Kim N yêu cầu ly hôn với ông Cao Xuân L.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung : Cao Nguyễn Minh C, sinh năm: 2010 và Cao Nguyễn Phúc T, sinh năm: 2014 sẽ do bà Nguyễn Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng các con theo nguyện vọng các con, ông Cao Xuân L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con : 1.000.000 (Một triệu) đồng / tháng /con đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Kim N xác định ông L và bà Kim N tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Nguyễn Thị Kim N có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn giữa bà với ông Cao Xuân L, lý do: bà Kim N bận đi làm không thể xin nghỉ được, bà Kim N vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án, bà Kim N không bổ sung hay thay đổi ý kiến gì thêm.
Tại bản tự khai của cháu Cao Nguyễn Minh C và cháu Cao Nguyễn Phúc T trình bày: nếu Ba Mẹ ly hôn thì các cháu muốn sống với mẹ là bà Nguyễn Thị Kim N, các cháu có chứng kiến Ba đánh Mẹ khoảng năm 2021.
Tại bản tự khai, biên bản tiến hành hòa giải thì ông Cao Xuân L trình bày:
Ông Cao Xuân L kết hôn với bà Nguyễn Thị Kim N năm 2010 như lời trình bày của bà Kim N là đúng sự thật. Tuy nhiên, ông L còn thương yêu vợ là bà Kim N nên không đồng ý ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim N.
Về con chung: có 02 con chung : Cao Nguyễn Minh C, sinh năm: 2010 và Cao Nguyễn Phúc T, sinh năm: 2014 sẽ do bà Nguyễn Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng các con theo nguyện vọng các con, ông Cao Xuân L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con : 1.000.000 (Một triệu) đồng / tháng /con đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nợ chung: ông L xác định để hai bên thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa ngày 16/6/2025,bà Nguyễn Thị Kim N và ông Cao Xuân L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa do bận đi làm không thể xin nghỉ được và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày tại bản tự khai và tại các biên bản hòa giải, nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
- - Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tuy nhiên, còn vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử.
- - Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, phiên toà được tiến hành theo đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.
- - Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim N và bị đơn ông Cao Xuân L thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về việc giải quyết vụ án:
- + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Kim N với ông Cao Xuân L.
- + Về con chung: Giao 02 con chung : Cao Nguyễn Minh C, sinh năm: 2010 và Cao Nguyễn Phúc T, sinh năm: 2014 cho bà Nguyễn Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng các con, chấp nhận việc tự nguyện của ông Cao Xuân L cấp dưỡng nuôi con : 1.000.000 (Một triệu) đồng / tháng /con đến khi con đủ 18 tuổi.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định Bộ luật tố tụng Dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Ông Cao Xuân L và bà Nguyễn Thị Kim N chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 90/2010 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 26/02/2010. Nay, bà Nguyễn Thị Kim N nộp đơn xin được ly hôn với ông Cao Xuân L.
Về con chung: có 02 con chung : Cao Nguyễn Minh C, sinh năm: 2010 và Cao Nguyễn Phúc T, sinh năm: 2014 sẽ do bà Nguyễn Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng các con, chấp nhận việc tự nguyện của ông Cao Xuân L cấp dưỡng nuôi con : 1.000.000 (Một triệu) đồng / tháng /con đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Kim N và ông L xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A về tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng ông Cao Xuân L và bà Nguyễn Thị Kim N xác định: Tổ hòa giải cơ sở tại khu phố A và công an phường chưa nhận được thông tin liên quan đến mâu thuẫn trong hôn nhân cũng như đơn đề nghị hòa giải của gia đình bà Nguyễn Thị Kim N và ông Cao Xuân L nên chuyển Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về căn cứ cho ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên: Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, mặc dù Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự không thể hàn gắn để đoàn tụ. Xét thấy, đời sống chung của vợ chồng nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử, xét thấy có đủ cơ sở thực tế và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: Giao 02 con chung : Cao Nguyễn Minh C, sinh năm: 2010 và Cao Nguyễn Phúc T, sinh năm: 2014 cho bà Nguyễn Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng các con, chấp nhận việc tự nguyện của ông Cao Xuân L cấp dưỡng nuôi con : 1.000.000 (Một triệu) đồng / tháng /con đến khi con đủ 18 tuổi.
Vì lợi ích của con, đảm bảo sự ổn định về tinh thần, sức khỏe trong cuộc sống, trong học tập nên căn cứ theo quy định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn; việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xét thấy, nguyện vọng của các con là Cao Nguyễn Minh C và Cao Nguyễn Phúc T là có cơ sở vì theo bà Kim N trình bày thì hiện nay, bà Kim N là người trực tiếp sống chung để chăm nom, quan tâm chăm sóc con và đưa đón con đi học từ nhỏ cho đến nay, vậy nên giao các con cho bà Kim N trực tiếp nuôi dưỡng là thỏa đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Kim N và ông L xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí:
Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
Bị đơn là ông Cao Xuân L phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là : 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 208, 227,228, 233 và 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim N được ly hôn với ông Cao Xuân L.
- Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 90/2010 do Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 26/02/2010 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao 02 con chung : Cao Nguyễn Minh C, sinh năm: 2010 và Cao Nguyễn Phúc T, sinh năm: 2014 cho bà Nguyễn Thị Kim N trực tiếp nuôi dưỡng các con, ông Cao Xuân L tự nguyện cấp dưỡng nuôi con là : 1.000.000 (Một triệu) đồng / tháng /con đến khi con đủ 18 tuổi.
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Vì lợi ích của con chung, các bên không được quyền ngăn cản việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, được quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; các bên và cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con.
- Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Cao Xuân L xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Cao Xuân L xác định tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0049833 ngày 27/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị Kim N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình.
- Ông Cao Xuân L phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là : 300.000 đồng (Ba trăm ngàn) đồng.
- Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6;6a;7;7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
- Quyền kháng cáo:
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày,kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Diễm |
Bản án số 647/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn
- Số bản án: 647/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
