|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 647/2025/DS-PT Ngày: 10/11/2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải
Các Thẩm phán: Bà Võ Bích Hải
Ông Nguyễn Quốc Định.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phùng Bích Tuyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10/11/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 241/TLPT-DS ngày 09 tháng 10 năm 2025 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 69/2025/DS-ST ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy (nay là Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ) có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 666/2025/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Kim K, sinh năm 1963.
Địa chỉ thường trú: phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường C, thành phố Cần Thơ).
Địa chỉ liên lạc: Chung cư A, phòng 105, 1A đường N, khu dân cư I, khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (nay là phường T, thành phố Cần Thơ). (có mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1975.
Địa chỉ thường trú:Số I, Phạm Ngọc H, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ (nay là phường B, thành phố Cần Thơ).
Địa chỉ liên lạc: 333/13/4, V, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ (nay là phường B, thành phố Cần Thơ). (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/3/2025 của bà Nguyễn Kim K và quá trình giải quyết trình bày và yêu cầu như sau:
Ngày 05/3/2007, bà Nguyễn Kim K (tên gọi khác thím C) có cho ông Nguyễn Thành T vay số tiền 45.000.000 đồng có ghi biên nhận, lãi suất thỏa thuận.
Ngày 18/6/2008, bà Nguyễn Kim K có cho ông Nguyễn Thành T vay tiếp 400.000.000 đồng có ghi biên nhận, lãi suất thỏa thuận. Sau đó, đến cuối năm 2008 nguyên đơn không liên lạc được với bị đơn, đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán nợ cho nguyên đơn.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả một lần tổng cộng là 445.000.000 đồng, tiền gốc và tiền lãi chậm thi hành án khi án có hiệu lực pháp luật.
* Phía bị đơn ông Nguyễn Thành T trình bày như sau: Bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn tổng cộng 445.000.000 đồng, có ghi giấy nợ ngày 05/3/2007 và ngày 18/6/2008, bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn tổng cộng là 445.000. 000 đồng tiền gốc. Bị đơn cho rằng kinh tế khó khăn nên yêu cầu nguyên đơn tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ mỗi tháng 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đến khi dứt nợ và xin phần tiền lãi.
Do nguyên đơn và bị đơn không thống nhất được cách giải quyết nên Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã đưa ra xét xử công khai.
Tại bản án số 69/2025/DSST ngày 29/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử như sau:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim K. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thành T phải trả cho bà Nguyễn Kim K số tiền gốc tổng cộng là 445.000.000 đồng.
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn không phải chịu tiền án phí. Bị đơn ông Nguyễn Thành T phải chịu số tiền 21.800.000 đồng (hai mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.
Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử bị đơn ông Nguyễn Thành T đã kháng cáo bản án trên.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà K đồng ý với bản án sơ thẩm và yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Nguyễn Thành T thừa nhận số tiền vay theo hai biên nhận trên là 445.000.000 đồng nhưng ông cho rằng có đóng tiền lãi số tiền trên. Ông xin được trả dần mỗi tháng từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng vì hiện tại hoàn cảnh có khó khăn.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Phía bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Bị đơn cho rằng có trả lãi cho nguyên đơn nhưng không chứng cứ chứng minh nguyên đơn có nhận tiền lãi. Hơn nữa, nguyên đơn lại không thừa nhận có nhận tiền lãi. Bản án sơ thẩm tuyên là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm. Áp dụng Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” Tòa án nhân dân quận Bình Thủy thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của bị đơn trong hạn luật định nên được xem xét.
[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy:
Ngày 05/3/2007, nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 45.000.000 đồng có ghi biên nhận, lãi suất theo thỏa thuận.
Ngày 18/6/2008, nguyên đơn có cho bị đơn vay tiếp số tiền 400.000.000 đồng có ghi biên nhận, lãi suất theo thỏa thuận.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả một lần tổng cộng là 445.000.000 đồng, tiền gốc và tiền lãi chậm thi hành án khi án có hiệu lực pháp luật. Phía bị đơn có thừa nhận vay nguyên đơn số tiền trên nhưng về cách trả chưa thống nhất.
Qua xem xét Hội đồng xử phúc thẩm nhận thấy: Tại bản tự khai bị đơn thừa nhận có vay của nguyên đơn tổng cộng 445.000.000 đồng tiền gốc, bị đơn đồng ý trả cho nguyên đơn mỗi tháng 3.000.000 đồng. Trong vòng 24 tháng mỗi tháng trả 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đến khi thanh toán xong nợ và lãi chậm thi hành án.
Do đó, căn cứ theo Điều 91, Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, biên nhận nợ và sự thừa nhận nợ của bị đơn thì đây là tình tiết có thật. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả số tiền trên là phù hợp với quy định pháp luật và có căn cứ.
Xét về tiền lãi: Mặc dù, số tiền vay diễn ra từ năm 2008 nhưng nguyên đơn không yêu cầu tính lãi, chỉ yêu cầu tiền vốn gốc là có lợi cho bị đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.
Đối với yêu cầu kháng cáo của bị đơn nhận thấy: Bị đơn cho rằng bị đơn có trả tiền lãi cho nguyên đơn nhưng bị đơn không có chứng cứ chứng minh. Bị đơn vắng mặt từ năm 2008 đến nay nên việc bị đơn trả lãi là không có. Kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ nên bác yêu cầu.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn chịu theo quy định.
[5] Xét đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều:
Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Điều 471, Điều 474 Bộ luật Dân sự năm 2005.
Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thành T. Giữ y bản án dân sự sơ thẩm.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Kim K. Buộc bị đơn ông Nguyễn Thành T trả cho bà Nguyễn Kim K số tiền gốc tổng cộng là 445.000.000 đồng (Bốn trăm bốn mươi năm triệu đồng).
Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền trên, bên phải thi hành án còn chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Thành T phải chịu số tiền 21.800.000 đồng (hai mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng).
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành T phải chịu 300.000 đồng. Chuyển tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0000295 ngày 10/6/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ (Nay là phòng Thi hành án dân sự Khu vực 2 – Cần Thơ) thành tiền án phí. Ông T đã nộp xong.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Các Thẩm phán | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Nguyễn Quốc Định – Võ Bích Hải |
Nguyễn Văn Hải |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hải |
Bản án số 647/2025/DS-PT ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 647/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Nguyễn Kim K kiện ông Nguyễn Thành T đòi trả nợ
