Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 646/2024/DS-ST

Ngày 30-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng

vay tài sản.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.
  2. Ông Thái Văn Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 590/2023/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 389/2024/QĐXXST-DS ngày 19/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 449/2024/QÐST-DS ngày 12/8/2024 giữa:

-Nguyên đơn: Bà Trần Thị Mỹ H, sinh năm: 1970; địa chỉ: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thùy L, sinh năm 1991; địa chỉ: Số H đường B, phường B, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền ngày 02/01/2024) (có mặt).

-Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V, sinh năm: 1989; địa chỉ: Số C đường số C, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện nộp ngày 27/9/2023 và các bản tự khai nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H trình bày:

Ngày 24/08/2020, bà Trần Thị Mỹ H có cho ông Nguyễn Hoàng V vay số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất theo thỏa thuận nhưng không trái quy định của pháp luật. Hai bên có ký hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C.

Sau khi đến hạn trả tiền theo hợp đồng, ông V nhiều lần trốn tránh và không trả gốc và lãi cho bà H, hẹn lần hẹn lượt. Nay bà yêu cầu Tòa án buộc ông V trả cho bà H số tiền gốc là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày vay 24/08/2020 đến ngày 24/8/2023 (36 tháng) theo lãi suất là 1.5%/tháng, lãi trong 36 tháng là 54.000.000 (năm mươi bốn triệu) đồng. Tổng số tiền mà ông V phải trả cho bà H là 154.000.000 (một trăm năm mươi bốn triệu) đồng.

Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Nguyễn Thùy L trình bày: Hôm nay bà H thay đổi yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Hoàng V, yêu cầu ông Nguyễn Hoàng V trả cho bà số tiền gốc là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày vay 24/08/2020 đến ngày 24/6/2024 là 46 tháng, không yêu cầu tính lãi từ sau ngày 24/6/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, theo lãi suất quy định của pháp luật là 10%/năm, tương ứng 0,83%/tháng (830.000 đồng/tháng), như vậy tổng tiền lãi là 38.180.000 (ba mươi tám triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng. Tổng số tiền mà bà H yêu cầu ông V phải trả là 138.180.000 (một trăm ba mươi tám triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng. Yêu cầu trả một lần ngay sau khi bản án phát sinh hiệu lực pháp luật. Bà H không biết vợ ông V tên gì, bà H chỉ yêu cầu một mình ông V trả nợ, không yêu cầu Toà án đưa vợ ông V vào tham gia tố tụng.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên toà, không gửi văn bản trình bày ý kiến.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 27/9/2023, bà Trần Thị Mỹ H yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết buộc ông Nguyễn Hoàng V phải trả lại cho bà số tiền đã vay theo hợp đồng vay tiền ngày 24/8/2020. Đây là tranh chấp về yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo hợp đồng vay tài sản giữa bà Trần Thị Mỹ H với ông Nguyễn Hoàng V, là quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản theo quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện là ông Nguyễn Hoàng V hiện cư trú tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

[2] Về tố tụng:

Bị đơn là ông Nguyễn Hoàng V đã được Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng để tham gia tố tụng tại phiên tòa xét xử nhưng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không có yêu cầu phản tố, không có đơn xin vắng mặt. Căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt

bị đơn và Hội đồng xét xử chỉ xem xét tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp.

[3] Về thời hiệu khởi kiện: Các đương sự không yêu cầu Toà án áp dụng thời hiệu nên Hội đồng xét xử không áp dụng.

[4] Về yêu cầu của đương sự:

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Trần Thị Mỹ H yêu cầu ông V trả cho bà H số tiền gốc là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày vay 24/08/2020 đến ngày 24/6/2024 là 46 tháng, không yêu cầu tính lãi từ sau ngày 24/6/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, theo mức lãi suất quy định của pháp luật là 10%/năm, yêu cầu trả một lần, ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[4.1] Về số tiền vay và thời gian vay tiền:

Qua các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định: Giữa bà Trần Thị Mỹ H với ông Nguyễn Hoàng V có giao dịch với nhau về việc vay mượn tiền. Theo các tài liệu chứng cứ thể hiện, bà Trần Thị Mỹ H và ông Nguyễn Hoàng V có ký vào hợp đồng vay tiền ngày 24/8/2020 lập tại văn phòng C theo số công chứng: 021319 thể hiện nội dung: Bà H cho ông V vay số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng với thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày công chứng hợp đồng vay tiền này, lãi suất do hai bên tự thỏa thuận và không trái quy định của pháp luật, tiền lãi bên vay sẽ giao cho bên cho vay vào cuối thời hạn vay. Như vậy, qua các tài liệu chứng cứ thể hiện Hợp đồng vay tài sản ngày 24/8/2020 lập tại văn phòng C là hợp đồng có kỳ hạn và có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định lãi suất cụ thể là bao nhiêu.

Trong quá trình vay mượn tiền, ông V nhiều lần né tránh, đến nay vẫn không trả tiền cho bà H là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo quy định tại các Điều 280, 466 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là bà Trần Thị Mỹ H về việc buộc bị đơn là ông Nguyễn Hoàng V có nghĩa vụ trả cho bà H số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng theo Hợp đồng vay tiền ngày 24/8/2020 lập tại văn phòng C.

[4.2] Về tiền lãi:

Xét yêu cầu tính lãi của bà Trần Thị Mỹ H đối với số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng mà ông Nguyễn Hoàng V còn nợ và tiền lãi tính theo lãi suất quy định của pháp luật, tiền lãi tạm tính từ ngày vay 24/8/2020 đến ngày 24/6/2024 là 46 tháng, không yêu cầu tính lãi kể từ ngày 25/6/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm. Hội đồng xét xử nhận thấy theo như thoả thuận tại Hợp đồng vay tiền ngày 24/8/2020, có cơ sở xác định bên bị đơn có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn số tiền đã nợ vào ngày 25/8/2021, tuy nhiên cho đến nay ông V vẫn chưa trả nợ cho bà H. Như vậy, ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho bà H. Tại Hợp đồng vay tiền ngày 24/8/2020 có ghi rõ: “lãi suất do hai bên tự thỏa thuận và không trái quy định của pháp luật, tiền lãi bên B sẽ giao cho bên A vào cuối thời hạn vay”. Như vậy, Hợp đồng vay này có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không xác định lãi suất cụ thể là bao nhiêu. Do đó, có cơ sở để

Hội đồng xét xử xác định giao dịch cho mượn tiền giữa bà H với ông V là có lãi nhưng không ghi lãi suất. Căn cứ theo Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền: “1. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả; 2. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật này; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này”. Căn cứ theo Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về lãi suất : “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực; 2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”. Do ông V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho bà H, nên yêu cầu của bà H về việc phải tính tiền lãi cho ông V theo mức lãi suất quy định của pháp luật tương ứng với 0.83%/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận. Xét yêu cầu của bà H tính tiền lãi bắt đầu tính từ ngày từ ngày vay 24/8/2020 đến ngày 24/6/2024 là 46 tháng, không yêu cầu tính tiền lãi cho ông V kể từ ngày 25/6/2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm là có lợi cho bị đơn nên có cơ sở để chấp nhận. Như vậy lãi suất được tính là 0.83%/tháng x 46 tháng x 100.000.000 đồng = 38.180.000 (ba mươi tám triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng.

Từ những phân tích trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận, Hội đồng xét xử buộc bị đơn là ông Nguyễn Hoàng V phải trả cho bà Trần Thị Mỹ H số tiền gốc và tiền lãi mà ông V còn nợ là: 100.000.000 đồng + 38.180.000 đồng = 138.180.000 (một trăm ba mươi tám nghìn một trăm tám mươi) đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[5] Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn là ông Nguyễn Hoàng V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho bà Trần Thị Mỹ H theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 280, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Mỹ H.
  2. Buộc ông Nguyễn Hoàng V phải trả cho bà Trần Thị Mỹ H số tiền 138.180.000 (một trăm ba mươi tám nghìn một trăm tám mươi) đồng, trong đó nợ gốc là 100.000.000 (một trăm triệu) đồng và tiền lãi là 38.180.000 (ba mươi tám triệu một trăm tám mươi nghìn) đồng. Thanh toán một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Trường hợp ông Nguyễn Hoàng V chậm trả số tiền trên cho bà H thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ giao tiền được xác định theo thoả thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự; nếu không có thoả thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

  1. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Nguyễn Hoàng V phải nộp án phí là 6.909.000 (sáu triệu chín trăm lẻ chín nghìn) đồng.

Hoàn trả lại cho bà Trần Thị Mỹ H số tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp là 3.850.000 (ba triệu tám trăm năm mươi nghìn) đồng theo biên lai số AA/2023/0018626 ngày 13/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

  1. Về quyền kháng cáo:

Nguyên đơn, có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9

của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang Định

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 646/2024/DS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 646/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 24/08/2020, bà Trần Thị Mỹ H có cho ông Nguyễn Hoàng V vay số tiền 100.000.000 (một trăm triệu) đồng, thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất theo thỏa thuận nhưng không trái quy định của pháp luật. Hai bên có ký hợp đồng vay tiền tại Văn phòng C.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger