Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 646/2024/DS-PT

Ngày: 23/7/2024

Về việc Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Lê Ngọc Tường

Các Thẩm phán: 1. Bà Võ Thị Kim Thương

2. Bà Nguyễn Thị Minh Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 và 23/7/2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 393/2024/TLPT-DS ngày 22/4/2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh bị kháng cáo và kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3247/2024/QĐXXPT-DS ngày 17/6/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Anh T, sinh năm: 1965(có mặt)

    Địa chỉ: Số A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Địa chỉ liên lạc: 63/2/6 L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm: 1936

    Địa chỉ: Số A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm: 1955 (có mặt)

    Địa chỉ: A B, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Nguyễn Thành D1, sinh năm: 1960

      Địa chỉ: Số G đường L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện theo ủy quyền của ông D1: Bà Nguyễn Thị Mỹ P, sinh năm: 1962 (có mặt)

      Địa chỉ: G L, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Ông Nguyễn Vũ Doanh K, sinh năm: 2002 (vắng mặt)
    3. Địa chỉ: Số A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
    4. Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh

      Địa chỉ: Số 349 đường Tân Túc, thị trấn Tân Túc, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện B: Bà Trần Thúy T1 – Phó Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường (vắng mặt) (Văn bản số 2163/UBND ngày 04/6/2024)

      Địa chỉ: Số C đường T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thành Đ.

Người kháng nghị: Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 12/7/2019; trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Anh T trình bày:

Thửa đất số 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC) tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh do bà Nguyễn Thị T2 – mẹ ruột của ông Nguyễn Anh T, thuê của Nhà nước với diện tích 300m² theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 và được xác lập bằng bản vẽ có xác nhận nội nghiệp vào ngày 31/5/2010 do Công ty Cổ phần T5 lập. Ngày 08/4/2002, Sở Địa chính – Nhà đất, Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 818/CV-GTĐ chuyển giao quyền quản lý hồ sơ giao đất, cho thuê đất của các cá nhân thuộc thẩm quyền huyện B, trong đó có tên của bà Nguyễn Thị T2. Đến năm 2014, bà Nguyễn Thị T2 chết; ông Nguyễn Anh T là hàng thừa kế duy nhất vẫn tiếp tục sử dụng phần diện tích đất thuê nêu trên.

Ngày 15/12/2018, bị đơn ông Nguyễn Thành Đ đã chủ ý lấn chiếm quyền sử dụng đất với diện tích 75m², thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC), bằng việc cho trồng các bồn hoa, chậu cây vào phạm vi phần diện tích thuê, làm ảnh hưởng đến nền móng nhà. Ông T không đồng ý và đã gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã B, huyện B hòa giải tranh chấp đối với phần diện tích nêu trên; tuy nhiên, các bên hòa giải không thành và ông T nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết theo quy định.

Tại phiên tòa, căn cứ Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh (số hợp đồng: 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD) do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 28/11/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Nguyễn Thành Đ di dời số bồn cây, chậu hoa, trả lại phần diện tích đất là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1), thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC) tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý.

Theo các bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Nguyễn Thị D trình bày:

Phần diện tích đất đang tranh chấp nằm trong phần đất có nguồn gốc do cha mẹ ông Nguyễn Thành Đ là ông Nguyễn Quốc T3 và bà Hồ Thị C chủ sở hữu từ năm 1955, có diện tích khoảng 2.900m², thuộc thửa 91, tờ bản đồ số 7 (theo tài liệu 02/CT-UB); tương ứng thuộc một phần thửa 100, thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC) theo Bằng khoán số 77 do chế độ cũ cấp. Trên phần diện tích đất 2.900m², cha mẹ ông Đ khi còn sống đã xây dựng trên đó 3 căn nhà cùng có một địa chỉ A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh, gồm: Nhà thờ gia tộc do ông Đ đang ở và quản lý; Nhà máy X (hiện do ông T đang chiếm sử dụng và cho thuê); một nhà kho chứa lúa (sau năm 1975 được sửa chữa lại thành nhà ở do ông Đ sử dụng). Cả 03 căn nhà này không có ranh giới riêng biệt; ngoài phần diện tích 03 căn nhà thì phần diện tích còn lại được ông Đ sử dụng là đất vườn do ông Đ quản lý và canh tác.

Phần đất diện tích 75m² các bên đang tranh chấp là phần đất có bồn trồng cây lớn nằm tại vị trí của sân trước N1. Từ năm 1955 đến nay, phần đất này vẫn được sử dụng trồng nhiều cây cảnh với mục đích làm đẹp cho phần sân trước nhà thờ. Nay ông T khởi kiện yêu cầu trả lại phần diện tích lấn chiếm với lý do là đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý thì ông Đ không đồng ý vì không có căn cứ.

Theo Công văn số 2659/TNMT-QLSDĐ ngày 28/4/2014 của Sở T có nội dung: “... Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 ký giữa Sở T với bà Nguyễn Thị T2 đã hết hiệu lực. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện B xem xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất trên thực tế..., để xác định chính xác người sử dụng đất và giải quyết...”. Do đó, nguyên đơn trình bày phần diện tích 300m² đang tranh chấp là thuê của Nhà nước là không đúng sự thật. Mặt khác, năm 2014 bà T2 chết thì hợp đồng thuê này đương nhiên không còn hiệu lực.

Hiện nay, phần diện tích đất đang tranh chấp này nằm trong phần diện tích đất 2.900m² thuộc Bằng khoán số 77, Nhà máy X của bà Hồ Thị C xây dựng từ năm 1955, thuộc thửa 91 (theo TL02); nay thuộc thửa 100 và thửa 101 (theo TL2005) là tài sản thừa kế của cha mẹ ông Nguyễn Thành Đ chết để lại (là ông bà ngoại của ông Nguyễn Anh T), đang khởi kiện tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh theo Thông báo về việc thụ lý vụ án số 24/TB-TLVA ngày 14/01/2011 và vẫn đang trong quá trình giải quyết theo quy định của pháp luật.

Từ những tài liệu, chứng cứ nêu trên bị đơn ông Nguyễn Thành Đ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xem xét Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 là vô hiệu, không còn giá trị.

Theo bản tự khai ngày 22/3/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành D1 trình bày:

Ông D1 là con của ông Nguyễn Thành Đ; hiện đang sinh sống cùng với ông Đ. Ông D1 đồng ý và thống nhất với ý kiến của bị đơn ông Nguyễn Thành Đ, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ Doanh K, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện B là bà Dương Thị Kim H: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa; Quyết định tạm ngừng phiên tòa và Giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định, nhưng ông K và bà H vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến bằng bất cứ văn bản nào.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 26/02/2024, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

    Buộc ông Nguyễn Thành Đ và ông Nguyễn Thành D1 có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý với diện tích lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1); thuộc một phần thửa 101; tờ bản đồ số 21 (Theo tài liệu BĐĐC) tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh (Số hợp đồng: 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD) ngày 28/11/2023 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập cho người được thuê đất ông Nguyễn Anh T hiện đang sử dụng theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 ký giữa Sở Địa chính – Nhà đất, Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn Thành Đ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) nhưng được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.

    Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Anh T số tiền 3.750.000đ (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002766 ngày 28/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thành Đ phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Anh T số tiền 9.564.810đ (chín triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm mười đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 04/3/2024, ông Nguyễn Thành Đ nộp đơn kháng cáo.

Ngày 11/3/2024, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS-DS đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

+ Bị đơn ông Nguyễn Thành Đ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D trình bày: Bản án sơ thẩm vi phạm tố tụng và về nội dung xét xử không khách quan, không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong vụ án. Cụ thể là:

Về tố tụng: Nguyên đơn không có yêu cầu ông Nguyễn Thành D1 phải có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng để trả lại đất phần diện tích 49,2m² cho ông Nguyễn Anh T nhưng án sơ thẩm tuyên buộc ông Đ và ông D1 phải có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng để trả lại đất phần diện tích 49,2m² cho ông Nguyễn Anh T là vượt quá yêu cầu khởi kiện theo Điều 5 Bộ luật dân sự 2015.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử không khách quan, không phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong vụ án:

Thứ nhất: Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa Sở Địa chính - Nhà Đất với bà Nguyễn Thị T2 đã hết hạn không còn hiệu lực. Bà T2 chết năm 2014, ông T không được gia hạn hợp đồng thuê đất. Bản án sơ thẩm công nhận ông T là người được thuê 300m² đất thuộc một phần thửa 100, 101 tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC) là không đúng.

Theo Công Văn số 2659/TNMT-QLSDĐ ngày 28/4/2014 của Sở T cho bà Nguyễn Thị T2 thuê 300m² đất là căn cứ theo Quyết định số 7141 ngày 31/12/1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố H. Tuy trong Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ không ghi cụ thể thời hạn thuê đất nhưng theo nội dung Quyết định số 7141 đã quy định thời hạn thuê đất là 05 năm.

Tại Công Văn số 2659/TNMT-QLSDĐ ngày 28/4/2014 của Sở T trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành Đ, với nội dụng: Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ đối với 300m² đất cho bà T2 thuê đã hết hiệu lực do không được gia hạn và không cần thanh lý hợp đồng. Đề nghị Ủy ban nhân dân huyện B xem xét nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất trên thực tế.... để xác định chính xác người sử dụng đất và giải quyết. Năm 2014, bà Nguyễn Thị T2 chết, cho đến nay ông T không được Ủy ban nhân dân huyện B hay Sở T giải quyết cho thuê đối với phần diện tích đất có nguồn gốc là Nhà máy X.

Án sơ thẩm tuyên xử, ông Nguyễn Anh T được Nhà nước tiếp tục giao sử dụng đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 là không khách quan, không đúng với tình tiết, chứng cứ có trong vụ án. Bởi vì, theo Công văn số 33/TNMT ngày 22/03/2011, thì Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đã từ chối, không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất là khu đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, do có tranh chấp thừa kế tại Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và theo Công văn số 510/TNMT ngày 24/6/2014, thì Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B đã từ chối, không giải quyết hồ sơ xin gia hạn thời gian thuê đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ. Cũng như tại Công văn số 503/UBND ngày 05/02/2024, thì Ủy ban nhân dân huyện B đã từ chối, không giải quyết đơn xin thuê đất của ông Nguyễn Anh T đối với khu đất diện tích 300m² tại thửa 101, tờ bản đồ số 21 (BĐĐC) trước đây là Nhà máy X.

Theo Biên bản làm việc của Chi cục thuế huyện B với ông T ngày 07/12/2023, thì ông T không cung cấp được Phụ lục hợp đồng bổ sung qua tên ông T theo yêu cầu của Chi cục thuế.

Như vậy, từ khi Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 hết hiệu lực là năm 2002 cho đến nay, thì bà Nguyễn Thị T2 và ông Nguyễn Anh T không được các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận cho gia hạn thuê đất hay giao sử dụng đất tại Nhà máy X theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999. Bản án sơ thẩm tuyên ông Nguyễn Anh T được Nhà nước tiếp tục giao thuê đất, sử dụng đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 là hoàn toàn không đúng với các tài liệu, chứng cứ có trong vụ án. Do vậy, bị đơn ông Nguyễn Thành Đ kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm.

Thứ hai: Phần diện tích đất 49,2m² không thuộc phần diện tích đất thuê theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, do ông Đ đang quản lý sử dụng là phần sân trước của nhà thờ để trồng cây kiểng từ trước năm 1975 đến nay.

Bản án sơ thẩm cho rằng, căn cứ Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở số 369/ĐH2010 do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 25/5/2010 để chấp nhận phần diện tích đất 49,2m² là không có cơ sở. Vì Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, còn bản vẽ số 369/ĐH2010 lập ngày 25/5/2010, tức là lập sau thời gian ký Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTD. Phần đất tranh chấp theo Bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 28/11/2023 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập là bồn cây có diện tích 49,2m², thuộc thửa 101, tờ bản đồ số 21 (BĐĐC). Từ năm 1955 đến nay phần đất này luôn là bồn cây để trồng cây kiểng, chậu hoa. Phần đất này không nằm trong phần diện tích đất nhà máy X, nên ông Nguyễn Anh T cho rằng ông Nguyễn Thành Đ lấn chiếm là không đúng.

Thứ ba: Nguồn gốc đất là của cha mẹ ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị T2, là đất được thừa kế của cha mẹ chết để lại, không phải là đất của Nhà nước quản lý. Theo tài liệu, chứng cứ về nguồn gốc đất trước năm 1975, gồm: Bằng khoán đất, Bản vẽ, Quyết định thành lập Nhà máy X, Thẻ môn bài, Giấy đóng thuế, tất cả đều mang tên bà Hồ Thị C là mẹ của ông Nguyễn Thành Đ và bà Nguyễn Thị T2. Do đó, bà C mất năm 1983 thì toàn bộ đất đai và tài sản của bà C đều trở thành tài sản thừa kế của các con bà Hồ Thị C theo quy định pháp luật, nên đây không phải đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý.

Quyết định số 440/QĐ-UB ngày 02/11/1993 của Ủy ban nhân dân huyện B quyết định về việc bãi bỏ công tư hợp doanh giữa nhà nước và tư nhân, đồng thời trong quyết định này cũng có nhận định “Nhà máy được xây dựng trên đất của cha mẹ bà Nguyễn Thị T2". Như vậy, sau khi ký quyết định bãi bỏ công tư hợp doanh và nhận lại tiền phần hùn thì Nhà nước không còn liên quan gì đến Nhà máy X, đất và tài sản trên đất của Nhà máy X đều là tài sản thừa kế của các con bà Hồ Thị C, không còn là đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý. Công văn số 2659/TNMT-QLSDĐ ngày 28/4/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H trả lời đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành Đ, đã xác nhận Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 được Sở Địa chính - Nhà đất ký với bà Nguyễn Thị T2 theo đơn xin thuê đất nhà máy X là trường hợp cho thuê đất sai đối tượng theo điểm 7 Chỉ thị số 247/TTg – tức là đối tượng theo Chỉ thị 247/TTg của Thủ tướng Chính phủ là đất do Nhà nước cho thuê hoặc Nhà nước giao đất, không phải đất của ông bà. Như vậy, công văn này, Sở T cũng xác nhận đất nhà máy X là đất của cha mẹ ông Đ tạo lập, không phải đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý. Bản án sơ thẩm nhận định, phần đất đang tranh chấp là thuộc sở hữu của Nhà nước và quản lý là không đúng với nguồn gốc đất và đã đi ngược lại quyết định số 440/QĐ-UB ngày 02/11/1993 Ủy ban nhân dân huyện B và Công Văn số 2659/TNMT-QLSDĐ của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Thứ tư: Phần diện tích đất của Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 trùng với diện tích đất 2.926m² một vụ án khác mà Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đang thụ lý theo Thông báo thụ lý số 24/DS-ST ngày 14/01/2011 và Thông báo thụ lý bổ sung số 13263/DS-ST ngày 01/8/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Nội dung tranh chấp mà Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đang giải quyết sơ thẩm là tranh chấp thừa kế tài sản của cha mẹ ông Đ và bà T2 chết để lại, theo kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh. Do đó, yêu cầu chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh.

Từ những phân tích trên, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm, hủy bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

+ Nguyên đơn ông Nguyễn Anh T trình bày: Nay ông bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông D1 có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất 49,2m², là đất công.

Nguyên đơn tranh chấp phần diện tích 49,2m² (tương ứng vị trí số 1); thuộc một phần thửa 101 (theo tài liệu BDĐC), tọa lạc tại xã B, huyện B theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh (số hợp đồng: 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 28/11/2023) do Trung tâm đo đạc bản đồ thành phố lập cho người được thuê đất ông Nguyễn Anh T hiện đang sử dụng theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa Sở Địa chính – Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2. Tóm lại, phần đất tranh chấp có diện tích 49,2m² thuộc phạm vi khu đất 300m², là đất công được Sở Địa chính – Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh cho thuê đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999.

Phần đất gắn liền với Nhà máy X, có diện tích 300m² thuộc một phần thửa 100 và một phần thửa 101, thuộc tờ bản đồ số 21, Bộ địa chính huyện B, là tài sản đã được Nhà nước thực thi các chủ trương, chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan trực tiếp đến nhà đất, nên phần đất này được Ủy ban nhân dân huyện B xác lập Quyền sở hữu toàn dân bằng Quyết định 416/QĐ-UB vào ngày 20/6/1985. Ủy ban nhân dân huyện B không thừa nhận việc ông Nguyễn Thành Đ đòi lại nhà đất, dù trước năm 1955 có thuộc về Bằng khoán 77, do cha mẹ ông Đ đứng tên.

Theo Công văn 7272/TNMT-QLĐ ngày 26/9/2023 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, là văn bản phúc đáp Công văn số 866/TAHBC ngày 05/6/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, có nội dung: Sở T đề nghị Ủy ban nhân dân huyện B kiểm tra, rà soát lại nguồn gốc, quá trình sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T2 tại khu đất nêu trên, có diện tích 300m² được cho thuê theo Hợp đồng thuê đất 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, để phúc đáp cho Tòa án. Sau quá trình kiểm tra, rà soát lại nguồn gốc, quá trình sử dụng đất, hiện trạng sử dụng đất trên thực tế, Ủy ban nhân dân huyện B đã có Công văn phúc đáp số 5269/UBND ngày 24/11/2023 với nội dung như sau: Phần diện tích 300m², mà Sở Địa chính – Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh đã cho bà Nguyễn Thị T2 thuê theo Hợp đồng thuê đất 10502/HĐ-GTĐ ngày 02 tháng 8 năm 1999, có bao gồm phần đất diện tích 215,2m² thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21, Bộ địa chính xã B theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 24 tháng 2 năm 2021. Như vậy, Công văn 5269 đã phúc đáp rất rõ ràng, phần đất công thuộc sở hữu Nhà nước, có bao gồm phần đất diện tích 215,2m² thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21, Bộ địa chính xã B theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 24/2/2021. Do đó, phần đất có diện tích 300m² được Sở Địa chính – Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh cho thuê đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, chính là đất công và danh sách do Ủy ban nhân dân xã B lập có tên bà Nguyễn Thị T2 là đúng người đã và đang sử dụng đất.

Đối với Quyết định kháng nghị 03/QĐ-VKS-DS ngày 11/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh: Phần đất công, có diện tích 300m², được Sở Địa chính – Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh cho thuê đất theo Hợp đồng thuê đất số 10502, thuộc một phần thửa 100 và một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21, thuộc Bộ địa chính xã B, huyện B. Khu đất này đã được Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H và Ủy ban nhân dân huyện B tiến hành rà soát về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng đất và hiện trạng sử dụng đất trên thực tế. Kết quả rà soát được thể hiện bằng Công văn số 11128/STNMT-TTr ngày 28/11/2023 của Thanh Tra Sở T và Công văn số 5269/UBND ngày 24/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện B.

Tại Công văn 11128/STNMT-TTr ngày 28/11/2023, Thanh tra Sở Tài nguyên Môi trường Thành phố H đã ghi nhận việc này như sau: Phần đất thuộc thửa 101, tờ bản đồ số 21, tại địa chỉ số A, ấp A xã B, huyện B có nguồn gốc là Cơ sở xay xát lúa gạo Hòa Hiệp do bà Nguyễn Thị T2 quản lý và đã trả lại cho Nhà nước vào năm 1975. Ngày 20 tháng 6 năm 1985, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định 416/QĐ-UB về việc đưa vào hợp doanh nhà máy X của hộ Nguyễn Thị T2 tại xã B và xác định rõ về việc nhà máy X là tài sản thuộc quyền sở hữu của Chính quyền Cách mạng kể từ ngày 01/8/1955.

Ủy ban nhân dân huyện B đã tiến hành chủ trương, chính sách cải tạo tư bản tư doanh bằng Biên Bản số 01/BB-BCT ngày 13/5/1985, tại Nhà máy xay xát Hòa Hiệp xã X, do Nguyễn Thị T2 là chủ cơ sở. Ngày 20/6/1985, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định 416/QĐ-UB, về việc thực thi chủ trương, chính sách cải tạo tư bản tư doanh tại Nhà máy X hộ bà Nguyễn Thị T2 xã B, có liên quan trực tiếp đến nhà đất. Ngày 02/11/1993, Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định 440/QĐ-UB về việc giải quyết thanh lý nhà máy X, là tài sản gắn liền trên đất tại thửa 101, tờ bản đồ 21, Bộ địa chính huyện B, với nội dung: về nguồn gốc nhà máy X tại ấp A xã B do đồng chí Lưu Thắng K1 là cán bộ Cách Mạng đại diện chính quyền Cách Mạng lúc đó hợp tác cùng bà Nguyễn Thị T2 đầu tư xây dựng để sản xuất kinh doanh và làm cơ sở phục vụ Cách Mạng từ đầu năm 1954 đến ngày giải phóng. Vào năm 1984, Ủy ban nhân dân huyện B có Quyết định thành lập nhà máy X, đi vào hoạt động cho đến ngày hôm nay với số tiền mỗi bên là 50% (nhà nước 50%, bà Nguyễn Thị T2 50%). Như vậy, phần đất gắn liền với nhà máy X có diện tích 300m² thuộc một phần thửa 100 và một phần thửa 101, thuộc tờ bản đồ số 21, Bộ địa chính xã B, là phần đất gắn liền với nhà máy X, là tài sản đã được Nhà nước thực thi các chủ trương, chính sách về quản lý nhà đất và chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa liên quan trực tiếp đến nhà đất, nên Ủy ban nhân dân huyện B không thừa nhận việc ông Nguyễn Thành Đ đòi lại nhà đất, dù rằng trước năm 1955 có thuộc về Bằng khoán 77, do cha mẹ ông Đ đứng tên.

Khu đất công 300m² gắn liền với Nhà máy X xã B là tài sản thuộc sở hữu của Nhà Nước nên Sở Địa chính – Nhà Đất Thành phố ký Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ là đúng với quyền hạn và trách nhiệm của Nhà Nước, đây là một giao dịch dân sự đúng với quy định pháp luật. Đồng thời, Quyết định 7141 cũng giao trách nhiệm cho Chi cục Thuế huyện B thu tiền cho thuê đất. Việc thu tiền thuê đất vẫn diễn ra ngay tình, công khai, liên tục từ năm 1996 đến hết năm 2024.

Ngày 08/4/2002, Sở Đ đã ban hành Công văn 818/CV-GTĐ về việc giao trách nhiệm quản lý khu đất công 300m² về cho Ủy ban nhân dân huyện B trực tiếp quản lý.

Do đó, ông yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ Quyết định Kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS- DS ngày 11/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành Đ và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 80/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thành D1 ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Mỹ P đại diện thống nhất với lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền của bị đơn. Ngoài ra, ông T tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng không có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ đã hết thời hạn nhưng không có hợp đồng gia hạn, không có quyết định giao đất... nhưng ông T vẫn cho rằng được quyền thuê đất là không có căn cứ.

Ông T cho rằng, đất thuộc sở hữu Nhà nước, tuy nhiên căn cứ tất cả các tài liệu, chứng cứ đều thể hiện tài sản đứng tên bà Hồ Thị C. Do đó, sau khi bà C mất thì quyền sử dụng đất thuộc các con bà C. Quyết định số 440 bãi bỏ công tư hợp D2, thể hiện đây không phải là tài sản của Nhà nước, nếu là tài sản của Nhà nước sẽ đi ngược lại tất cả các văn bản đã được ban hành trước đây.

Do đó, bà P đại diện theo ủy quyền của ông D1, yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án dân sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

+ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án phúc thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong việc giải quyết vụ án. Đồng thời, các đương sự trong vụ án thực hiện các quyền và chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng.

Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử vụ án tranh chấp diện tích 49,2m² là một phần trong diện tích đất 300m² theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2 không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án do Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đang thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số 24 ngày 14/01/2011, về việc “Tranh chấp thừa kế”, giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thành Đ với bà Nguyễn Thị T2.

Theo Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện B số 416/QĐ-UB ngày 20/6/1985, về việc đưa vào hợp doanh nhà máy X của hộ Nguyễn Thị T2 tại xã B; Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện B số 440/QĐ-UB ngày 02/11/1993, về việc giải quyết tài sản Nhà máy X tại Ấp A xã B; Quyết định số 7141/QĐ-UB-QLĐT ngày 31/12/1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, về việc cho các tổ chức và cá nhân thuộc huyện B thuê đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ và Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2, có căn cứ xác định phần diện tích đất 300m² thuộc một phần thửa 91, tờ bản đồ số 07 (tài liệu 02/CT-UB), tương ứng một phần các thửa 100, 101, tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B (trước đây là Nhà máy X), thuộc quyền sở hữu và quản lý của Nhà nước. Trước đây, Sở Địa chính - Nhà đất cho bà T2 thuê theo Hợp đồng thuê đất ngày 02/8/1999. Bà T2 mất nên ông T là thừa kế của bà T2, yêu cầu ông Đ di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất 49,2m² là có cơ sở.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông D1 xác nhận, ông D1 không liên quan gì đến các chậu cây kiểng, cây trồng trên đất. Những chậu cây kiểng và cây trồng trên đất là của ông Đ và của ông bà để lại. Án sơ thẩm, tuyên ông D1 và ông Đ cùng di dời các chậu cây kiểng là vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nội dung kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh và kháng cáo của bị đơn, về việc án sơ thẩm tuyên buộc ông D1 cùng di dời các chậu cây kiểng là vượt quá yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở. Tuy nhiên, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, mà sửa án sơ thẩm không tuyên buộc ông D1 có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý với diện tích lấn chiếm là 49,2m².

Bởi các lẽ trên; Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Chấp nhận một phần kháng nghị số 03/QĐ-VKS–DS ngày 11/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ.

Sửa bản án sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, không buộc ông Nguyễn Thành D1 phải di dời các chậu kiểng và cây trồng trên phần đất 49,2m².

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Vũ Doanh K và đại diện Ủy ban nhân dân huyện B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
  2. Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Anh T và trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, ông T chỉ yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành Đ phải di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất 49,2m². Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông T bổ sung thêm yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông D1 có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất 49,2m² đất công như án sơ thẩm đã tuyên.
  3. Xét, tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông T không yêu cầu ông Nguyễn Thành D1 phải di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất 49,2m², nên cấp phúc thẩm không xem xét đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông T nêu trên theo quy định của pháp luật.
  4. Theo Sổ điền thổ xã B, Bằng khoán 77 ngày 09/02/1956, Tờ lược giải số 5, quyển 20, số 858 có nội dung: Tiêu trừ và xóa bỏ trọn vẹn trên bất động sản bằng khoán điền thổ số 77 xã B (C), quyền hưởng huê lợi của ông Hồ Văn N và sự cấm bán không có sự ưng thuận của ông Hồ Văn N trong tờ lược giải số 2 trước đây, chiếu theo bổn sao tờ khai tử của ông Hồ Văn N đính trong tờ đoạn mãi sở bất động sản số 104, xã B lập tại Văn phòng Chưởng khế Fays ngày 13/8/1953 và đơn thỉnh nguyện của ông Nguyễn Quốc T3 chồng của bà Hồ Thị C đề ngày 08/02/1956 (bút lục số 99).
  5. Theo Quyết định của tỉnh Trưởng Chợ Lớn số 353 ngày 03/10/1955 có nội dung: Bà Hồ Thị C... được phép với điều kiện phải tôn trọng quyền lợi tư nhân lập trên sở đất số 77 tại xã B, quận G một nhà máy xay lúa chạy bằng dầu cặn. Trong việc khai thác nhà máy bà Hồ Thị C phải tuân theo luật hiện hành (bút lục số 97).
  6. Theo Thẻ môn bài loại 3 hạng 6 do Sở T6 cấp ngày 02/4/1973 thể hiện: Bà Hồ Thị C, nghề nghiệp Nhà máy xay lúa 14ml, được đem vào bộ thuế môn bài ở G kể từ ngày 01/01/1972, số thuế tổng cộng là 22.969 đồng (bút lục số 96).
  7. Theo Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện B số 416/QĐ-UB ngày 20/6/1985, về việc đưa vào hợp doanh nhà máy X của hộ Nguyễn Thị T2 tại xã B, có nội dung: Nay đưa vào hợp doanh nhà máy X, chủ cơ sở là Nguyễn Thị T2 ở xã B. Nhà nước thu hồi lại 1/3 số vốn của nhà máy do đồng chí Lưu Thắng K1 là cán bộ Cách mạng đã góp quỹ vào phần hùn từ ngày 01/8/1955 được quy thành tiền là 191.535 đồng. Cơ sở hợp doanh trên tổng giá trị vốn cố định là 766.140 đồng, gồm có 04 cổ phần, trong đó 02 cổ phần của bà Nguyễn Thị T2, 02 cổ phần của Nhà nước, 01 cổ phần do số vốn Nhà nước thu lại ở điều 2 và 01 cổ phần do Ủy ban nhân dân xã B đầu tư thêm (bút lục số 93).
  8. Theo Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện B số 440/QĐ-UB ngày 02/11/1993, về việc giải quyết tài sản Nhà máy X tại Ấp A xã B, có nội dung: Nay bãi bỏ việc công tư hợp doanh nhà máy X giữa Ủy ban nhân dân xã B với bà Nguyễn Thị T2. Đồng thời, chấp thuận cho bà được mua lại cổ phần của Nhà nước trong nhà máy X lúa hợp doanh Hòa H1 tại Ấp A xã B. Chấp thuận giá tài sản nhà máy X do Phòng T4 chánh, Ủy ban nhân dân xã B và bà Nguyễn Thị T2 cùng đề xuất theo Biên bản ngày 02/10/1993, với giá trị là 17.250.000 đồng, trong đó giá trị tài sản của nhà nước là 50% và giá trị tài sản của bà T2 là 50% (bút lục số 90).
  9. Theo Quyết định số 7141/QĐ-UB-QLĐT ngày 31/12/1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, về việc cho các tổ chức và cá nhân thuộc huyện B thuê đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ, có nội dung: Cho 96 tổ chức, cá nhân (theo danh sách đính kèm, trong đó có bà Nguyễn Thị T2 là người thuê đất, diện tích thuê 300m², địa điểm thuê đất A Ấp A, xã B, huyện B), thời gian thuê là 05 năm kể từ ngày 01/01/1996, thời gian thuê đất này sẽ được điều chỉnh lại sau khi thực hiện xong công tác rà soát quy hoạch và nhu cầu sử dụng đất của từng tổ chức, cá nhân. Sở Địa chính - Nhà đất ký hợp đồng cho thuê đất. Cục thuế thành phố tính toán, kiểm tra và duyệt giá thuê đất, thu tiền thuê đất hàng năm và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật (bút lục số 45 - 46).
  10. Theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa: Bên cho thuê đất (Bên A) Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh và Bên thuê đất (Bên B) bà Nguyễn Thị T2, có nội dung: Bên A cho Bên B thuê 300m² đất, tại A, ấp A, xã B, huyện B do Bên B đang sử dụng, vị trí khu đất được thể hiện trên tờ khai sử dụng đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B. Thời gian thuê đất tạm thời kể từ ngày 01/01/1996. Thời gian thuê đất này sẽ được điều chỉnh lại sau khi công tác rà soát quy hoạch và nhu cầu sử dụng đất lâu dài của tổ chức được thực hiện. Trong thời gian thuê đất này, nếu Nhà nước thực hiện quy hoạch tại khu đất trên, bà Nguyễn Thị T2 phải chấp hành theo quy định. Việc thuê đất không làm mất đi quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam đối với khu đất và mọi tài nguyên nằm dưới lòng đất... Hợp đồng thuê đất đương nhiên hết hiệu lực, trong các trường hợp hết thời hạn thuê đất...Giá thuê đất được ổn định tối thiểu 05 năm và được điều chỉnh trong trường hợp Ủy ban nhân dân Thành phố H điều chỉnh giá đất (bút lục số 18 - 21).
  11. Theo Công văn số 818/CV-GTĐ ngày 08/4/2002 của Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh, về việc chuyển giao hồ sơ giao, thuê đất của cá nhân thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân huyện, có nội dung: Sở Địa chính - Nhà đất chuyển Ủy ban nhân dân huyện B thực hiện việc thuê đất (hoặc giao đất) cho các trường hợp cá nhân thuê đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó có bà Nguyễn Thị T2 sử dụng đất tại xã B, huyện B (bút lục số 294).
  12. Theo Công văn số 2659/TNMT-QLSDĐ ngày 28/4/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành Đ đối với việc sử dụng đất tại số A ấp A, xã B, huyện B có nội dung: Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ký ngày 02/8/1999, giữa Sở Địa chính – Nhà đất và bà Nguyễn Thị T2 đã hết hiệu lực do không được gia hạn mà không cần phải thanh lý hợp đồng thuê đất. Trước đây, thực hiện Chỉ thị số 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức thực hiện một số việc cấp bách trong quản lý, sử dụng đất của tổ chức trong nước được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, Ủy ban nhân dân thành phố đã ban hành Quyết định số 7141/QĐ-UB-QLĐT cho bà Nguyễn Thị T2 thuê đất và Sở Địa chính - Nhà đất ký Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ với bà Nguyễn Thị T2 trên cơ sở danh sách do Ủy ban nhân dân cấp xã lập nhưng chưa qua rà soát và không lập hồ sơ cụ thể, dẫn tới cho thuê đất sai đối tượng (đối tượng kê khai là các tổ chức theo điểm 7 Chỉ thị 245). Do đó, không căn cứ vào Quyết định cho thuê đất số 7141/QĐ-UB-QLĐT và Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GĐT để xác lập quyền sử dụng đất mà cần phải kiểm tra, rà soát lại nguồn gốc, quá trình sử dụng đất để xác định chính xác (bút lục số 117).
  13. Tại Văn bản số 510/TNMT ngày 24/6/2014 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B, về việc giải quyết hồ sơ xin gia hạn thời gian thuê đất cơ sở sản xuất, kinh doanh, có nội dung: Vị trí khu đất xin gia hạn thời gian thuê đất cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc một phần thửa 91, tờ bản đồ số 7 (tài liệu 02/CT-UB), diện tích 300m² tại A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 30/5/2014, ông Nguyễn Anh T (con bà Nguyễn Thị T2) lập Đơn gia hạn hợp đồng thuê đất. Tuy nhiên, theo Công văn số 137/TATP-TDS ngày 04/02/2013 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, phẩn đất 300m² nêu trên, hiện đang tranh chấp thừa kế (nguyên đơn là ông Nguyễn Thành Đ). Do đó, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B chưa thể giải quyết hồ sơ xin gia hạn thời gian thuê đất cơ sở sản xuất, kinh doanh của bà Nguyễn Thị T2 (bút lục số 171).
  14. Theo Văn bản số 503/UBND ngày 05/02/2024 của Ủy ban nhân dân huyện B, về việc phúc đáp nội dung đơn của ông Nguyễn Anh T, xã B, huyện B, có nội dung: Khu đất đề nghị được tiếp tục thuê đất có diện tích 300m² thuộc một phần thửa 91, tờ bản đồ số 07 (tài liệu 02/CT-UB), tương ứng một phần các thửa 100, 101, tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B (trước đây là Nhà máy X), bà Nguyễn Thị T2 và Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố H đã ký Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GĐT ngày 02/8/1999 (theo Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở số 369/ĐH2010 do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 26/5/2010 được Phòng T kiểm tra nội nghiệp ngày 31/5/2010... Căn cứ Điều 52 Luật Đất đai năm 2013 và qua rà soát, liên quan trường hợp người sử dụng đất được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho thuê đất sử dụng vào mục đích đất cở sở S, đã hết thời hạn thuê đất theo Hợp đồng thuê, không phù hợp quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch xây dựng, tuy nhiên hiện trạng có công trình đang hoạt động, người sử dụng đất có nhu cầu tiếp tục thuê và chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm, Ủy ban nhân dân huyện B đã có Công văn số 4692/UBND ngày 25/10/2023 kiến nghị Sở Tài nguyên và Môi trường đề xuất Ủy ban nhân dân Thành phố H lập tổ công tác giải quyết khắc phục các trường hợp chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp trên địa bàn huyện B. Đồng thời, theo Công văn số 3587/TATP-TDS ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thì phần đất 300m2 tại địa chỉ A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh hiện đang tranh chấp. Do trường hợp của ông Nguyễn Anh T đang có tranh chấp quyền sử dụng đất, không phù hợp quy hoạch và không có đăng ký kế hoạch sử dụng đất nên Ủy ban nhân dân B chưa có cơ sở giải quyết theo đơn kiến nghị của ông Nguyễn Anh T và sẽ tiếp tục xem xét giải quyết sau khi có Bản án, Quyết định (đã có hiệu lực) của Tòa án nhân dân các cấp và ý kiến chỉ đạo, hướng dẫn của Ủy ban nhân dân Thành phố H, các Sở, Ngành liên quan (bút lục số 324 - 325).
  15. Theo Công văn số 5269/UBND ngày 24/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện B, về việc phúc đáp Công văn số 2951/TAHBC ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, có nội dung: Căn cứ khoản 1.2 Điều 1 Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, có nội dung: “Vị trí khu đất được thể hiện trên tờ khai sử dụng đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B”. Xét Đơn xin sử dụng đất xây dựng (dành cho cá nhân) do bà Nguyễn Thị T2 lập ngày 30/10/1996 được Ủy ban nhân dân xã B xác nhận ngày 30/10/1996, thể hiện địa điểm khu đất: tiếp giáp mặt tiền Quốc lộ A, mặt hông là Hương lộ 10 (nay là đường H), xã B, huyện B, diện tích 300m², loại đất công nghiệp, Nhà máy X và Bản đồ vị trí do Phòng Nông nghiệp thủy lợi lập, được Phòng Địa chính xác nhận sao y bản chính ngày 02/11/1996. Qua kiểm tra, đối chiếu Bản vẽ sở đồ nhà ở, đất ở số 369/ĐH2010 do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 26/5/2010 được Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện B duyệt nội nghiệp ngày 31/5/2010 và các nội dung trên, phần diện tích 300m² mà Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh đã cho bà Nguyễn Thị T2 thuê theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 có bao gồm phần đất diện tích 215,2m² thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21, bộ địa chính xã B theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD ngày 24/02/2021 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (bút lục số 296).
  16. Theo Đơn đăng ký sử dụng đất của bà Nguyễn Thị T2 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B ngày 21/02/2001, có nội dung: Khu đất đang sử dụng theo Quyết định thuê đất số 7141/QĐ/UB/QLĐT ngày 31/12/1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, diện tích 300m², địa điểm A10/1 Quốc lộ A, xã B, huyện B, mục đích sử dụng: Nhà máy xay xát. Về nguồn gốc tạo lập, sử dụng khu đất: Đất của gia đình cộng tác đóng góp với Cách mạng trong thời gian kháng chiến chống Pháp, thành lập năm 1954 đến năm 1994, nhà nước thanh lý lại cho bà Nguyễn Thị T2 (bút lục số 291).
  17. Theo Đơn xin sử dụng đất xây dựng (dành cho cá nhân) do bà Nguyễn Thị T2 lập ngày 30/10/1996, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B ngày 30/10/1996, thể hiện: địa điểm xin sử dụng đất xây dựng nhà ở: A10/1 Quốc lộ A, xã B, huyện B, đặc điểm khu đất: tiếp giáp mặt tiền Quốc lộ A, mặt hông là Hương lộ A, xã B, huyện B, diện tích 300m², loại đất công nghiệp, Nhà máy X và theo Bản đồ vị trí do Phòng Nông nghiệp thủy lợi lập, được Phòng Địa chính xác nhận sao y bản chính ngày 02/11/1996 có nội dung: Đo đạc vị trí khu đất theo yêu cầu và hướng dẫn của bà Nguyễn Thị T2, thuộc 1 phần lô 159 xã B (nhà máy X), để xin hợp thức hóa khu đất mà nhà máy đã xây dựng cũng như chủ sử dụng đất làm thủ tục xin đăng ký biến động (mẹ bà Hồ Thị C đã chết, có chung hộ khẩu thường trú), diện tích 295m², tỷ lệ 1/1000, có 67,5 đất trống (bút lục số 289 - 290).
  18. Xét, theo Sổ điền thổ xã B, Bằng khoán 77 ngày 09/02/1956 thể hiện, nguồn gốc đất là của ông Hồ Văn N. Đến năm 1953, ông N cho bà Hồ Thị C và ông Nguyễn Quốc T3 theo Tờ lược giải số 5, quyển 20, số 858 có nội dung: Tiêu trừ và xóa bỏ trọn vẹn trên bất động sản bằng khoán điền thổ số 77 xã B (C), quyền hưởng huê lợi của ông Hồ Văn N và sự cấm bán không có sự ưng thuận của ông Hồ Văn N, trong tờ lược giải số 2 trước đây, chiếu theo bổn sao tờ khai tử của ông Hồ Văn N đính trong tờ đoạn mãi sở bất động sản số 104, xã B lập tại Văn phòng Chưởng khế Fays ngày 13/8/1953 và đơn thỉnh nguyện của ông Nguyễn Quốc T3 chồng của bà Hồ Thị C đề ngày 08/02/1956 (bút lục số 99). Đến năm 1955, bà C xây dựng nhà máy xay lúa trên thửa đất số 77 xã B theo Quyết định của tỉnh Trưởng Chợ Lớn số 353 ngày 03/10/1955. Tuy nhiên, theo Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện B số 416/QĐ-UB ngày 20/6/1985, về việc đưa vào hợp doanh Nhà máy xay xát Hòa Hiệp của hộ Nguyễn Thị T2 tại xã B, có nội dung: Nay đưa vào hợp doanh nhà máy X, chủ cơ sở là Nguyễn Thị T2 ở xã B. Nhà nước thu hồi lại 1/3 số vốn của nhà máy do đồng chí Lưu Thắng K1 là cán bộ Cách mạng đã góp quỹ vào phần hùn từ ngày 01/8/1955 được quy thành tiền là 191.535 đồng. Cơ sở hợp doanh trên tổng giá trị vốn cố định là 766.140 đồng, gồm có 04 cổ phần, trong đó 02 cổ phần của bà Nguyễn Thị T2, 02 cổ phần của Nhà nước, 01 cổ phần do số vốn Nhà nước thu lại ở điều 2 và 01 cổ phần do Ủy ban nhân dân xã B đầu tư thêm (bút lục số 93). Đồng thời, theo Quyết định của Ủy ban nhân dân huyện B số 440/QĐ-UB ngày 02/11/1993, về việc giải quyết tài sản Nhà máy X tại Ấp A xã B, có nội dung: Nay bãi bỏ việc công tư hợp doanh nhà máy X giữa Ủy ban nhân dân xã B với bà Nguyễn Thị T2 và chấp thuận cho bà T2 được mua lại cổ phần của Nhà nước trong nhà máy X lúa hợp doanh H, tại Ấp A xã B. (bút lục số 90).
  19. Ngoài ra, theo Quyết định số 7141/QĐ-UB-QLĐT ngày 31/12/1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, về việc cho các tổ chức và cá nhân thuộc huyện B thuê đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 của Thủ tướng Chính phủ, có nội dung: Cho 96 tổ chức, cá nhân (theo danh sách đính kèm, trong đó có bà Nguyễn Thị T2 là người thuê đất, diện tích thuê 300m², địa điểm thuê đất A Ấp A, xã B, huyện B), thời gian thuê là 05 năm kể từ ngày 01/01/1996, thời gian thuê đất này sẽ được điều chỉnh lại sau khi thực hiện xong công tác rà soát quy hoạch và nhu cầu sử dụng đất của từng tổ chức, cá nhân. Sở Địa chính - Nhà đất ký hợp đồng cho thuê đất. Cục T7 tính toán, kiểm tra và duyệt giá thuê đất, thu tiền thuê đất hàng năm và các loại thuế khác theo quy định của pháp luật và theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa: Bên cho thuê đất (Bên A) Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố Hồ Chí Minh và Bên thuê đất (Bên B) bà Nguyễn Thị T2, có nội dung: Bên A cho Bên B thuê 300m² đất, tại A, ấp A, xã B, huyện B do Bên B đang sử dụng, vị trí khu đất được thể hiện trên tờ khai sử dụng đất theo Chỉ thị 245/TTg ngày 22/4/1996 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B, huyện B. Thời gian thuê đất tạm thời kể từ ngày 01/01/1996. Trong thời gian thuê đất này, nếu Nhà nước thực hiện quy hoạch tại khu đất trên, bà Nguyễn Thị T2 phải chấp hành theo quy định. Việc thuê đất không làm mất đi quyền sở hữu của Nhà nước Việt Nam đối với khu đất và mọi tài nguyên nằm dưới lòng đất... Hợp đồng thuê đất đương nhiên hết hiệu lực, trong các trường hợp hết thời hạn thuê đất...(bút lục số 18 - 21).
  20. Như vậy, diện tích đất 49,2m² nằm trong phần đất có diện tích 300m² thuộc một phần thửa 91, tờ bản đồ số 07 (tài liệu 02/CT-UB), tương ứng một phần các thửa 100, 101, tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B (trước đây là Nhà máy X), bà Nguyễn Thị T2 và Sở Địa chính - Nhà đất Thành phố H đã ký Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GĐT ngày 02/8/1999 (theo Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở số 369/ĐH2010 do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 26/5/2010 được Phòng T kiểm tra nội nghiệp ngày 31/5/2010 thuộc quyền sử dụng và quản lý của Nhà nước. Do đó, bị đơn ông Nguyễn Thành Đ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D, kháng cáo cho rằng, theo Bằng khoán đất, Bản vẽ, Quyết định thành lập Nhà máy X, Thẻ môn bài, Giấy đóng thuế, tất cả đều mang tên bà Hồ Thị C, nên khu đất 300m² không phải đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý, là không có căn cứ nên không chấp nhận.
  21. Căn cứ Công văn số 5269/UBND ngày 24/11/2023 của Ủy ban nhân dân huyện B, về việc phúc đáp Công văn số 2951/TAHBC ngày 23/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh và theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh (Số hợp đồng: 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD) do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 28/11/2023, thì phần diện tích đất tranh chấp là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1) do Nhà nước chủ sở hữu và quản lý vì nằm trong phần diện tích 300m² đã được giao cho bà Nguyễn Thị T2 tại thời điểm cho thuê theo Bản vẽ sơ đồ nhà ở, đất ở số 369/ĐH2010 do Công ty Cổ phần T5 lập ngày 26/5/2010 và được Phòng T kiểm tra nội nghiệp ngày 31/5/2010. Do đó, ông Nguyễn Thành Đ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D đại diện cho rằng, phần diện tích đất 49,2m² không thuộc phần diện tích đất thuê theo Hợp đồng thuê đất số số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, là không có căn cứ nên không chấp nhận.
  22. Xét, Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, giữa: Sở Địa chính – Nhà đất, Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2 không nêu thời hạn thuê đất nhưng theo nội dung Quyết định số 7141QĐ-UB-QLĐT ngày 31/12/1998 của Ủy ban nhân dân Thành phố H, có quy định thời gian thuê là 05 năm kể từ ngày 01/01/1996, nên Hợp đồng thuê đất ngày 02/8/1999 đã hết thời hạn thuê đất. Đồng thời, theo Công văn số 2659/TNMT-QLSDĐ ngày 28/4/2014 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H, về việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Nguyễn Thành Đ đối với việc sử dụng đất tại số A ấp A, xã B, huyện B, có nội dung: Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ký ngày 02/8/1999 giữa Sở địa chính – Nhà đất và bà Nguyễn Thị T2 đã hết hiệu lực do không được gia hạn mà không cần phải thanh lý hợp đồng thuê đất. Như vậy, Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999, là phù hợp với quy định tại Điều 1 và Điều 13 của Luật Đất đai năm 1993. Phần diện tích đất 49,2m² thuộc một phần thửa 101, nằm trong khu đất có diện tích 300m², thuộc một phần các thửa 100, 101, tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B, trước đây là Nhà máy X, là thuộc quyền sử dụng và quản lý của Nhà nước cho bà Nguyễn Thị T2 thuê. Hợp đồng thuê đất ngày 02/8/1999 đã hết hạn nhưng Nhà nước (Ủy ban nhân dân huyện B) chưa giải quyết gia hạn hoặc thu hồi. Tuy nhiên, như đã nhận định trên, đây là đất thuộc quyền sử dụng và quản lý của Nhà nước cho bà T2 thuê nên việc ông Đ trồng cây, chậu kiểng... trên đất của bà T2 được Nhà nước (Sở Địa chính - Nhà đất) cho thuê mà không được sự đồng ý của bà T2. Bà Nguyễn Thị T2 chết năm 2014, có một người con là ông Nguyễn Anh T và là hàng thừa kế duy nhất vẫn tiếp tục sử dụng phần diện tích đất 300m² nêu trên và nộp thuế tiền thuê đất hàng năm theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 cho nhà nước từ năm 2018 đến năm 2023. Do đó, ông Nguyễn Thành Đ ủy quyền cho bà Nguyễn Thị D đại diện kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm là không có căn cứ nên không chấp nhận.
  23. Xét, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đang thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm số 24 ngày 14/01/2011, về việc “Tranh chấp thừa kế”, giữa nguyên đơn ông Nguyễn Thành Đ với bị đơn bà Nguyễn Thị T2, có yêu cầu chia di sản quyền sử dụng đất 2.926m² (trong đó có phần đất 300m2 tại một phần các thửa 100, 101, tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B), trước đây là Nhà máy X đã được Sở Địa chính - Nhà đất cho bà Nguyễn Thị T2 thuê theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999. Như đã nhận định trên, phần diện tích đất 49,2m² nằm trong khu đất có diện tích 300m² tại một phần các thửa 100, 101, tờ bản đồ số 21 (tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B, trước đây là Nhà máy X, là thuộc quyền sử dụng và quản lý của Nhà nước cho bà Nguyễn Thị T2 thuê. Nguyên đơn ông T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Đ di dời số bồn cây, chậu hoa trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1), thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC), tọa lạc tại xã B, huyện B. Như vậy, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh giải quyết buộc ông Đ phải di dời số bồn cây, chậu hoa trả lại phần diện tích đất lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1), thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC), tọa lạc tại xã B, huyện B (là một phần đất trong Hợp đồng thuê đất ngày 02/8/1999), không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án “Tranh chấp thừa kế” đang được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh kháng nghị và bị đơn ông Đ ủy quyền cho bà D đại diện yêu cầu hủy bản án sơ thẩm, với lý do, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử vụ án mà không phải đợi kết quả giải quyết vụ án “Tranh chấp thừa kế” đang được Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh giải quyết là vi phạm thủ tục tố tụng, là không có căn cứ nên không chấp nhận.
  24. Căn cứ đơn khởi kiện của nguyên đơn và trong quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Anh T chỉ yêu cầu buộc ông Nguyễn Thành Đ di dời số bồn cây, chậu kiểng và trả lại phần đất 49,2m² (bút lục số 66). Bản án sơ thẩm, tuyên buộc ông Nguyễn Thành Đ và ông Nguyễn Thành D1 có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng và trả lại phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý với diện tích lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1)..., là vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Thành Đ; yêu cầu của người đại diện theo ủy quyền của ông D1 và kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh là có căn cứ. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông Đ ủy quyền cho bà D đại diện và ông D1 ủy quyền cho bà P đại diện xác nhận thống nhất, ông D1 không có liên quan gì đối với các cây trồng trên phần đất tranh chấp. Tất cả các số bồn cây, chậu kiểng và cây trồng trên phần đất 49,2m² là của ông Đ. Ông D1 chỉ là người chăm sóc các cây trồng cho ông Đ. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm, sửa bản án sơ thẩm, không tuyên buộc ông D1 có nghĩa vụ di dời các chậu kiểng, cây trồng trên đất và trả lại phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý với diện tích lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1)...
  25. Đồng thời, án sơ thẩm tuyên trả lại phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý với diện tích lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1), thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21 (Theo tài liệu BĐĐC), tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh (số hợp đồng: 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD) ngày 28/11/2023 do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập cho người được thuê đất ông Nguyễn Anh T hiện đang sử dụng theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 ký giữa Sở Địa chính – Nhà đất, Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2 là chưa đúng, vì ông Nguyễn Anh T không phải là người thuê đất với Sở Địa Chính - Nhà đất Thành phố H. Ông T là con của bà Nguyễn Thị T2 (là người thuê đất với Sở Địa chính - Nhà đất), bà T2 (chết) nên ông T là người thừa kế của bà T2. Do đó, sửa lại nội dung tuyên xử cho phù hợp.
  26. Ngoài ra, theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chổ ngày 14/01/2021, thì trên phần đất tranh chấp có những chậu cây kiểng và các cây trồng trên đất nhưng án sơ thẩm tuyên di dời các chậu kiểng là chưa cụ thể, nên bổ sung cho cụ thể hơn.
  27. Án sơ thẩm nhận định, kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện B xem xét sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, trong trường hợp ông Nguyễn Anh T có nhu cầu tiếp tục sử dụng đất đối với phần diện tích 300m², thuộc một phần thửa 100, thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo Tài liệu BĐĐC), Bộ địa chính xã B, huyện B tọa lạc tại địa chỉ số A ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý thì phải liên hệ Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để được xem xét và giải quyết theo quy định của pháp luật về đất đai, là không cần thiết. Bởi vì, đây là tài sản của Nhà nước do Ủy ban nhân dân huyện B đại diện chủ sử dụng, nên Ủy ban nhân dân huyện B xem xét cấp đất hay thu hồi... thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân huyện B.
  28. Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Chấp nhận một phần kháng nghị số 03/QĐ-VKS–DS ngày 11/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Đ. Sửa bản án sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, không buộc ông Nguyễn Thành D1 phải di dời các chậu kiểng và cây trồng trên phần đất 49,2m².

Như đã nhận định trên, đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.

[29] Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa bản án sơ thẩm nên ông Đ không phải chịu, đồng thời, ông Đ là người cao tuổi có đơn xin miễn nộp án phí, nên được miễn tạm nộp án phí, án phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 và khoản 2 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 1 và Điều 13 của Luật Đất đai năm 1993;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Thành Đ.
  2. Chấp nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 03/QĐ-VKS–DS ngày 11/3/2024 của Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 80/2024/DS-ST ngày 26/02/2024 của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

      Buộc ông Nguyễn Thành Đ có nghĩa vụ di dời tất cả các chậu kiểng, các cây trồng và trả lại phần đất thuộc sở hữu Nhà nước và quản lý với diện tích lấn chiếm là 49,2m² (tương ứng vị trí số 1), thuộc một phần thửa 101, tờ bản đồ số 21 (theo tài liệu BĐĐC), tọa lạc tại xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Bản đồ hiện trạng vị trí – áp ranh (số hợp đồng: 14343/TTĐĐBĐ-VPĐD) do Trung tâm đo đạc bản đồ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 28/11/2023 cho ông Nguyễn Anh T (là người thừa kế của bà Nguyễn Thị T2), theo Hợp đồng thuê đất số 10502/HĐ-GTĐ ngày 02/8/1999 ký giữa Sở Địa chính – Nhà đất, Thành phố Hồ Chí Minh với bà Nguyễn Thị T2.

    2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
      1. Ông Nguyễn Thành Đ được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
      2. Hoàn trả lại cho ông Nguyễn Anh T số tiền 3.750.000đ (ba triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002766 ngày 28/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
    3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thành Đ phải hoàn trả lại cho ông Nguyễn Anh T số tiền 9.564.810đ (chín triệu năm trăm sáu mươi bốn nghìn tám trăm mười đồng).
  4. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Thành Đ không phải chịu (được miễn tạm nộp án phí).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)./.

Nơi nhận:

  • - TAND TC;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục Thi hành án dân sự TPHCM;
  • - Chi cục THA DS huyện Bình Chánh;
  • - TAND huyện Bình Chánh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Tường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 646/2024/DS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 646/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger