TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 645/2024/HNGĐ-ST Ngày: 25-7-2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Phối
- Bà Lê Thị Ngọc
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 295/2024/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 4 năm 2024 về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 192/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Chị Tống Thị Thu T, sinh năm: 1987; HKTT: 08/11 Đoàn Thị D, P. T, TP. B, T. Hiệp ở: Hẻm A T, KP4, P. B, thị xã H. T. B. (vắng mặt).
- * Bị đơn: Anh Diệp Đại N, sinh năm: 1984; HKTT: 08/11 Đoàn Thị D, P. T, TP. B, T. Hiệp ở: Tổ1, KP2, P. B, TP. B, T. B. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 09/4/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Tống Thị Thu T trình bày: Chị và anh D Đại Nghĩa kết hôn vào ngày 20/01/2010 tại UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu và tự nguyện. Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, bình thường nhưng cũng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, nên thường xuyên gây gổ, xúc phạm nhau, anh N thường hay nói lời nghe đến gia đình chị làm tổn thương đến chị và các con đến mức chị không thể chịu đựng được, chị và anh cũng đã nhiều lần tự hàn gắn gia đình nhưng vẫn không được vì anh không có thay đổi. Nên chị sống ly thân từ năm 2017 cho đến nay. Nay chị nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã rất trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn gia đình, nên chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh N để chị ổn định cuộc sống.
Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung tên Diệp Tống Thành T1, sinh ngày 21/10/2009 và Diệp Tống Minh T2, sinh ngày 24/02/2015, hiện sức khỏe các con bình thường, cháu T1 đang sống cùng anh N, cháu T2 đang sống cùng chị. Nay ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục nuôi cháu T2 và giao cháu T1 cho anh N trực tiếp nuôi dưỡng và không ai cấp dưỡng nuôi con cho ai.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Diệp Đại N trình bày:
Anh thống nhất như lời trình bày của chị T về quá trình tìm hiểu và thời gian kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn theo anh kể từ ngày chung sống vợ chồng sống hạnh phúc bình thường không phát sinh mâu thuẫn gì và sinh được hai người con, nhưng vào ngày 10/3/2020 chị T bỏ về quê khi nghe bà nội chị T mất rồi chị đi luôn và tìm mọi lý do để không quay về chung sống với anh và con, từ đó không quan tâm gì đến anh, đến gia đình mặc dù anh rất nhiều lần về quê động viên chị T hàn gắn gia đình nhưng chị vẫn không đồng ý hàn gắn và không chịu quay về, vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh không đồng ý ly hôn.
Quá trình chung sống vợ chồng chị có 02 con chung tên Diệp Tống Thành T1, sinh ngày 21/10/2009 và Diệp Tống Minh T2, sinh ngày 24/02/2015, hiện sức khỏe các con bình thường, cháu T1 đang sống cùng anh, cháu T2 đang sống cùng chị T. Nếu Tòa cho ly hôn anh có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng hai con chung và không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS. Bị đơn còn vi phạm khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
* Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Chấp nhận yêu cầu của chị Tống Thị Thu T được ly hôn anh Diệp Đại N. Về con chung: Giao cháu Diệp Tống Thành T1, sinh ngày 21/10/2009 anh Diệp Đại N được trực tiếp nuôi dưỡng và giao cháu Diệp Tống Minh T2, sinh ngày 24/02/2015 cho chị Tống Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng, không xem xét về việc cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại Tổ A, KP2, P. B, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa, HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Tống Thị Thu T và anh D Đại Nghĩa kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 20/01/2010 tại UBND phường T, thành phố Q, tỉnh Bình Định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị T và anh N thống nhất sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian nhưng hiện tại anh chị đã sống ly thân từ nhiều năm nay, đã bỏ mặc nhau và không còn tình cảm vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa đã tiến hành hòa giải nhiều lần nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả, là phù hợp với việc Tòa thu thập chứng cứ tại địa phương. Nay chị T yêu cầu ly hôn anh N, anh N không đồng ý ly hôn chị T nhưng không có biện pháp hàn gắn tình cảm vợ chồng. HĐXX xét thấy hôn nhân của anh chị có mâu thuẫn và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không có, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay chị T yêu cầu ly hôn anh Nghĩa 1 phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được qui định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 con chung tên Diệp Tống Thành T1, sinh ngày 21/10/2009 và Diệp Tống Minh T2, sinh ngày 24/02/2015, hiện sức khỏe các con bình thường cháu T1 đang sống cùng anh N, cháu T2 đang sống cùng chị T. Nay chị T và anh N đều yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
- Việc nuôi dưỡng con chung: Xét yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung của chị T và anh Nghĩa 1 hoàn toàn chính đáng. Nhưng thấy rằng từ khi vợ chồng ly thân cho đến nay cháu T1 sống cùng anh N, cháu T2 sống cùng chị T, hiện các cháu đều trên bảy tuổi và có nguyện vọng ổn định cuộc sống như hiện nay, cháu T1 muốn sống cùng anh N, cháu T2 muốn sống cùng chị T. Do đó để ổn định tâm lý cho các cháu HĐXX giao cháu T1 cho anh N tiếp tục nuôi dưỡng và giao cháu T2 cho chị T tiếp tục nuôi dưỡng là hợp lý nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con và phù hợp theo quy định Điều 81, 82, 83 luật hôn nhân và gia đình.
- Việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T anh N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản: Chị T, anh N không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị Tống Thị Thu T phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên Tòa là phù hợp với HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, 39, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Tống Thị Thu T được ly hôn anh Diệp Đại N.
- Về con chung: Chị T và anh N có hai con chung tên Diệp Tống Thành T1, sinh ngày 21/10/2009 và Diệp Tống Minh T2, sinh ngày 24/02/2015, hiện sức khỏe các con bình thường, cháu T1 đang sống cùng anh N, cháu T2 đang sống cùng chị T.
- - Việc nuôi dưỡng con chung:
- + Giao con chung tên Diệp Tống Minh T2, sinh ngày 24/02/2015 cho chị Tống Thị Thu T được trực tiếp nuôi dưỡng.
- + Giao con chung tên Diệp Tống Thành T1, sinh ngày 21/10/2009 cho anh D Đại Nghĩa được trực tiếp nuôi dưỡng.
- - Về việc cấp dưỡng nuôi con chung: Chị T3, anh N không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Vì lợi ích của con khi cần thiết hai bên có quyền xin thay đổi nơi nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung không bên nào được ngăn cản.
- - Việc nuôi dưỡng con chung:
- Về tài sản chung: Chị T3, anh N không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Tống Thị Thu T phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn, không được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000801 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, chị T đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Tống Thị Thu T, anh D Đại Nghĩa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Dung |
Bản án số 645/2024/HNGĐ-ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung
- Số bản án: 645/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con
