Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 645/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 9 - 2024

“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Hoà

Các Hội thẩm nhân dân:Bà Lương Thảo Vy

Bà Huỳnh Thị Lệ Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa:

Không.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 486/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 610/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 671/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1972. Địa chỉ: Tổ D, ấp M, xã T, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Huỳnh Minh N1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Tổ A, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 01/7/2024 và quá trình tố tụng bà Nguyễn Thị N trình bày:

  • - Về hôn nhân: Bà và ông N1 tự tìm hiểu và tự nguyện kết hôn chung sống với nhau vào năm 2014 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc tuy nhiên sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ khoảng năm 2017 đến nay. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N1.
  • - Về con chung: Trong thời gian chung sống không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Do ông Huỳnh Minh N1 cố tình vắng mặt không có lý do, không có thiện chí hoà giải nên đề nghị Toà án không tiếp tục tiến hành hoà giải mà sớm đưa vụ án ra xét xử.

Bị đơn ông Huỳnh Minh N1 vắng mặt các lần toà án triệu tập không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại phiên toà,

Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Chủ tọa phiên tòa đã công bố đơn khởi kiện và toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật, quan điểm về vụ án như sau:

  • - Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ, bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông N1; Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Không xem xét; Về án phí, quyền kháng cáo giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với ông Huỳnh Minh N1. Do đó, Hội đồng xét xử xác định tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về quan hệ tranh chấp: Ông Huỳnh Minh N1 có địa chỉ cư trú tại địa bàn huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3] Về tài liệu, chứng cứ: Toà án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đã tống đạt thông báo kết quả phiên họp cho ông Huỳnh Minh N1. Do đó, Toà án xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai, tiếp cận để giải quyết vụ án theo quy định.

[1.4] Về sự vắng mặt, có mặt của đương sự: Bà Nguyễn Thị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông Huỳnh Minh N1 vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N và ông Huỳnh Minh Nghĩa L phù hợp quy định tại Điều 227, Điều 228 và 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Nguyễn Thị N và ông Huỳnh Minh N1 đã tự nguyện xác lập quan hệ vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C. Do đó, hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Huỳnh Minh Nghĩa L hợp pháp, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Bà Nguyễn Thị N cho rằng trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và cảm thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng không thể hàn gắn được nên ông bà đã sống ly thân từ năm 2017. Hội đồng xét xử thấy rằng, quá trình chuẩn bị xét xử toà án đã thực hiện thủ tục hoà giải để tạo điều kiện cho vợ chồng đoàn tụ nhưng ông Huỳnh Minh N1 đều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ ông Huỳnh Minh N1 không còn mong muốn tiếp tục đoàn tụ.

Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình quy định, “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị N và ông Huỳnh Minh N1 đã ly thân từ 2017 đến nay là một thời gian rất dài, điều này thể hiện ông bà đã không thực hiện được tình nghĩa của vợ chồng theo quy định của pháp luật. Do đó, ông bà đã vi phạm nghiêm trọng quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình quy định “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hoà giải tại Toà án không thành thì Toà án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được”

Từ những phân tích trên, HĐXX thấy rằng yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Huỳnh Minh Nghĩa L phù hợp các quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Về quan hệ con chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, trong thời gian chung sống, bà Nguyễn Thị N và ông Huỳnh Minh N1 không có con chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết vấn đề con chung.

[2.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung:

Hội đồng xét xử thấy rằng, bà Nguyễn Thị N không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông Huỳnh Minh N1 không có ý kiến đối với vấn đề này và nợ chung của vợ chồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí:

Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Huỳnh Minh N1 không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Điều 19, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Điểm a, b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân:

    Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị N đối với ông Huỳnh Minh N1. Bà Nguyễn Thị N và ông Huỳnh Minh N1 ly hôn.

  2. Về quan hệ con chung: Không xem xét
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.
  4. Về án phí:

    Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số: 0005913 ngày 06 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú.

  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; Đối với trường hợp đương sự đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - UBND xã Thạnh Mỹ Tây, H.Châu Phú;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - CCTHADS huyện Châu Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Võ Văn Hòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 645/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 645/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger