TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 645/2024/HS- PT | |
Ngày: 14/8/2024 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Tiến Dũng;
Bà Nguyễn Ngọc Hoa.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tùng, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Ông Vũ Hồng Điệp, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 372/TLPT-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị H cùng các đồng phạm, phạm tội “Tổ chức đánh bạc”; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS- ST ngày 30 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
* Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thị H, sinh ngày 20/02/1982; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Văn Q và bà Hoàng Thị N; chồng là Phan Đình H1; có 02 con; Tiền án: tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 10/10/2022 được tại ngoại; vắng mặt tại phiên tòa.
- Phan Mạnh C, sinh ngày 24/5/1978; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 05/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phan Đình T và bà Hà Thị Đ; vợ là Nguyễn Thị L; có 01 con; Tiền án: tiền sự: Không; bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến ngày 10/10/2022 được tại ngoại; vắng mặt tại phiên tòa.
- Phùng Văn Q1, sinh ngày 13/3/1978; nơi cư trú: Tổ dân phố N, phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phùng Văn L1 và bà Đỗ Thị H2; vợ là Nguyễn Thị H3; có 04 con; Tiền án: tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 37/2017/HS- ST ngày 24/4/2017 của TAND thành phố Vĩnh Yên xử phạt Q1 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”, phạt sung công 3.000.000đ, án phí 200.000đ. Sau đó Q1 kháng cáo xin hưởng án treo. Tại Bản án số 37/HSPT ngày 30/6/2017 của TAND tỉnh Vĩnh Phúc xét xử y án sơ thẩm. Chấp hành xong án phạt tù, ra trại ngày 14/12/2017. Nộp phạt và án phí xong tháng 8/2017. Bản án này đã được xóa án. Bị cáo tại ngoại; vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/10/2022, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V nhận được tin báo của quần chúng nhân dân qua điện thoại trực ban hình sự với nội dung tố cáo Phan Mạnh C, sinh năm 1978, trú tại phường N, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nguyễn Thị H, sinh năm 1982 trú tại phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc cùng một số đối tượng trên địa bàn thành phố V có hoạt động tổ chức đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề. Kết quả điều tra xác định hành vi phạm tội của các bị cáo như sau:
Phan Mạnh C đã đứng ra làm chủ lô, đề thu gom bảng lô, đề của Nguyễn Thị H, Nguyễn Văn T1, sinh năm 1975, ở tổ dân phố Q, phường H, thành phố V và Lê Hoài N1, sinh năm 1984, ở tổ dân phố V, phường T, thành phố V để ôm bảng tính thắng thua. H, T1 và N1 làm thư ký cấp dưới (cấp 2) bán số lô, số đề cho người chơi và thư ký cấp dưới (cấp 3) rồi tập hợp chuyển bảng cho C để hưởng lợi. C thỏa thuận, thống nhất với N1, T1, H giá một điểm lô là 21.680đ; C thu 71% số tiền mua số đề; lô xiên tính giá 10.000đ/01 điểm thì C thu 56% tiền mua; số đề ba càng C thu 56% số tiền mua đối với T1 và H và 60% đối với N1. Còn việc H, N1, T1 bán số lô, số đề cho thư ký cấp dưới hoặc người chơi giá như thế nào là do H, N1, T1 tự quy định.
Sau khi thỏa thuận với C như vậy, H đã liên kết với Nguyễn Mạnh H4, sinh năm 1984; Bùi Văn S, sinh năm 1962; Phùng Văn Đ1, sinh năm 1972; Phùng Văn Đ2, sinh năm 1966; Phùng Quang L2, sinh năm 1961; Phùng Văn Y, sinh năm 1974; Phùng Văn Q1, sinh năm 1978; Phùng Thị H5, sinh năm 1966 đều trú tại phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc làm thư ký bán số lô, số đề cho người chơi rồi tập hợp lại chuyển cho H. Hường thỏa thuận với các thư ký giá một điểm lô là 21.700đ; Hường thu 72% số tiền mua số đề; lô xiên và số đề ba càng H thu 65% số tiền mua, còn các thư ký bán số lô, số đề cho người chơi với giá bao nhiêu thì H không quy định.
Sau khi thỏa thuận với C, N1 đã trực tiếp bán số lô, số đề cho người chơi với giá 22.000đ/01 điểm lô; số đề tính giá 75%; số đề ba càng tính giá 70% rồi tập hợp chuyển bảng cho C để hưởng tiền chênh lệch.
Sau khi thỏa thuận với C, T1 đã trực tiếp bán số lô, số đề cho người chơi với giá số lô 22.000đ/01 điểm; số đề tính giá 80% tiền mua; số lô xiên giá 10.000đ/01 điểm tính giá 60%; số đề ba càng giá 40% rồi tập hợp chuyển bảng cho C để hưởng tiền chênh lệch.
*Về cách thức đánh bạc:
Các đối tượng sử dụng điện thoại di động để nhắn tin SMS cho nhau có nội dung chuyển bảng lô, đề. Để hỗ trợ việc tính toán, nhận bảng lô đề từ các thư ký C và H đã cài đặt phần mềm LotteryVN từ kho ứng dụng của điện thoại (CHPLAY) về điện thoại. Sau đó các đối tượng sử dụng phần mềm này liên kết với tin nhắn SMS để phần mềm tự động trả lời đồng ý nhận bảng lô, đề của thư ký qua tin nhắn SMS. Khi có kết quả xổ số miền B, phần mềm tự động cập nhật kết quả để tính thắng thua của từng bảng lô, đề rồi tự động soạn tin nhắn trả lời đến số điện thoại của các thư ký, hết ngày thì phần mềm này tự động xóa hết các dữ liệu tin nhắn. Về thời gian nhận bảng lô, đề của các thư ký, C quy định đối với tin nhắn chuyển số lô phải chuyển cho C trước 18h15' hàng ngày, tin nhắn chuyển số đề phải chuyển đến trước 18h28' hàng ngày, những tin nhắn chuyển đến sau thời gian quy định thì C sẽ không nhận. Căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng hồi 18h15¢ cùng ngày để tính thắng, thua, mức trả thưởng giữa chủ lô, đề, thư ký và người chơi.
Đối với số đề, dựa vào kết quả của giải đặc biệt, nếu số đề mua trùng với 02 số cuối của giải đặc biệt thì người mua trúng đề, được trả tiền gấp 70 lần số tiền mua số đề; đối với số đề ba càng, nếu số đề ba càng mua trùng với 03 số cuối của giải đặc biệt thì người mua trúng đề ba càng được trả gấp 400 lần số tiền mua số đề ba càng đó (số tiền ghi trong tin nhắn mua số đề).
Đối với số lô, nếu số lô người chơi mua trùng với 02 số cuối của bất kì giải thưởng nào của kết quả xổ số miền B thì người mua trúng lô, được trả số tiền 80.000đ/ 01 điểm, nếu số lô mua trùng với 02 số cuối của nhiều giải thì được tính trúng nhiều lần.
Đối với lô xiên hai, xiên ba, xiên bốn nếu tất cả các số lô trong cặp lô xiên trùng với hai số cuối của tất cả các giải thưởng kết quả xổ số miền B thì được trả thưởng gấp 10 lần số tiền mua đối với lô xiên hai, gấp 40 lần tiền mua đối với mua lô xiên ba, gấp 100 lần đối với lô xiên bốn.
Trường hợp người chơi mua số đề, số đề ba càng, lô xiên không trúng thì người mua phải trả số tiền sau khi đã trừ phần trăm chiết khấu như đã thỏa thuận.
Ngày 01/10/2022, các đối tượng nhắn tin chuyển bảng số lô, số đề cho nhau, sau khi có kết quả xổ số đã đối chiếu thắng thua cho nhau nhưng chưa thanh toán tiền mua số lô, số đề, tiền hưởng chênh lệch, tiền thắng thua thì bị Cơ quan điều tra phát hiện.
Phan Mạnh C là đại lý cấp 1 nhận bảng số lô, số đề trái phép của H, N1, T1 (là những thư ký cấp 2) và tự ôm bảng, cân đối thắng thua để hưởng lợi. Thuần và N1 đều bán số lô, số đề cho người chơi rồi tập hợp lại chuyển toàn bộ tin nhắn cho C để hưởng tiền chênh lệch; H nhận bảng của các thư ký (thư ký cấp 3) và người chơi, sau đó tổng hợp bảng lô, đề và chuyển cho C một phần để hưởng tiền chênh lệch, còn lại giữ một phần để ôm bảng tính thắng thua. Cụ thể hành vi phạm tội của các đối tượng như sau:
- - Đối với Phan Mạnh C ngày 01/10/2022 đã nhận bảng lô, đề của H, T1 và N1 với tổng số tiền sử dụng vào việc tổ chức đánh bạc là 226.935.380đ, cụ thể: C nhận 11 tin nhắn SMS của H chuyển bảng số lô, số để, tổng số tiền là 100.807.880₫ bao gồm 78.487.880đ (tiền mua lô, đề sau khi C đã chiết khấu cho H) + 22.320.000đ (tiền trúng). C và H chưa thanh toán tiền chuyển bảng và tiền thắng thua thì bị Cơ quan điều tra phát hiện. C nhận 12 tin nhắn SMS của T1 chuyển bảng số lô, số đề, tổng số tiền là 88.887.300đ bao gồm 47.347.300đ (tiền mua lô, đề sau khi C đã chiết khấu cho T1) + 41.540.000đ (tiền trúng). C và T1 chưa thanh toán tiền chuyển bảng và tiền thắng thua thì bị Cơ quan điều tra phát hiện. C nhận 11 tin nhắn SMS của N1 chuyển bảng số lô, số đề, tổng số tiền là 27.126.820₫ bao gồm 17.126.820đ (tiền mua lô, đề sau khi C đã chiết khấu cho N1) + 10.000.000đ (tiền trúng). C và N1 chưa thanh toán tiền chuyển bảng và tiền thắng thua thì bị Cơ quan điều tra phát hiện.
- - Đối với Nguyễn Thị H ngày 01/10/2022 tổ chức đánh bạc số tiền 603.550.700đ, cụ thể: Hường là thư ký lô, đề cho C, đã nhận bảng của các thư ký cấp dưới gồm H4, S, Đ1, Đ2, L2, Y, Q1, H5 và một số đối tượng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Sau đó H đã tổng hợp bảng lô, đề và chuyển cho C 11 tin nhắn là một phần những số lô, số đề H mua của các thư ký để hưởng số tiền chênh lệch là 2.209.970đ; các số lô, số đề còn lại của các thư ký chuyển bảng cho H, H giữ lại để ôm bảng tính thắng thua với người chơi. Tổng số tiền H nhận chuyển bảng là 405.000.700đ (sau khi đã được Hường chiết khấu), sau khi có kết quả mở thưởng xổ số thì thư ký và người chơi trúng số tiền là 198.550.000đ. Hường và các đối tượng chưa thanh toán tiền chuyển bảng và tiền thắng thua thì bị Cơ quan điều tra phát hiện.
- - Đối với Phùng Văn Q1 ngày 01/10/2022 tổ chức đánh bạc số tiền 105.810.000đ, cụ thể: Quyết là thư ký lô đề của H, Q1 bán số lô, số đề cho người mua, sau đó tập hợp chuyển toàn bộ bảng lô, đề cho H để hưởng chênh lệch. Ngày 01/10/2022, Q1 bán số lô, số đề với tổng số tiền là 76.310.000đ, sau khi trừ chiết khấu Q1 được hưởng số tiền chênh lệch là 2.168.500đ, căn cứ kết quả xổ số mở thưởng thì người chơi trúng thưởng là 29.500.000đ. Các đối tượng chưa thanh toán tiền mua số lô, số đề, tiền thắng thua, tiền chênh lệch cho nhau thì bị phát hiện.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS- ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, quyết định:
- - Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H, Phan Mạnh C, Phùng Văn Q1 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.
- - Áp dụng khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo H và bị cáo C:
- + Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến 10/10/2022.
- Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- + Xử phạt bị cáo Phan Mạnh C 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến 10/10/2022.
- Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- - Áp dụng khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Phùng Văn Q1 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
- Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo khác; xử lý vật chứng, án phí, và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/10/2023, các bị cáo Nguyễn Thị H, Phan Mạnh C, Phùng Văn Q1 có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt và xin hưởng án treo.
Các bị cáo vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm; bị cáo Q1 có đơn xin hoãn phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cho rằng cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội danh trên là có cơ sở; do kháng cáo không có căn cứ nên đề nghị áp dụng Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
- Kháng cáo của Nguyễn Thị H, Phan Mạnh C, Phùng Văn Q1 được thực hiện trong thời hạn quy định nên đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm.
- Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không có mặt, bị cáo Phùng Văn Q1 có đơn xin hoãn phiên tòa nhưng không xuất trình được lí do chính đáng; xét thấy việc vắng mặt của các bị cáo không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Xem xét hồ sơ vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm thấy rằng các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận :
- - Ngày 01/10/2022, Phan Mạnh C đã nhận bảng lô, đề của H, T1 và N1 với tổng số tiền sử dụng vào việc tổ chức đánh bạc là 226.935.380đ, cụ thể: C nhận 11 tin nhắn SMS của H chuyển bảng số lô, số đề, tổng số tiền là 100.807.880₫ bao gồm 78.487.880đ (tiền mua lô, đề sau khi C đã chiết khấu cho H) + 22.320.000đ (tiền trúng).
- C nhận 12 tin nhắn SMS của T1 chuyển bảng số lô, số đề, tổng số tiền là 88.887.300đ bao gồm 47.347.300đ (tiền mua lô, đề sau khi C đã chiết khấu cho T1) + 41.540.000đ (tiền trúng).
- C nhận 11 tin nhắn SMS của N1 chuyển bảng số lô, số đề, tổng số tiền là 27.126.820đ bao gồm 17.126.820đ (tiền mua lô, đề sau khi C đã chiết khấu cho N1) + 10.000.000đ (tiền trúng).
- - Đối với Nguyễn Thị H tổ chức đánh bạc số tiền 603.550.700đ, cụ thể: Hường là thư ký lô, đề cho C, đã nhận bảng của các thư ký cấp dưới gồm H4, S, Đ1, Đ2, L2, Y, Q1, H5 và một số đối tượng không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Sau đó H đã tổng hợp bảng lô, đề và chuyển cho C 11 tin nhắn là một phần những số lô, số đề H mua của các thư ký để hưởng số tiền chênh lệch là 2.209.970đ; các số lô, số đề còn lại của các thư ký chuyển bảng cho H, H giữ lại để ôm bảng tính thắng thua với người chơi. Tổng số tiền H nhận chuyển bảng là 405.000.700đ (sau khi đã được Hường chiết khấu), sau khi có kết quả mở thưởng xổ số thì thư ký và người chơi trúng số tiền là 198.550.000đ.
- - Đối với Phùng Văn Q1 ngày 01/10/2022 tổ chức đánh bạc số tiền 105.810.000đ, cụ thể: Quyết là thư ký lô đề của H, Q1 bán số lô, số đề cho người mua, sau đó tập hợp chuyển toàn bộ bảng lô, đề cho H để hưởng chênh lệch. Ngày 01/10/2022, Q1 bán số lô, số đề với tổng số tiền là 76.310.000đ, sau khi trừ chiết khấu Q1 được hưởng số tiền chênh lệch là 2.168.500đ, căn cứ kết quả xổ số mở thưởng thì người chơi trúng thưởng là 29.500.000đ.
Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Phan Mạnh C, Nguyễn Thị H, Phùng Văn Q1 cùng đồng phạm về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Trong vụ án này các bị cáo tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề, trong đó bị cáo C có vai trò là người khởi xướng, đã tổ chức đánh bạc, nhận bảng lô, đề của nhiều người với tổng số tiền là 226.935.380đ. Bị cáo H cũng là người tổ chức đánh bạc bằng cách thu gom bảng lô đề của các thư ký rồi chuyển bảng cho C hoặc giữ lại để ôm bảng tính thắng thua với người chơi; bị cáo tổ chức đánh bạc với tổng số tiền lớn nhất trong số các bị cáo (603.550.700đ). Bị cáo Q1 có nhân thân xấu, năm 2017 từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội tổ chức đánh bạc với số tiền 105.810.000 đồng.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, chỉ trong một ngày các bị cáo phạm tội với số tiền rất lớn thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất hành vi phạm tội, xem xét vai trò, mức độ phạm tội và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với các bị cáo nên hình phạt đã áp dụng là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Về án phí: các bị cáo Phan Mạnh Cường, Nguyễn Thị H, Phùng Văn Q1 kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016//UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Phan Mạnh C, Nguyễn Thị H, Phùng Văn Q1; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 111/2023/HS-ST ngày 30/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến 10/10/2022.
Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phan Mạnh C 02 (Hai) năm, 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến 10/10/2022.
Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phùng Văn Q1 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng sung ngân sách nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, 3 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được trừ vào thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/10/2022 đến 10/10/2022.
- Về án phí phúc thẩm: các bị cáo Phan Mạnh C, Nguyễn Thị H, Phùng Văn Q1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án Hình sự có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Xuân |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Nguyễn Ngọc Hoa | Nguyễn Tiến Dũng | Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Bản án số 645/2024/HS- PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 645/2024/HS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vụ án hình sự
