TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
Bản án số: 644/2025/DSPT Ngày: 11-6-2025 V/v: “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tuấn Vinh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Văn Khương
Bà Nguyễn Thị Thụy Vũ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Kim Nhi – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh:
Ông Nguyễn Gia Viễn - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Trong các ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1055/2024/TLPT-DS ngày 20 tháng 12 năm 2024 về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DSST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 1101/2025/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H (Nguyen H), sinh năm 1959. Địa chỉ: A S. F - USA (Hoa Kỳ).
Đại diện uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1945. Địa chỉ: D đường B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 09/02/2022).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khu A, ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1982, địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ tạm trú: 260/2, Võ Thị S, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. (Văn bản ủy quyền ngày 14/11/2022).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ UBND huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ: Ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo pháp luật: Ông Huỳnh Tấn T - Chủ tịch UBND huyện. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh K - Phó Trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (Văn bản ủy quyền số 3533/GUQ-UBND ngày 02/6/2023).
+ Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1963. Địa chỉ: H John Robert Dr O – USA. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Đức Đ, sinh năm 1945. Địa chỉ: D đường B, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 09/02/2022);
+ Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1970. Địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
+ Bà Nguyễn Thị Thu H2, sinh năm 1984. Địa chỉ: Khu A, ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vợ ông L); Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1982, địa chỉ: Ấp A, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Địa chỉ tạm trú: 260/2, Võ Thị S, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Văn bản ủy quyền ngày 14/11/2022).
+ Cháu Nguyễn Thị Mộng X, sinh năm 2006;
+ Cháu Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm 2009;
+ Cháu Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 2021;
(Cháu X, cháu L1, cháu T1 do ông L, bà H2 là giám hộ đại diện);
(Ông Đ1, ông Đ có mặt; các đương sự khác vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản làm việc và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H do ông Nguyễn Đức Đ trình bày:
Vào năm 2002, bà Nguyễn Thị Hồng từ Hoa K1 đã gửi số tiền 12.000USD (tương đương tại thời điểm là 270.000.000₫ VNĐ) cho em ruột là ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1963 hiện đã định cư tại Hoa Kỳ (đã xác nhận nội dung hợp thức hóa lãnh sự của ông Nguyễn Văn P ngày 13/3/2022) mua lại nhà đất ở của vợ chồng ông Đào Văn K2 đồng thời sửa chữa xây dựng lại nhà ở theo hiện trạng nhà đất đang sử dụng với diện tích đất 367m², trong đó có 300m² đất thổ cư còn lại đất mầu) thửa đất số 210 tờ bản đồ xã L, huyện L cũ. Đất đã được UBND huyện L cũ (nay là huyện C) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 20/4/2002 đứng tên em ruột bà H là ông Nguyễn Văn L. Qua việc đăng ký cấp đổi, cập nhật bản đồ địa chính nhiều lần và các năm 2014, 2016 hình thể ranh giới mốc giới không thay đổi, đo đạc bản đồ diện tích đất biến động 466m² trong đó được cấp 372m², có 300m² đất ở, không được cấp 105m² thửa đất mới số 76 tờ bản đồ số 43 ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai cùng với tài sản là nhà
ở, công trình phụ gắn liền với đất.
Việc bà H gửi tiền về mua đất xây dựng lại nhà để ở hàng năm về có chỗ ở, để mẹ đẻ là bà Lê Thị H3, sinh năm 1940 - chết ngày 29/10/2021 lúc còn sống ở cùng. Nguyễn Văn L ở cùng với mẹ bà H do bà H có quốc tịch Hoa Kỳ nên đã nhờ em trai út Nguyễn Văn L đại diện đứng tên giùm quản lý, sử dụng nhà đất, thuế nhà đất, tiền mua nhà đất, các lệ phí khác hàng năm bà H gửi tiền cho ông L nộp thuế cùng với tiền bà H gửi tiền về chăm sóc, nuôi dưỡng mẹ ruột là Lê Thị H3, cùng giúp đỡ tiền bạc cho ông L lấy vợ, lập gia đình sau này.
Qua việc đăng ký cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất vào các năm 2016, ông L đã đưa vợ là bà Nguyễn Thị Thu H2 cùng đứng tên là đồng sở hữu nhưng không hỏi ý kiến và H gây tâm lý bức xúc cho bà H. Bà H đã về ủy quyền cho em gái là Nguyễn Thị H1 giải quyết tranh chấp tại UBND xã nhưng không thỏa thuận được. Nay, bà H yêu cầu Tòa án:
+ Huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 154046, số vào sổ cấp GCN CS 01860 cấp ngày: 12/5/2016 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp đối với thửa đất: số 76 tờ bản đồ số 43, với diện tích: 477m², ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai cấp cho ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2 đứng tên.
+ Yêu cầu ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2 giao trả lại quyền sử dụng đất đối với thửa đất: số 76 tờ bản đồ số 43, với diện tích: 477m2, ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Và giao thửa đất này cho em ruột là bà Nguyễn Thị H1 đứng tên quản lý sử dụng.
Bị đơn do ông Nguyễn Văn Đ1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Vào năm 2002 bà H có cho ông 12.000USD để ông L mua đất và làm nhà để ông L, mẹ ông L và bà ngoại ông L cùng sinh sống. Thửa đất trên là ông L đã mua và đăng ký quyền sở hữu tên tôi. Đến năm 2016 khi nhà nước làm thủ tục cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông L đã đồng ý cho bà Nguyễn Thị Thu H2 đứng tên chung và gia đình ông L đã quản lý sử dụng ổn định thửa đất từ đó đến nay.
Tuy nhiên, vừa qua, bà H khởi kiện yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với thửa đất của ông L là không có cơ sở vì ông L là chủ sở hữu thửa đất trên mặc dù tiền mua đất là bà H cho nhưng bà H đã cho ông L thì ông L có quyền sở hữu và cho bà H2 cùng sở hữu chung. Yêu cầu Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Ông L không mượn tiền của đất của bà H sử dụng, không đứng tên giùm cho bà H.
Tại bản tự khai ngày 06/6/2023, ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày: Trong quá trình chung sống tại căn nhà tranh chấp, ông L, bà H2 có cải tạo, sửa chữa tại nhà và các công trình có liên quan. Tại biên bản làm việc ngày 26/6/2023, ông L, bà H2 không yêu cầu giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, bà Nguyễn Thị Thu H2 do ông
Nguyễn Văn Đ1 là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Bà H2 là vợ ông Nguyễn Văn L. Bà H2 thống nhất lời trình bày của ông L. Bà H2 đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn P do ông Nguyễn Đức Đ là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông P là em ruột bà Nguyễn Thị H và là anh ruột của ông Nguyễn Văn L và là con ruột bà Lê Thị H3. Vào năm 2002, bà Nguyễn Thị H đã chuyển về cho ông P số tiền 12.000 USD tương đương 170.000.000đ Việt Nam để mua nhà đất ở cho bà H diện tích 367m² (đã trừ lộ giới 180m²) thuộc thửa đất số 280 tờ bản đồ số 2 xã L, huyện L (nay là là thị trấn L, huyện C), tỉnh Đồng Nai của chủ đất cũ là ông Đào Văn K2. Trước mắt để nhà và đất cho mẹ ruột là bà H3 cùng em trai là Nguyễn Văn L độc thân có chỗ ăn ở, sinh sống. Do bà H là người định cư tại Hoa Kỳ chưa được đứng tên trên giấy Chứng nhận quyền sử dụng đất, bà H3 cũng đã lớn tuổi nên ông P thỏa thuận với bà H để em trai là Nguyễn Văn L đang phụng dưỡng mẹ được đại diện đứng tên về nhà đất mới mua, nhằm thuận tiện trong việc lập hồ sơ, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nộp các loại thuế trước bạ, lệ phí sang tên cho ông L vào năm 2002. Thỏa thuận, khi cần lấy lại nhà đất ông L sẽ lập thủ tục giao trả nhà đất cho bà H.
Năm 2014 - 2016, ông P được biết qua chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đo đạc, lập bản đồ địa chính mới và cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất tranh chấp, đã được sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2 đứng tên. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại bản tự khai, bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Bà là em ruột bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn P, là chị ruột bị đơn Nguyễn Văn L. Bà Nguyễn Thị Thu H2 là vợ của L. Bà thống nhất với nội dung khởi kiện của bà H và ý kiến của ông Nguyễn Đức Đ. Bà xác nhận tài sản tranh chấp có nguồn gốc của ông Đào Văn K2 từ nguồn tiền của bà H từ Hoa Kỳ gửi về mua với mục đích cho mẹ ruột Lê Thị H3 cư trú cùng với ông L do ông L đại diện đứng tên cho bà H. Năm 2021, bà H3 chết nên bà H yêu cầu ông L, bà H2 trả lại nhà và đất tranh chấp cho bà H. Bà đồng ý là đại diện đứng tên quản lý, sử dụng nhà và đất ở của bà H.
Tại Văn bản số 8185/UBND - NC ngày 12/9/2022, Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Thửa đất số 210 tờ bản đồ số 2 xã L được UBND huyện L (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đào Văn K2 ngày 17/6/1997. Ngày 04/7/2002, ông Đào Văn K2 lập hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L và được UBND xã L ký xác nhận Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 11/7/2002.
Ngày 20/11/2002, UBND huyện L (cũ) ban hành quyết định số
1121/QĐ.UBND về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L.
Ngày 25/01/2013, ông Nguyễn Văn L lập hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 26/6/2014.
Ngày 05/11/2014, ông Nguyễn Văn L lập hồ sơ cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo bản đồ địa chính xã L, thửa đất 210 tờ bản đồ số 02 theo bản đồ địa chính mới thành lập là thửa đất số 76 tờ bản đồ số 43, được Sở Tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L là đúng trình tự, thủ tục.
Căn cứ Luật đất đai năm 2013, Điều 76, Nghị định số 43/2014/NPĐ - CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ thì UBND huyện C xác định việc cấp giấy chứng nhận ông Nguyễn Văn L là đúng trình tự, thủ tục.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 53/2024/DSST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H (Nguyen H) đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Thu H2 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H (Nguyen H) số tiền là 3.179.643.500đ.
Đình chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 154046, số vào số cấp GCN CS 01860 cấp đối với thửa đất số 76 tờ bản đồ số 43, với diện tích: 477m², ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai do ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 24/9/2024, bị đơn kháng cáo yêu cầu bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, phía bị đơn giữ nguyên kháng cáo và trình bày số tiền bà H gửi về là tiền bà H cho ông L để ông L mua nhà đất sống cùng mẹ ruột chứ không có chứng cứ thể hiện ông L đứng tên giùm. Hiên nay vợ chồng ông L đứng tên chủ quyền nhà đất là hoàn toàn phù hợp quy định của pháp luật, đề nghị sửa án sơ thẩm, bác yêu cầu của bà H.
Đại diện nguyên đơn trình bày:
Các anh em trong nhà và mẹ ruột đều thừa nhận bà H là người nhờ ông L đứng tên nhà đất đề cho mẹ ruột ở cũng như bà H có chỗ đi về khi bà về Việt Nam. Đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát trình bày quan điểm:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, các đương sự đã tuân thủ đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung kháng cáo:
Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bà H đã bỏ tiền để ông L đứng tên giùm căn nhà đang tranh chấp, bản án sơ thẩm là có căn cứ, các đương sự kháng cáo nhưng không có chứng cứ mới, đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng nai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn L làm trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo:
Đối với yêu cầu đòi lại quyền sử dụng đất và sở hữu nhà ở: Theo nguyên đơn trình bày, năm 2002, để có nhà đất cho mẹ và em trai Nguyễn Văn L ở và là nơi để bà H về Việt Nam tạm trú nên bà H là Việt kiều Quốc tịch Hoa Kỳ đã gửi 12.000 USD (tương đương giá 270.000.000đ) cho ông Nguyễn Văn P khi đó đang ở Việt Nam đứng ra nhận chuyển nhượng nhà đất. Bà H đã bàn với mẹ ruột là Lê Thị H3 và các anh chị em trong gia đình nhờ em trai là Nguyễn Văn L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do vậy, ông P biết được ông Đào Văn K2 muốn bán thửa đất số 210 tờ bản đồ số 2 tọa lạc tại địa chỉ khu A, ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai nên đã đồng ý mua. Do nhờ ông L2 đứng tên giấy tờ đất nên ngày 04/7/2002, ông Đào Văn K2 lập hồ sơ chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn L. Ngày 20/11/2002, UBND huyện L (tên gọi cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn L. Sau khi ông L đứng tên tài sản tranh chấp thì mẹ bà H là Lê Thị H3 sinh sống cùng với ông L. Ngày 12/5/2016 ông L làm thủ tục cấp đổi sổ cùng sở hữu với vợ là Nguyễn Thị Thu H2 và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở cho ông L, bà H2. Nay bà H yêu cầu vợ chồng ông L, bà H2 trả lại quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Bà H đồng ý giao tài sản tranh chấp cho em gái là Nguyễn Thị H1 có quốc tịch Việt Nam đứng tên người quản lý quyền sử dụng nhà đất.
Lời trình bày của nguyên đơn là có căn cứ vì mặc dù bà H không cung cấp được thỏa thuận cho ông Nguyễn Văn L đứng tên hộ nhưng căn cứ giấy xác nhận ngày 29/10/2018, bà Lê Thị H3 là mẹ ruột ông L xác nhận nội dung bà Nguyễn Thị H gửi 12.000USD nhờ ông L đứng tên do bà H không có quốc tịch Việt Nam. Tại bản tự khai ngày 12/5/2023, ông Nguyễn Văn P là anh trai của ông L cũng xác nhận bà H gửi tiền về cho ông P tìm mua đất và giao tiền cho ông K2, ông L chỉ là người đứng tên giùm; Tại giấy cam đoan của ông Đào Văn K2 là chủ đất cũ cũng xác nhận ông P là người đứng trực tiếp giao tiền cho ông K2 và là người đứng ra thỏa thuận chuyển nhượng. Tại bản tự khai ngày 20/11/2023, ông Đào Văn K2 là chủ đất cũ cũng xác nhận ông bàn thửa đất tranh chấp, có nhận tiền từ ông P, ông L là người đứng tên giùm. Lời khai của
bà H1 là chị gái ông L, lời khai của ông P là anh trai ông cũng xác nhận bà H gửi 12.000USD về Việt Nam mua nhà đất và nhờ ông L đứng tên giùm. Lý do nhờ ông L đứng tên được phía nguyên đơn giải thích vì bà H muốn có nhà đất cho mẹ ruột là bà H3 cư trú, khi đó ông P đang làm hồ sơ định cư tại Hoa Kỳ còn ông L mới 17 - 18 tuổi, là trai con út chưa vợ con đang ở cùng mẹ bà H3 nên bà H bàn với anh em cho ông L đứng tên giùm chứ bà H không cho ông L số tiền như ông L trình bày.
Phía bị đơn thừa nhận bà H gửi 12.000 USD nhưng cho rằng số tiền này bà H cho ông L để mua nhà đất nên tài sản tranh chấp thuộc quyền sử dụng, quyền sở hữu, định đoạt của ông L; bà H không có văn bản thỏa thuận nào với ông L về việc cho ông L đứng tên giùm; bà H3 ký giấy cam kết tại thời điểm bị bệnh, tinh thần không minh mẫn. Lời trình bày này của phía bị đơn không có chứng cứ chứng minh, không được nguyên đơn thừa nhận và không phù hợp với chứng cứ có tại hồ sơ nên không được chấp nhận; Đối với giấy tờ khám chữa bệnh không thể hiện bà H3 bị mất năng lực hành vi dân sự nên lời trình bày của phía bị đơn là không có căn cứ.
Từ phân tích và nhận định trên, hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định, bà H đã gửi 12.000 USD về Việt Nam cho ông P, mục đích mua nhà đất và nhờ ông L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà đất đang tranh chấp. Đối chiếu Án lệ số 02/2016 ngày 06/4/2016 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì cần xem xét và tính công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ; trường hợp không xác định được chính xác công sức của người đó thì cần xác định người thực chất của trả tiền để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và người đứng tên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hộ có công sức ngang nhau để chia phần giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ban đầu.
Xét điều kiện, nhu cầu nhà ở nhận thấy: Gia đình ông L gồm ông L, vợ là bà H2, các con Nguyễn Thị Mộng X, sinh năm 2006, Nguyễn Thị Thu L1, sinh năm 2009, Nguyễn Thị Anh T1, sinh năm 2021 đang cùng sinh sống tại căn nhà đang tranh chấp từ khoảng năm 2002 cho đến nay. Ngoài căn nhà trên, gia đình ông L không còn nơi sinh sống, lưu trú nào khác. Ông L đồng ý cho bà H2 đứng tên quyền sử dụng đất nên cần tiếp tục giao cho ông L được quyền sử dụng căn nhà và thửa đất số 76 tờ bản đồ số 43 với diện tích: 477m², ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai. Buộc ông L, bà H2 phải có trách nhiệm thanh toán lại giá trị cho bà H số tiền ban đầu gửi cho về mua nhà, đất 12.000 USD tương đương 270.000.000 đồng và giá trị tài sản chênh lệch được hưởng.
Về công sức bảo quản, giữ gìn, tôn tạo làm tăng giá trị quyền sử dụng đất cho người đứng tên hộ là ông Nguyễn Văn L. Do không xác định được công sức của người giữ tài sản nên được chia giá trị chênh lệch ngang nhau, chia mỗi người hưởng ½ giá trị tài sản tranh chấp thể hiện tại chứng thư thẩm định giá.
Về nhà ở, bị đơn ông L trình bày có bỏ tiền ra sữa chữa nhà ở nhưng không chứng minh được việc xây nhà và có các nhân chứng khai nhà ở, sửa chữa nhà
do anh chị em góp tiền xây sửa nên chỉ có cơ sở xem xét chia đôi giá trị nhà ở cho các bên.
Căn cứ Chứng thư Thẩm định giá số 360/TĐG-CT ngày 11/12/2023 của Công ty Cổ phần V thì giá trị tài sản là 6.630.411.000 đồng (trong đó giá trị quyền sử dụng đất là 6.192.258.000₫).
Số tiền bà H gửi cho về mua nhà, đất 12.000USD tương đương 270.000.000đồng (bao gồm cả chi phí sửa chữa nhà ở) còn lại là giá trị chênh lệch tăng thêm so với tiền gốc: Giá trị đất 6.192.258.000 đồng – 270.000.000 đồng = 5.922.258.000 đồng. Phần chênh lệch được chia: 5.922.258.000 đồng: 2 = 2.961.129.000 đồng. Giá trị nhà: 437.029.000 :2 = 218.514.500đ.
Giá trị cây xanh 1.124.000đ (cây xanh do ông L trồng nên thuộc quyền sở hữu của ông L). Hiện nay ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2 không còn chỗ ở nào khác nên cần giao nhà cho bà H, cần buộc ông L, bà H2 phải thanh toán lại cho bà H số tiền là = 3.179.643.500đ.
Theo đại diện nguyên đơn, bà H định cư tại Hoa Kỳ, không có quốc tịch Việt Nam. Bà H đòi lại nhà đất tranh chấp và đồng ý cho bà Nguyễn Thị H1 đứng tên giấy chứng nhận nhà đất. Như nhận định nêu trên, đề nghị của bà H cho bà H1 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được chấp nhận.
- Đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: Tại điểm 2, phần II Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân Tối cao về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự và tố tụng hành chính đã xác định: Việc cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội dung biến động trong trường hợp thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết định hành chính cá biệt. Vì vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và việc cập nhật trang 3 giấy chứng nhận không thuộc đối tượng khởi kiện hành chính và toàn bộ nhà và đất vẫn do ông L, bà H2 đứng tên nên Tòa án đình chỉ đối với yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo yêu cầu khởi kiện của bà H.
Căn cứ những nhận định trên, xét thấy bản án sơ thẩm là có căn cứ, Hội đồng xét xử bác kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
[3]. Do không được chấp nhận kháng cáo, ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn L, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 53/2024/DSST ngày 16 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản Điều 26; khoản 1 Điều 37; điểm đ khoản 1 điều 192; điểm g khoản 1 Điều 217; Điều 227; Điều 288; Điều 266; Điều 34; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 5 và 169 Luật đất đai; Điều 7, 8, 159 và 160 Luật nhà ở năm 2014; Căn cứ Điều 131, 166, 224, 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H (Nguyen H) đối với bị đơn ông Nguyễn Văn L về việc “Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.
Buộc bị đơn ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Thu H2 phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị H (Nguyen H) số tiền là 3.179.643.500đ.
Đình chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 154046, số vào số cấp GCN CS 01860 cấp đối với thửa đất số 76 tờ bản đồ số 43, với diện tích: 477m², ấp S, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai do ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị Thu H2 phải nộp 95.593.000đ án phí dân sự sơ thẩm.
3. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn L phải hoàn trả cho bà Nguyễn Thị H (Nguyen H) số tiền 23.640.000đ chi phí tố tụng.
Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu số 0001001 ngày 02/10/2024 của Cục thi hành án tỉnh Đồng Nai (đã nộp đủ).
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao; - VKSNDCC tại Tp. Hồ Chí Minh; - TAND tỉnh Đồng Nai; - Cục THADS tỉnh Đồng Nai; - Đương sự; - Lưu HS, VP, (HKN). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Tuấn Vinh |
CÁC THẨM PHÁN
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Khương | Nguyễn Thị Thụy Vũ | Dương Tuấn Vinh |
Bản án số 644/2025/DSPT ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 644/2025/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
