| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 643/2025/HC-PT Ngày: 26-5-2025 V/v “Khiếu kiện quyết định thu hồi đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc
Các Thẩm phán: Ông Phan Văn Yên
Ông Phan Nhựt Bình
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đặng Quốc Hoàng - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, công khai xét xử phúc thẩm vụ án hành chính thụ lý số: 1273/2024/HCPT ngày 12 tháng 12 năm 2024 về việc “Khiếu kiện quyết định thu hồi đất”.
Do có kháng cáo của người khởi kiện đối với bản án hành chính sơ thẩm số 166/2024/HCST ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 242/2025/QĐPT ngày 09 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, giữa:
- - Người khởi kiện: Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1971 (có mặt)
- Địa chỉ: Lô F, số B, đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hùng T, sinh năm 1963 (có mặt)
- Địa chỉ: Lô F, số B, đường C, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
- Bà Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp G, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: bà Nguyễn Thị Ngọc H thuộc Đoàn luật sư Thành phố H (có mặt).
- - Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn H1 - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố R.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Trung T2- Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố R (có mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần T4.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thọ T3 - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Minh Đ - Chức vụ: Phó ban Pháp chế (có mặt).
Cùng địa chỉ: Số C, đường T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
- Theo đơn khởi kiện ngày 01/8/2023 và quá trình tham gia tố tụng, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ú trình bày:
Bà có thửa đất số 22, thuộc tờ bản đồ số 82, diện tích 3.840,30 m², đất trồng cây lâu năm, tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Từ khi sang nhượng thửa đất này bà canh tác lúa liên tục một năm 02 vụ, làm nguồn sống chính cho gia đình, sau đó đã xin chuyển mục đích sử dụng đất sang trồng cây lâu năm để xây dựng nhà xưởng và làm cửa hàng bán đồ gỗ.
Năm 2017, Công ty Cổ phần T4(CIC Group) của ông Trần Thọ T3 vào bao chiếm đất, san lấp mặt bằng, phân lô, bán nền, khi chưa có quyết định thu hồi đất. Bà không thống nhất việc làm của Công ty Cổ phần T4 (C).
Vì Quyết định chủ trương đầu tư số 112/QĐ-UBND, ngày 13/01/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh K, trên cơ sở Nghị quyết của HĐND tỉnh K đã xác định: Tên Dự án đầu tư KHU DÂN CƯ NAM AN HÒA, THÀNH PHỐ RẠCH GIÁ, địa điểm thực hiện Dự án: Khu phố 3 và 5 phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, diện tích đất: 101.908,6 m²
Vậy mà, đất của bà ở khu phố B phường A, thành phố R nhưng Công ty Cổ phần T4 cũng bao chiếm luôn, thành ra tổng diện tích mà công ty này sử dụng lên đến 393.600 m², không đúng với Quyết định chủ trương đầu tư số 112/QĐ-UBND.
Ngày 16/8/2022, Văn phòng UBND tỉnh K có thông báo số 624/TB-UBND về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh K xem xét kiến nghị của Công ty Cổ phần T4. Ngày 29/9/2022, Phó Chủ tịch UBND thành phố R, tỉnh Kiên Giang tổ chức làm việc với bà để triển khai Thông báo số 624/TB-UBND ngày 16/8/2022, vì mục đích chung, cơ bản gia đình bà đồng ý nội dung thông báo số 624. Ngày 05/10/2022 Công ty Cổ phần T4, đã ký biên bản thỏa thuận về việc chuyển nhượng đất theo thông báo số 624 của UBND tỉnh.
Vì vậy, ngày 18/11/2022, UBND thành phố R, tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú, để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang của UBND thành phố R.
Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện thông báo số 624/TB-UBND về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh K xem xét kiến nghị của Công ty Cổ phần T4, về phía Công ty Cổ phần T4 luôn thực hiện không đúng lời hứa với gia đình tôi, đưa ra những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật, đến nay vẫn chưa bồi thường.
Từ những lý do trên, bà Nguyễn Thị Ú làm đơn này khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú, để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang của UBND thành phố R; Buộc Công ty Cổ phần T4 trả lại đất sạch cho bà Nguyễn Thị Ú.
- Người bị kiện Ủy ban nhân dân thành phố R, tỉnh Kiên Giang trình bày ý kiến:
Dự án Khu dân cư N tại phường A, thành phố R được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của UBND tỉnh K.
Ngày 20/02/2017 UBND thành phố R ban hành Thông báo số 180/TB-UBND về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú tại phường A, thành phố R để thực hiện dự án xây dựng Khu dân cư N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang,
Ngày 04/7/2017 UBND thành phố R ban hành Quyết định số 410/QĐ-UBND về việc phê duyệt Phương án bồi thường về đất đai, hoa màu, vật kiến trúc và hỗ trợ tái định cư công trình xây dựng Khu dân cư N, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Đồng thời ban hành Quyết định số 365/QĐ-UBND ngày 04/7/2017 về việc thu hồi 3.840,30 m² đất trồng cây lâu năm của ông (bà) Nguyễn Thị Ú đang sử dụng thuộc thửa đất số 22, tờ bản đồ số 82 tại phường A, thành phố R để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, Quyết định số 346/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 về việc bồi thường, hỗ trợ cho ông (bà) Nguyễn Thị Ú tổng số tiền 2.599.883.1000.
Ngày 04/9/2018 UBND thành phố R ban hành Quyết định số 93/QĐ-UBND về việc điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Thị Ú số tiền 2.880.225.000đ.
Ngày 28/12/2018 UBND thành phố R ban hành Quyết định số 1447/QĐ-UBND về việc bồi thường, bổ trợ bổ sung cho ông (bà) Nguyễn Thị Ú 880.267.500đ, bao gồm hỗ trợ về đất đai 864,067.500đ và hỗ trợ ổn định đời sống 16.200.000đ.
Như vậy qua các quyết định điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ bổ sung thì tổng số tiền bồi thường của bà Ú là 6.360.275.100đ, bà Ú không đồng ý nhận tiền bồi thường, hỗ trợ và làm đơn khiếu nại.
Ngày 19/9/2018 UBND thành phố R ban hành Quyết định số 146/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Ú, giữ nguyên Quyết định số 365/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 của UBND thành phố R về việc thu hồi đất và bồi thường cho bà Nguyễn Thị Ú là đúng quy định của pháp luật. Bà Ú tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh xem xét giải quyết và ban hành Thông báo số 108/TB-UBND ngày 07/4/2020 với nội dung: Giao cho Chủ tịch UBND thành phố R thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 19/9/2018 về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Ú. Giao UBND thành phố R thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 365/QĐ-UBND ngày 04/7/2017 về việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Ú, Quyết định số 346/QĐ-UBND 11/7/2017 về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Nguyễn Thị Ú, đồng thời lập thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư về đất cho bà Nguyễn Thị Ú theo đúng quy định của pháp luật.
Chủ tịch UBND thành phố R ban hành quyết định số 144/QĐ-UBND ngày 16/6/2020 về việc hủy bỏ Quyết định số 146/QĐ-UBND ngày 19/9/2018 về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị Ú; Quyết định số 04/QĐ-UBND ngày 07/5/2020 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 365/QĐ-UBND ngày 04/7/2017 ve việc thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Ú1; Quyết định số 79/QĐ-UBND ngày 07/5/2009 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 46/QĐ-UBND ngày 11/7/2017 về việc bồi thường, hỗ trợ cho hộ bà Nguyễn Thị Ú; Quyết định số 81/QĐ-UBND ngày 07/5/2020 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 04/9/2018 việc điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho hộ bà Nguyễn Thị Ú: Quyết định số 81/QĐ-UBND ngày 07/3/2020 về việc thu hồi, hủy bỏ Quyết định số 1447/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 về việc điều chỉnh bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho hộ bà Nguyễn Thị Ú.
Sau đó, UBND thành phố R ban hành Kế hoạch số 60/KH-UBND ngày 07/5/2020 về đo đạc, kiểm đếm; Thông báo thu hồi đất số 309/TB-UBND 07/5/2020 về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú diện tích 3,340,30 mm, thửa đất số 22, tờ bản đồ số 82 tại phường A để thực hiện dự án khu dân cư N, phường A, thành phố R. Các văn bản trên đã được triển khai đến hộ bà Nguyễn Thị Ú biết để thực hiện.
Quá trình tổ chức thực hiện UBND thành phố có Báo cáo số ngày 29/3/2022 gửi Sở T5 về khó khăn, vướng mắc khi thực hiện thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Ú để thực hiện dự án Khu dân cư N. Sở T5 báo cáo UBND tỉnh xem xét giải quyết. Văn phòng UBND tỉnh K ban hành Thông báo số 624/TB-UBND ngày 16/8/2022 về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh xem xét kiến nghị của Công ty Cổ phần T4.
Ngày 18/11/2022 UBND thành phố R ban hành Quyết định 518/QĐ- UBND về việc thu hồi diện tích 3.058,50 m² đất trồng cây lâu năm của ông (bà) Nguyễn Thị Ú đang sử dụng thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 82 tại phường A, thành phố R để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Quyết định số 1122/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và thu hồi giá trị bồi thường, hỗ trợ theo thông báo kết luận của UBND tỉnh K đối với bà Nguyễn Thị Ú; Quyết định số 526/QĐ-UBD ngày 23/11/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Ú để thực hiện dự án Khu dân cư N với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 10.386.176.400đ.
Đối với diện tích 3.058,50 m² đất thu hồi để xây dựng đường giao thông và công viên thì ông Nguyễn Hùng T (được bà Nguyễn Thị Ú ủy quyền) đã ký bàn giao đất cho UBND thành phố, UBND thành phố bàn giao cho Công ty Cổ phần T4 để đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy hoạch được duyệt. Hiện nay đường giao thông đã xây dựng xong.
Việc UBND thành phố ban hành các quyết định nêu trên là đúng trình tự, thủ tục theo quy định. UBND thành phố không thu hồi Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 của UBND thành phố R theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị Ú, đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ú.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T4 trình bày ý kiến:
Dự án Khu dân cư N thuộc phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang do Công ty Cổ phần T4 đầu tư xây đang theo Quyết định chủ trương đầu tư số 112/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh K. Đây là Dự án thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đã giao cho nhà đầu tư miền khai thực hiện Dự án nên toàn bộ quá trình thu hồi đất, từ khâu lập phương án hỗ trợ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đến việc thực hiện chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ và nhận, giao mặt bằng từ người có đất bị thu hồi đều do các cơ quan chức năng thực hiện theo trình tự thủ tục của pháp luật quy định.
Ngày 07/5/2020 UBND thành phố R ban hành Thông báo số 309/TB-UBND về việc dự kiến thu hồi điện tích 3.840.3m² đất trồng CLN của bà Nguyễn Thị Ú để thực hiện Công Trình xây dựng KDC N. Sau khi Thông báo thu hồi đất được ban hành, bà Thị Ú đã nhiều lần khiếu nại đến Ủy ban nhân dân các cấp, sau quá trình làm việc và được sự đồng thuận, ngày 14/3/2022 bà Nguyễn Thị Ú đã tự nguyện bàn giao trước phần diện tích mặt bằng 3.055,7m cho UBND thành phố R để bàn giao cho nhà đầu tư triển khai thi công cơ sở hạ tầng của Dự án. Đến ngày 10/8/2022 UBND tỉnh K đã ban hành Thông báo số 624/TB-UBND, kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh K với nội dung:
- - Thống nhất giữ nguyên hiện trạng đất trồng CLN diện tích 781,5m² cho bà Nguyễn Thị Ú, bà Ú phải thực hiện việc chuyển mục đích sử dụng đất và tách thửa theo quy hoạch 1/500 được duyệt.
- - Thống nhất chủ trương cho C chuyển nhượng phần diện tích 781,5m² cho bà Nguyễn Thị Ú. Bà Ú có nghĩa vụ thanh toán lại các chi phí mà CIC Group đã nộp cho Nhà nước liên quan đến phần diện tích này.
- + Về nội dung thứ nhất, sau khi nhận được Thông báo kết luận của UBND tỉnh K, UBND thành phố R và các cơ quan chức năng đã tiến hành làm việc với bà Nguyễn Thị Ú và nhận được sự thống nhất từ Bà Ú nên ngày 18/11/2022 UBND thành phố R đã ban hành Quyết định số 518/QĐ-UBND, về việc thu hồi diện tích 3.058,5m² đất trồng cây lâu năm của bà Nguyễn Thị Ú; ngày 23/11/2022 UBND thành phố R tiếp tục ban hành Quyết định số 526/QĐ-UBND, về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Ú số tiền 10.386.176.400 đồng (Bằng chữ. Mười tỷ, ba trăm tăm mươi sáu triệu, một trăm bảy mươi sảu ngăn, bốn trăm đồng).
- + Về nội dung thứ 2, ngày 05/10/2022 C đã ký Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ú phần diện tích 753,4m² quyền sử dụng đất với số tiền là 3.221.258.150 đồng; C cũng đã chỉ tạm ứng trước cho bà Nguyễn Thị Ú và ông Nguyễn Hùng T (chồng của bà Ú) số tiền 3.824.225.200 đồng. Bà Ú và ông T có trách nhiệm thanh toán lại số tiền đã tạm ứng và tiền nhận chuyển nhượng phần diện tích 753,4m² quyền sử dụng đất cho C ngay khi được nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án được phê duyệt.
C cho rằng, toàn bộ quá trình thu hồi đất của bà Nguyễn Thị Ú đều được các cơ quan chức năng thực hiện theo trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Trong quá trình thu hồi đất, ngay từ khi UBND thành phố R ban hành Thông báo thu hồi đất, bà Ú đã thực hiện quyền khiếu nại, sau quá trình làm việc Bà đã thống nhất với chủ trương thu hồi đất của các cơ quan chức năng, bằng chứng cụ thể là việc Bà đã tự nguyện bàn giao phần diện tích mặt bằng trước khi có quyết định thu hồi đất cho UBND thành phố R quản lý sử dụng.
Cho nên việc bà Ú không chấp hành và khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy quyết định thu hồi đất của UBND thành phố R, buộc C hoàn trả lại đất sạch cho B là hết sức vô lý, không đúng với nội dung làm việc đã được các bên thống nhất trước đó. Mặt khác, việc hà Ú không chấp hành quyết định thu hồi đất của UBND thành phố R đã gây thiệt hại cho C, vì hiện nay phần diện tích mặt bằng đã nhận bàn giao từ UBND thành phố R, CIC Group đã tiến hành san lấp mặt bằng và triển khai thi công xây dựng công trình hạ tầng trên đất theo đúng quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt, đồng thời, bà Ú và ông T đã ứng và sử dụng số tiền 3.824.225.200 đồng từ C trong một thời gian dài. Do đó, CIC Group đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ú.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 166/2024/HCST ngày 25-9-2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang quyết định:
Căn cứ các Điều 30, 32, 74, 116, 158 và 193 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 62, 63 và 69 Luật đất đai 2013;
Căn cứ Điều 12 Nghị Quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ú về việc: Hủy Quyết định số 518/QĐ-UBND, ngày 18/11/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố R về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và buộc Công ty cổ phần T4 trả đất sạch lại cho gia đình bà Nguyễn Thị Ú.
Ngoài ra, tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 09/10/2024, người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ú có đơn kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Ú có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Hùng T và bà Nguyễn Ngọc T1, cùng Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Ú trình bày:
Ngày 18/11/2022, UBND thành phố R, tỉnh Kiên Giang ban hành Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú, để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang của UBND thành phố R.
Đây là dự án phát triển kinh tế, không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất mà doanh nghiệp phải tự thỏa thuận bồi thường với dân. Trong biên bản làm việc với Thanh tra Chính phủ ngày 10/5/2018 có nêu dự án khu dân cư N là dự án khu dân cư, thương mại không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất. Về tiền bồi thường đến nay Ủy ban cũng chỉ mới tạm ứng hơn 3 tỷ đồng, chưa thực hiện bồi thường hết.
Thừa nhận có ký biên bản làm việc với UBND Thành phố R và chủ đầu tư CIC. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện thông báo số 624/TB-UBND về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh K xem xét kiến nghị của Công ty Cổ phần T4, về phía Công ty Cổ phần T4 luôn thực hiện không đúng lời hứa với gia đình, đưa ra những yêu cầu không đúng quy định của pháp luật, đến nay vẫn chưa bồi thường, chưa thực hiện đúng cam kết giao đất.
Yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên hủy Quyết định số 518/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú, để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang của UBND thành phố R; Buộc Công ty Cổ phần T4 trả lại đất sạch cho bà Nguyễn Thị Ú.
Người bị kiện là UBND thành phố R trình bày:
Dự án khu dân cư N thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất, đã được Hội đồng Nhân dân, UBND tỉnh thông qua, nằm trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Biên bản làm việc với Thanh tra Chính phủ ngày 10/5/2018 có nêu nội dung như người khởi kiện trình bày. Tuy nhiên sau khi Ủy ban Rạch Giá giải trình thì ngày 29/4/2020 Thanh Tra Chính phủ đã có Thông báo Kết luận Thanh tra số 636/TB-TTCP. Theo Thông báo thì không ghi nhận nội dung này.
UBND Thành phố R đã tạm ứng cho hộ bà Ú 3.221.000.000 đồng (số tròn). Số tiền còn lại đã mời gia đình bà Ú lên nhận nhưng gia đình bà Ú không đồng ý nhận tiền mà khởi kiện yêu cầu trả lại đất. Số tiền bồi thường còn lại đã được chuyển cho Trung tâm phát triển quỹ đất để tiếp tục chi trả cho gia đình. Quyết định thu hồi đất của UBND Thành phố R được ban hành đúng pháp luật. Đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là công ty cổ phần T4 trình bày:
Công ty cổ phần T4 có thỏa thuận với gia đình bà Nguyễn Thị Ú về việc chuyển nhượng lại cho bà Ú 753,4 m² đất. Tuy nhiên quá trình thực hiện thì vướng mắc về mặt thủ tục. Đến nay thì các vướng mắc thủ tục đã giải quyết xong, Công ty cổ phần T4 cam kết sẽ thực hiện đúng thỏa thuận ngày 11/3/2022 chuyển nhượng lại cho hộ gia đình bà Ú 753,4 m² đất.
Đại diện Viện kiểm sát cấp cao tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về hình thức: Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự thủ tục theo quy định của Luật Tố tụng hành chính. Các đương sự đã được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.
Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú làm trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm
Về nội dung: Dự án Khu dân cư N tại phường A, thành phố R được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của UBND tỉnh K. Đến ngày 26/10/2021, UBND tỉnh K đã ban hành Quyết định chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu từ số 2561/QĐ-UBND. Ngày 18/11/2022 UBND thành phố R ban hành Quyết định 518/QĐ- UBND về việc thu hồi diện tích 3.058,50 m² đất trồng cây lâu năm của ông (bà) Nguyễn Thị Ú đang sử dụng thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 82 tại phường A, thành phố R để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang; Quyết định số 1122/QĐ-UBND ngày 18/11/2022 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và thu hồi giá trị bồi thường, hỗ trợ theo thông báo kết luận của UBND tỉnh K đối với bà Nguyễn Thị Ú; Quyết định số 526/QĐ-UBD ngày 23/11/2022 về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Ú để thực hiện dự án Khu dân cư N với tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ là 10.386.176.400đ. Quyết định thu hồi đất số 518/QĐ-UBND, ngày 18/11/2022 của UBND thành phố R được ban hành là có căn cứ pháp luật. Phần diện tích 3.058,50 m² đất bà Nguyễn Thị Ú cũng đã bàn giao đất cho UBND thành phố, UBND thành phố bàn giao cho Công ty Cổ phần T4 để đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy hoạch được duyệt. Hiện nay đường giao thông và công viên đã xây dựng xong nên việc yêu cầu hủy Quyết định 518 /QĐ- UBND, ngày 18/11/2022 của UBND thành phố R để giao lại đất sạch cho bà Ú là không thể thực hiện.
Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài tiệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đại diện người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xét xử vắng mặt người bị kiện theo quy định tại Điều 225 Luật Tố tụng hành chính.
[2] Về hình thức: đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú, làm trong hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[3] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ú, Hội đồng xét xử có nhận định như sau:
Bà Nguyễn Thị Ú yêu cầu hủy Quyết định 518/QĐ- UBND về việc thu hồi diện tích 3.058,50 m² đất trồng cây lâu năm của ông (bà) Nguyễn Thị Ú đang sử dụng thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 82 tại phường A, thành phố R để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư Nam An Hòa tại phường An Hòa, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang:
Dự án Khu dân cư Nam An Hòa tại phường An Hòa, thành phố Rạch Giá được chấp thuận chủ trương đầu tư theo Quyết định số 112/QĐ-UBND ngày 13/01/2016 của UBND tỉnh K. Đến ngày 26/10/2021, UBND tỉnh K đã ban hành Quyết định chấp thuận điều chỉnh chủ trương đầu từ số 2561/QĐ-UBND. Trong đó, nội dung về địa điểm thực hiện dự án quy định tại Điều 1 của Quyết định chủ trương đầu tư số 112/QĐ-UBND đã được điều chỉnh như sau: “Địa điểm thực hiện dự án: tại khu phố B và khu phố E, phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang”.
Như vậy, dự án này thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật đất đai 2013.
Mặt khác, ngày 16/8/2022 Văn phòng UBND tỉnh K ban hành Thông báo số 624/TB-UBND về kết luận của Chủ tịch UBND tỉnh xem xét kiến nghị của Công ty Cổ phần T4; Tại biên bản làm việc ngày 29/9/2022 (BL 15) do UBND thành phố R lập về việc thực hiện thông báo số 624/TB-UBND BL 09) ngày 16/8/2022 thể hiện: các bên gồm đại diện UBND thành phố, Chủ đầu tư và gia đình bà thống nhất nội dung thu hồi đất theo thông báo 624; Tại Biên bản thỏa thuận ngày 05/10/2022 (BL 230) CIC Group và đại diện hộ bà Ú đã ký Biên bản thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Ú phần diện tích 753,4m² quyền sử dụng đất với số tiền là 3.221.258.150 đồng. Sau đó hộ bà Nguyễn Thị Ú cũng đã tự nguyện, ký biên bản bàn giao đất. Như vậy ngay cả không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất thì các bên cũng đã thống nhất việc thu hồi, bồi thường. Trong trường hợp công ty cổ phần T4 vi phạm cam kết thì bà Nguyễn Thị Ú có quyền khởi kiện yêu cầu thực hiện thỏa thuận hoặc bồi thường thiệt hại do vi phạm thỏa thuận theo Tố tụng dân sự.
Quyết định thu hồi đất số 518/QĐ-UBND, ngày 18/11/2022 của UBND thành phố R được ban hành là phù hợp quy định pháp luật đồng thời phù hợp với ý chí và thỏa thuận của các bên. Do đó, tòa án cấp sơ thẩm tuyên bác yêu cầu khởi kiện của bà Ú là có căn cứ. Bà Ú kháng cáo nhưng không xuất trình được tình tiết nào mới làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận đơn kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[4] Về án phí hành chính phúc thẩm: do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Ú phải chịu án phí.
Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện bà Nguyễn Thị Ú, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 166/2024/HCST ngày 25 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang, tuyên xử:
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Ú về việc: Hủy Quyết định số 518/QĐ-UBND, ngày 18/11/2022 của Ủy ban nhân dân thành phố R về việc thu hồi đất của ông (bà) Nguyễn Thị Ú để thực hiện Công trình xây dựng Khu dân cư N tại phường A, thành phố R, tỉnh Kiên Giang và buộc Công ty cổ phần T4 trả đất sạch lại cho gia đình bà Nguyễn Thị Ú.
- Về án phí:
- - Án phí hành chính sơ thẩm: Buộc bà Nguyễn Thị Ú phải nộp án phí sơ thẩm bằng 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).
- - Án phí hành chính phúc thẩm: bà Nguyễn Thị Ú phải chịu 300.000đ nhưng được khấu trừ theo biên lai thu số 0006484 ngày 09/10/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Tô Ngọc |
Bản án số 643/2025/HC-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định thu hồi đất
- Số bản án: 643/2025/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/05/2025
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm.
