TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 643/2024/HS-PT Ngày 09 tháng 8 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
· Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu.
Ông Mai Xuân Thành.
· Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
· Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 259/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 02 năm 2024, đối với bị cáo Võ Kim M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Do có kháng cáo của bị cáo Võ Kim M, bị hại Trần Thị D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chi nhánh C1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 485/2024/QĐPT-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024.
Bị cáo có kháng cáo: Võ Kim M, sinh ngày 16/10/1982, tại Cà Mau (có mặt).
Nơi cư trú: Đường M, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Mua bán (Nguyên Giám đốc Công ty TNHH T3); trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B và bà Nguyễn Thị M1; chồng Võ Huỳnh H (đã ly hôn ngày 29/5/2020); con có 01 người; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giam từ ngày 02/3/2021 cho đến nay.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đặng Phước Hoàng M2, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).
Bị hại: Bà Trần Thị D, sinh năm: 1956 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Số C đường L, khóm E, phường D, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Đại diện hợp pháp của bà Trần Thị D: Ông Phan Văn T, sinh năm 1954 (có mặt).
Địa chỉ: Khóm B, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chi nhánh C1 (S1).
Địa chỉ: Số A đường N, phường H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền:
Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1978, chức vụ: Phó Giám đốc (có mặt).
Ông Võ Tấn Đ, sinh năm 1988, chức vụ: Chuyên viên Ngân hàng S1-chi nhánh C1 (có mặt).
Bà Phạm Thị M3, sinh năm 1988, chức vụ: Trưởng phòng Tư vấn khách hàng Ngân hàng S1-chi nhánh C1 (có mặt).
Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1989, chức vụ: Chuyên viên Tư vấn khách hàng Ngân hàng S1 chi nhánh C1 (có mặt).
2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần C2-chi nhánh C1 (V).
Địa chỉ: Số I đường L, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Tấn T1, sinh năm: 1969, chức vụ: Phó Phòng Tổng hợp V-chi nhánh C1.
3. Ngân hàng N1-chi nhánh thành phố C1 (A).
Địa chỉ: Số A - A đường N, phường B, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn C, chức vụ: Phó Giám đốc A-chi nhánh thành phố C1.
Trong vụ án, có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác nhưng không kháng cáo, cũng không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 3/2020, Võ Kim M nhận chuyển nhượng thửa đất số 36, tờ bản đồ số 17, địa chỉ: Khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, diện tích 911.2m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 29/10/2019 của vợ chồng ông Phan Nhựt T2 và bà Lâm Thúy H3, với giá 10.250.000.000 đồng. Do không đủ tiền thanh toán nên ngày 20/3/2020, Ngân hàng S1-chi nhánh C1 (bên A), Võ Kim M và chồng là Võ Huỳnh H (bên B), ông T2 và bà H3 (bên C) cùng ký Văn bản thỏa thuận số: 01/2020/VBTT/SHB.131600 (thỏa thuận 01), có nội dung: Ông T2, bà H3 ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho Võ Kim M và nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngân hàng S1-chi nhánh C1; Ngân hàng S1-chi nhánh C1 mở sổ tiết kiệm 9.900.000.000 đồng cho ông T2, bà H3 và tạm khóa sổ tiết kiệm để Ngân hàng S1-chi nhánh C1 giữ và lập K ước cho M nhận nợ 9.900.000.000 đồng. Khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Võ Kim M nộp cho Ngân hàng S1-chi nhánh C1 thế chấp khoản nợ, thì ông T2, bà H3 sẽ được nhận số tiền 9.900.000.000 đồng từ sổ tiết kiệm.
Ngày 23/3/2020, Võ Kim M kêu Phạm Trọng L nhân viên Công ty TNHH T3 (Công ty T3) do M làm Giám đốc đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C nộp hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngân hàng S1-chi nhánh C1 phân công Trần Văn N là cán bộ tín dụng đi cùng L làm thủ tục. Lượng giữ giấy hẹn nhận hồ sơ và trả kết quả vào ngày 06/4/2020 về đưa M, chiều cùng ngày M đưa giấy hẹn cho N giữ.
Ngày 26/3/2020, M đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C nói dối bị mất giấy hẹn và được nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796, đứng tên Võ Kim M (đăng ký biến động, không cấp đổi sổ mới). Ngày 27/3/2020, M sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đến Ngân hàng A-chi nhánh C1 thế chấp bảo lãnh cho Công ty T3 vay 14,5 tỷ đồng và được giải ngân trong ngày.
Đến ngày hẹn nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phát hiện M đã tự ý nhận giấy không giao cho Ngân hàng như thỏa thuận. Ngân hàng S1-chi nhánh C1 làm việc với M yêu cầu trả nợ trước hạn khoản vay Ngân hàng bảo lãnh cho M mua đất của ông T2, bà H3. Ngày 03/6/2020, M nộp trả Ngân hàng S1-chi nhánh C1 4.566.900.000 đồng (nợ gốc 4.470.032.871 đồng, lãi 96.867.129 đồng), còn nợ 5.453.355.247 đồng (nợ gốc 5.429.967.129 đồng, nợ lãi 23.388.118 đồng). Do không có tiền trả, sợ Ngân hàng S1-chi nhánh C1 tố cáo nên ngày 04/6/2020, M liên hệ với bà Trần Thị D nói dối đang có khoản vay đến ngày đáo hạn tại Ngân hàng S1-chi nhánh C1 để hỏi vay tiền và gửi cho bà D xem Hợp đồng cấp hạn mức tín dụng số 0188 ngày 10/9/2019 nhằm tạo lòng tin. Bà D điện thoại cho ông Nguyễn Văn H1 - Giám đốc Ngân hàng S1-chi nhánh C1 hỏi về khoản vay đáo hạn của M. Ông H1 trả lời: “Khoản vay của khách hàng là bí mật, ông H1 đã uỷ quyền cho ông Đ1 - Phó Giám đốc phụ trách mảng khách hàng cá nhân nên không thể trả lời”. Bà D điện thoại cho ông Huỳnh Hữu Đ2 và ông N hỏi về việc khoản vay đáo hạn của M. Ông Đ2 trả lời: “Việc cho vay lại hay không là của Ngân hàng và khách hàng, nếu hồ sơ không đủ thì không thể giải ngân”. Ông N trả lời: “Bà M có Hợp đồng hạn mức tín dụng ở Ngân hàng S1 chi nhánh C1 giá trị 15.000.000.000 đồng, trong đó có khoản vay đến hạn là 5.400.000.000 đồng, nếu bà M cung cấp đủ hồ sơ theo quy định thì sẽ hỗ trợ cho vay lại trong ngày”.
Khoảng 08 giờ, ngày 05/6/2020, bà D và M ký Biên bản thỏa thuận vay tiền và Biên nhận tiền vay, nội dung: Mẩn vay của bà D 5.400.000.000 đồng, mục đích đáo hạn nợ vay cá nhân của Mẫn tại Ngân hàng S1-chi nhánh C1, thời hạn vay 01 ngày, lãi suất thỏa thuận 25.000.000 đồng trong ngày. Lúc này, M đưa bà D 80.000.000 đồng, gồm: 25.000.000 đồng trả lãi cho bà D, 55.000.000 đồng để bà D nộp trả lãi Ngân hàng thay cho M và đưa Giấy chứng minh nhân dân của M để bà D nộp tiền tại Ngân hàng S1-chi nhánh C1. Để tạo lòng tin, che giấu gian dối, M hứa sẽ cùng đến Ngân hàng S1-chi nhánh C1 ký hợp đồng giải ngân, trả tiền vay lại cho bà D trong buổi chiều cùng ngày (thực chất không có việc đáo hạn mà số tiền Mẫn vay của bà D là để Ngân hàng S1-chi nhánh C1 tất toán khoản vay 9.900.000.000 đồng của M).
Khoảng 09 giờ cùng ngày, bà D nộp 5.455.000.000 đồng cho Ngân hàng S1-chi nhánh C1 thanh toán cho nợ vay của M. Khoảng 16 giờ 30 cùng ngày, bà D đến Ngân hàng S1-chi nhánh C1 tìm N để hỏi việc vay đáo hạn của M thì gặp ông Võ Tấn Đ - Phó phòng Quản lý khách hàng. Ông Đ trả lời: “Nhí đi nhà bà M, N chiều nay nghỉ phép”. Ngày 09/6/2020, bà D nghi ngờ bị M lừa đảo nên đến Ngân hàng S1-chi nhánh C1 gặp ông H1 yêu cầu Ngân hàng trả lại tiền và không cho M rút tài sản thế chấp. Ông H1 trả lời: “Ngân hàng S1 chi nhánh C1 không có trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết cho bà D”. Bà D liên tục yêu cầu M trả tiền và dọa sẽ tố giác với Công an nên M trả cho bà D được 355.000.000 đồng, còn nợ tiền gốc 5.045.000.000 đồng. Hứa hẹn nhiều lần nhưng không có tiền trả, ngày 09/11/2020, M viết Tờ cam kết với bà D, nội dung cam kết đến ngày 30/11/2020 sẽ trả cho bà Danh số tiền đã mượn và số lãi theo thỏa thuận đã phát sinh. Nếu không trả dứt điểm cũng phải trả trước một phần. Tuy nhiên, M vẫn không thực hiện nên ngày 22/12/2020 bà D tố giác đến cơ quan Công an.
Kết luận giám định số 132/GĐ-PC09 ngày 15/4/2021 của Phòng K1 Công an tỉnh C, kết luận:
- Chữ ký, chữ viết họ tên “Võ Kim M” dưới mục “Bên B” trên “BIÊN BẢN THỎA THUẬN VAY TIỀN” ngày 05/6/2020 (Ký hiệu A1) so với chữ ký, chữ viết họ tên “Võ Kim M” dưới cụm từ và mục “Cà Mau, ngày 2 Tháng 3 năm 2021”; “BỊ CAN” trên “Tờ tường trình” ngày 02/3/2021, họ tên Võ Kim M4 (Ký hiệu M1); “BIÊN BẢN HỎI CUNG BỊ CAN” ngày 02/3/2021 (Ký hiệu M2) là do cùng một người ký và viết ra.
- Chữ ký, chữ viết họ tên “Võ Kim M4” dưới mục “Ký nhận đủ tiền” trên “Biên nhận tiền vay” theo thỏa thuận vay tiền ngày 05/6/2020 (Ký hiệu A2) so với chữ ký, chữ viết họ tên “Võ Kim M” dưới cụm từ và mục “Cà Mau, ngày 2 Tháng 3 năm 2021”; “BỊ CAN” trên “Tờ tường trình” ngày 02/3/2021, họ tên Võ Kim M4 (Ký hiệu M1); “BIÊN BẢN HỎI CUNG BỊ CAN” ngày 02/3/2021 (Ký hiệu M2) là do cùng một người ký và viết ra.
Kết luận giám định của Tổ Giám định tư pháp thuộc Ngân hàng N2hi nhánh tỉnh C1, kết luận: Ngân hàng S1-chi nhánh C1 cho khách hàng Võ Kim M vay các khoản vay như hồ sơ trưng cầu là đúng quy định, không vi phạm các văn bản quy phạm pháp luật về cho vay.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau đã xử phạt bị cáo Võ Kim M 14 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc Võ Kim M hoàn trả cho bị hại Trần Thị Danh số tiền 5.045.000.000 đồng. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng án phí.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 191/2023/HS-PT ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số: 40/2022/HS-ST ngày 14/7/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau để điều tra lại vụ án.
Kết quả điều tra lại xác định:
- Theo Văn bản thỏa thuận số 01/2020/VBTT/SHB.131600 ngày 20/3/2020, sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của M nộp lại cho S1-chi nhánh C1 để thế chấp thì ông T2, bà H3 mới được nhận 9.900.000.000 đồng từ sổ tiết kiệm (tức là nếu M không nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho S1-chi nhánh C1 thì S1-chi nhánh C1 không giải tỏa tài khoản sổ tiết kiệm cho ông T2, bà H3). Như vậy, việc M sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 (đã chỉnh lý sang tên Võ Kim M) thế chấp cho A-chi nhánh C1 bảo lãnh cho Công ty T3 vay 14.500.000.000 đồng là vi phạm thỏa thuận với S1-chi nhánh C1 nhưng không gây thiệt hại về tài sản cho S1-chi nhánh C1. Kết quả điều tra xác định bị can M đã dùng thủ đoạn gian dối để bà D tin tưởng cho vay và chiếm đoạt số tiền 5.400.000.000 đồng của bà D nên bà D là bị hại trong vụ án, Ngân hàng S1-chi nhánh C1 là người có quyền và nghĩa vụ liên quan.
- Đối với Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C: Ngày 26/3/2020, M đến Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố C xin nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796, đứng tên Võ Kim M. Tại đây, M nói dối bị mất giấy hẹn trả kết quả, nhân viên yêu cầu xuất trình giấy tờ tùy thân, đối chiếu đúng với thông tin trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 nên giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 cho M. Việc giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 cho bị can Mẩn là không vi phạm pháp luật.
- Đối với “Tờ cam kết” ngày 09/11/2020, có nội dung: “Tôi xin cam kết trong vòng đến ngày 30/11/2020 sẽ trả cô Danh số tiền đã mượn và số lãi theo thỏa thuận đã phát sinh. Nếu không trả dứt điểm cũng phải trả trước một phần...”, kết quả điều tra xác định: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 05/6/2020, bà D và M ký Biên bản thỏa thuận vay tiền và Biên nhận tiền vay, trong đó thể hiện M vay của bà Danh số tiền 5.400.000.000 đồng, mục đích để đáo hạn nợ vay cá nhân của M tại Ngân hàng S1-chi nhánh C1, thời hạn vay là 01 ngày (trả trong ngày 05/6/2020), lãi suất thỏa thuận. Do M không có khả năng trả nợ, bà D liên tục yêu cầu trả tiền nhưng M không thực hiện. Ngày 09/11/2020, M viết tờ cam kết nêu trên nhưng vẫn không thực hiện việc trả nợ. Tờ cam kết này M viết sau khi đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bà D, do đó nội dung trong tờ cam kết không liên quan đến việc Mẩn phạm tội cũng như ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án.
- Việc bị can Mẩn thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 cho A-chi nhánh C1 để bảo lãnh cho Công ty T3 vay tiền, không liên quan đến việc M thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền của bà D. Cơ quan Cảnh sát điều tra không tạm giữ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS868796 đưa vào làm vật chứng của vụ án.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2024/HS-ST ngày 22 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau, quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; Điều 47; Điều 48; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự; các điều 23, 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,
- Tuyên bố: Bị cáo Võ Kim M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S chi nhánh C1 trả lại cho bà Trần Thị Danh s tiền 5.045.000.000 đồng.
- Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên số 01/L-CSKT ngày 01/3/2021 và Lệnh kê biên số 01/L-CSKT ngày 13/01/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C đối với các thửa đất của Võ Kim M đứng tên quyền sử dụng để đảm bảo việc thi hành án, gồm:
Thửa đất số 129, tờ bản đồ số 17, diện tích 984m², địa chỉ: Phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, đất ở tại đô thị, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CĐ944153 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 12/10/2016 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cáo M đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP C2-chi nhánh C1 theo Hợp đồng thế chấp số 19.091.066/2019/HĐBĐ/NHCT860 ngày 13/8/2019);
Thửa đất số 36, tờ bản đồ số 17, diện tích 911,2m², địa chỉ: Khóm A, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau, đất ở tại đô thị, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS868796 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh C cấp ngày 29/10/2019 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị cáo M đang thế chấp tại Ngân hàng N1-chi nhánh C1 theo Hợp đồng thế chấp số 64/HĐTC ngày 27/3/2020);
Thửa đất số 146, tờ bản đồ số 25, diện tích 36,8m², đất trồng lúa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM754907 và thửa đất số 138, tờ bản đồ số 25, diện tích 35,2 m², đất trồng lúa, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM754908, địa chỉ: Khóm T, phường H, thị xã B, tỉnh Bạc Liêu, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Ủy ban nhân dân thị xã B (nay là thành phố B) cấp cùng ngày 21/8/2008.
Trường hợp phát mãi đối với thửa đất số 129, tờ bản đồ số 17 và thửa đất số 36, tờ bản đồ số 17 nói trên, thì Ngân hàng TMCP C2-chi nhánh C1 và Ngân hàng N1-chi nhánh C1 được ưu tiên thu hồi nợ.
Giao cho Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM754907 (bản gốc) tên Võ Kim M4 tại thửa đất số 146, tờ bản đồ số 25, đất trồng lúa, diện tích 36,8m², địa chỉ: Khóm T, phường H, thị xã B, tỉnh Bạc Liêu, để đảm bảo việc thi hành án. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AM754907 (bản gốc) hiện do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau quản lý (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 19/4/2022).
Xử phạt: Bị cáo Võ Kim M 14 (Mười bốn) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 02/3/2021.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 04/3/2024, bị cáo Võ Kim M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 05/3/2024, bị hại Trần Thị D kháng cáo đề nghị buộc Ngân hàng S1-chi nhánh C1 phải trả lại số tiền 5.400.000.000 đồng (không phải số tiền 5.045.000.000 đồng), đồng thời buộc Ngân hàng S1 phải trả tiền lãi phát sinh là 1.434.450.000 đồng (tính đến ngày 22/02/2024) và sau đó tiếp tục yêu cầu số tiền lãi phát sinh cho đến khi Ngân hàng S1-chi nhánh C1 thi hành án xong.
Ngày 05/3/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ngân hàng S1-chi nhánh C1 kháng cáo không đồng ý trả lại bà Trần Thị Danh s tiền 5.045.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Kim M rút toàn bộ kháng cáo.
Đại diện theo ủy quyền của bà D giữ nguyên kháng cáo và trình bày:
Ngân hàng S1 nhận của bà D 5.400.000.000 đồng, đây là vật chứng của vụ án nên Ngân hàng S1 phải trả đúng số tiền trên. Việc bị cáo M đưa số tiền 355.000.000 đồng cho bà D nhưng không xác định là tiền gì nên được xem là tiền khắc phục thiệt hại. Ngân hàng S1 có dùng 5.400.000.000 đồng để kinh doanh nên phải trả lãi là 1.434.450.000 đồng cho bà D. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà D.
Đại diện hợp pháp của Ngân hàng S1-chi nhánh C1 giữ nguyên kháng cáo và trình bày:
Bà D kháng cáo yêu cầu Ngân hàng S1 trả số tiền 5.400.000.000 đồng là không có căn cứ, vì bà M chuyển 355.000.000 đồng cho bà D, được bà D thừa nhận là tiền khắc phục. Tuy nhiên, thực chất đó là tiền lãi của bà M trả cho bà D. Tờ cam kết của bà M ngày 09/11/2020 có nội dung: “Trước đây tôi có mượn cô Danh số tiền 5.400.000.000 đồng. Hôm nay, tại nhà cô D tôi xin cam kết trong ngày 30/11/2020 sẽ trả cô Danh số tiền đã mượn và số lãi theo thỏa thuận đã phát sinh. Nếu không trả dứt điểm cũng phải trả trước một phần”. Bà D đã chấp nhận cam kết nêu trên. Như vậy, việc vay tiền của bà M với bà D là hợp đồng dân sự có cam kết trả lãi (25 triệu đồng/ngày). Ngân hàng S1 không tham gia vào việc vay nợ nêu trên, không biết nội dung vay cũng như cam kết giữa 2 người nên ngày 05/6/2020, bà D trả tiền thay cho bà M vào Ngân hàng S1 là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Do đó, các cơ quan tiến hành tố tụng đã hình sự hóa các quan hệ dân sự.
Thời điểm ngày 06/4/2020, Ngân hàng S1 phát hiện sự việc và chưa bị thiệt hại. Tuy nhiên, Ngân hàng S1 là đơn vị kinh doanh tiền tệ, người vay tiền là bà M hoàn toàn có thể hủy bỏ hợp đồng vay do chưa phát sinh điều khoản ràng buộc giữa Ngân hàng và người vay, nên Ngân hàng S1 không có quyền và nghĩa vụ tố cáo hành vi của bà M ra các cơ quan pháp luật. Trường hợp, bà M tiếp tục thực hiện hợp đồng thì có quyền thế chấp quyền sử dụng đất đứng tên bà M, trường hợp bà M không tiếp tục thế chấp thì có quyền tất toán khoản vay, hợp đồng này không bị giới hạn bởi thời gian tất toán khoản vay. Nguồn tiền tất toán do bà M lấy từ đâu thì bà M phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, Ngân hàng S1 hoàn toàn ngay tình.
Theo quy định của Ngân hàng N2 và Pháp luật về bí mật thông tin cá nhân thì đây là bí mật thông tin khách hàng, cán bộ Ngân hàng không có quyền và không có nghĩa vụ trả lời bà D trong khi bà D không nêu rõ lý do, không trình bày việc vay nặng lãi giữa hai bên. Trong trường hợp bà D muốn Ngân hàng trả lời thì bà D phải có đơn khiếu nại trình bày lý do gửi lãnh đạo Ngân hàng theo trình tự khiếu nại.
Như vậy, nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định hành vi của bà M là lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bà D thì Ngân hàng S1 cũng phải được xác định là bị hại, việc bản án sơ thẩm xác định Ngân hàng S1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là không đúng quy định. Vì trong trường hợp Ngân hàng S1 biết được nguồn tiền do phạm tội mà có được dùng để trả nợ thì Ngân hàng S1 sẽ không đồng ý cho giải chấp sổ tiết kiệm 9.900.000.000 đồng và sau khi bà M thực hiện trót lọt hành vi lấy tiền của bà D trả vào Ngân hàng S1 đồng nghĩa với việc bà M đang thực hiện liên tiếp chuỗi hành vi tiếp theo là lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của Ngân hàng. Vì vậy, cần xác định Ngân hàng S1 là bị hại và bị cáo M phải chịu trách nhiệm đối với số tiền đã chiếm đoạt của Ngân hàng S1 mới đúng.
Bản án sơ thẩm nêu “Đối với Ngân hàng S1-chi nhánh C1, do không có yêu cầu xử lý bị cáo liên quan đến khoản tiền vay 9.900.000.000 đồng nên khi Ngân hàng S1-chi nhánh C1 trả lại tiền cho bà D, có phát sinh thiệt hại thì có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xem xét, xử lý bị cáo M theo quy định của pháp luật”. Nhận định trên là hoàn toàn không khách quan và gây bất lợi cho Ngân hàng S1. Nếu cho rằng bà M lừa bà D thì phải xác định bà M lừa bà D để tiếp tục lừa Ngân hàng S1 nhằm mục đích để Ngân hàng S1 giải chấp khoản vay 9.900.000.000 đồng của chính bị cáo trả cho người mua đất.
Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng S1 là cần buộc tội bị cáo M lừa đảo chiếm đoạt tiền của Ngân hàng lớn hơn việc xác định nghĩa vụ trả nợ của M đối với Ngân hàng. Trên thực tế, do bị cáo M lừa đảo nên Ngân hàng S1 đã giải chấp số tiền tiết kiệm đứng tên ông T2, bà H3 để trả nợ cho chính bị cáo M. Như vậy, khoản tiền 5.045.000.000 đồng không còn nằm ở Ngân hàng S1 mà đã được giải ngân cho bị cáo M nên bị cáo M mới chính là người phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với khoản tiền lừa đảo lấy từ bà D.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm, không buộc Ngân hàng S1-chi nhánh C1 trả bà Danh số tiền 5.045.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Tại phiên tòa, bị cáo Võ Kim M rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo là tự nguyện, đúng pháp luật. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo M.
Đối với kháng cáo của bị hại và Ngân hàng S1-chi nhánh C1: Bị cáo M có hành vi lừa đảo bị hại là (bà D) nhưng không trực tiếp chiếm đoạt tiền mà bị hại chuyển tiền vào Ngân hàng S1 nên số tiền này được xác định là vật chứng của vụ án và phải trả lại cho bị hại là đúng. Trong số tiền 5.400.000.000 đồng do bị hại chuyển cho Ngân hàng S1 thì bị cáo M đã trả cho bị hại 355.000.000 đồng nên số tiền thực bị chiếm đoạt của bị hại là 4.054.000.000 đồng. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Ngân hàng S1 trả lại bị hại số tiền này là có căn cứ.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà D và kháng cáo của Ngân hàng S1-chi nhánh C1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Võ Kim M trình bày: Bị cáo M đã tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tại phiên tòa. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo M.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
- Bị cáo Võ Kim M, bà Trần Thị D và Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, chi nhánh C1 kháng cáo đúng quy định tại Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên vụ án được xét xử theo trình tự phúc thẩm.
- Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự là đúng pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Võ Kim M kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo M rút toàn bộ kháng cáo. Việc rút kháng cáo là tự nguyện, đúng pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo M.
- Xét kháng cáo của bà Trần Thị D và Ngân hàng S1-chi nhánh C1, thấy rằng:
- Bị cáo M đã thực hiện hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt số tiền 5.400.000.000 đồng của bà D để thanh toán cho khoản nợ cá nhân với Ngân hàng S1-chi nhánh C1 từ giao dịch dân sự trước đó nên bị cáo M phải trả lại tài sản chiếm đoạt cho chủ sở hữu là bà D. Tuy nhiên, bị cáo M không trực tiếp nhận số tiền 5.400.000.000 đồng của bà D mà do bà D trực tiếp giao cho Ngân hàng S1-chi nhánh C1 để thanh toán khoản nợ vay của bị cáo M. Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà D là bị hại, Ngân hàng S1-chi nhánh C1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là có căn cứ.
- Tòa án cấp sơ thẩm xác định 5.400.000.000 đồng là tiền do bị cáo M chiếm đoạt của bà D mà có nên là vật chứng của vụ án, phải bị thu giữ trả lại bị hại; đồng thời buộc Ngân hàng S1-chi nhánh C1 trả lại cho bà Danh số tiền 5.400.000.000 đồng là có căn cứ. Tuy nhiên, bị cáo M đã trả cho bà D 355.000.000 đồng nên Ngân hàng S1-chi nhánh C1 chỉ phải trả cho bà Danh số tiền 5.045.000.000 đồng là phù hợp.
- Bà D và Ngân hàng S1-chi nhánh C1 không có quan hệ vay tiền nên không phát sinh lãi đối với số tiền 5.400.000.000 đồng. Vì vậy, bà D yêu cầu Ngân hàng S1-chi nhánh C1 trả lãi vay là không có căn cứ.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng S1-chi nhánh C1 không có yêu cầu xử lý bị cáo M liên quan đến khoản tiền vay 9.900.000.000 đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định khi Ngân hàng S1-chi nhánh C1 trả lại tiền cho bà D, có phát sinh thiệt hại thì có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xem xét, xử lý bị cáo M theo quy định của pháp luật là có căn cứ.
- Từ những nội dung nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát; không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị D và kháng cáo của Ngân hàng S1-chi nhánh C1; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Ngân hàng S1-chi nhánh C1 và bà D phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Võ Kim M.
- Áp dụng khoản 1 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tiếp tục tạm giam bị cáo Võ Kim M để bảo đảm thi hành án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị D và kháng cáo Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, chi nhánh C1.
- Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 18/2024/HS-ST ngày 14 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Buộc Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, chi nhánh C1 trả lại cho bà Trần Thị Danh s tiền 5.045.000.000 (Năm tỷ không trăm bốn mươi lăm triệu) đồng.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Bị cáo Võ Kim M không phải chịu án phí.
- Bà Trần Thị D phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, chi nhánh C1 phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng.
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Đức Phương |
Bản án số 643/2024/HS-PT ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 643/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: đình chỉ XXPT đối với bị cáo M, giữ nguyên bản án sơ thẩm
