Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 643/2024/DS-PT

Ngày: 23/7/2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đức

Các Thẩm phán:

Bà Lê Thị Anh Minh

Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Lê Quỳnh Anh, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thanh Hoà, Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 420/2024/TLPT-DS ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 1026/2023/DS-ST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3182/2024/QĐ-PT ngày 12/6/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 9427/2024/QĐ-PT ngày 03/7/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Phùng Mạnh T, sinh năm 1957.

    Địa chỉ: A C, Phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1975. (có mặt)

    Địa chỉ liên lạc: B Lô K, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Phùng Kim T1, sinh năm 1963. (có mặt)

    Địa chỉ: 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Phùng Minh T2, sinh năm 1953.

      Địa chỉ: F nhà A T V, quận Đ, thành phố Hà Nội.

      Đại diện theo uỷ quyền: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1981. (có mặt)

      Địa chỉ: 1 L, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    2. Bà Phùng Thị Mai L, sinh năm 1959. (có mặt)

      Địa chỉ: 1 C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

    3. Ông Phùng Ngọc K, sinh năm 1969.

      Địa chỉ: 5 Đường B, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

      Đại diện theo uỷ quyền: bà Nguyễn Thị Hương G, sinh năm 1975. (có mặt)

      Địa chỉ liên lạc: B Lô K, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

    4. Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1956. (xin vắng mặt)
    5. Ông Nguyễn Mạnh Q, sinh năm 1984. (xin vắng mặt)
    6. Bà Nguyễn Quỳnh A, sinh năm 1992. (xin vắng mặt)
    7. Trẻ Nguyễn Quốc B, sinh năm 2014. Đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Quỳnh A. (xin vắng mặt)

      Cùng địa chỉ: 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  4. Người kháng cáo: nguyên đơn - ông Phùng Mạnh T, bị đơn - bà Phùng Kim T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phùng Minh T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phía nguyên đơn trình bày:

Cha mẹ của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1933 (mất ngày 22/01/2013) và ông Phùng Văn T4, sinh năm 1933 (mất ngày 22/6/2015); cha mẹ của ông Phùng Văn T4 là ông Phùng Dung C1 (đã chết) và bà Trần Thị S (đã chết); cha mẹ của bà Nguyễn Thị Kim T3 là ông Nguyễn Viết Đ (đã chết) và bà Hoàng Thị L1, sinh năm 1906 (đã chết năm 1989). Trước khi chết, ông Phùng Văn T4 để lại Di chúc được công chứng số 028505 quyển số 10 TP/CC-SCC/DC ngày 22/10/2013 lập tại Phòng công chứng A, địa chỉ I P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh về việc để lại di sản thừa kế là căn nhà và quyền sử dụng đất toạ lạc tại địa chỉ 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007; đăng ký thay đổi ngày 19/7/2011. Nội dung di chúc là ông T4 để lại phần tài sản của ông và phần tài sản ông được thừa kế của vợ (bà Nguyễn Thị Kim T3) cho 05 người con là Phùng Minh T2, Phùng Kim T1, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L, ngoài ra không để di sản thừa kế cho bất cứ ai khác.

Di sản thừa kế nêu trên do gia đình bà Phùng Kim T1 đang quản lý và sử dụng từ khi cha mẹ chết đến nay. Căn nhà này được những người đồng thừa kế thoả thuận giao cho bà T1 cho thuê lấy tiền, tiền thuê nhà sẽ chia cho các anh chị em nhưng bà T1 hoàn toàn sử dụng một mình không chia cho anh chị em đồng thừa kế. Hiện nguyên đơn đang gặp hoàn cảnh khó khăn về kinh tế không có nhà ở, nguyên đơn đã nhiều lần đề nghị bà T1 chia thừa kế nhưng bà T1 không đồng ý, nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:

Nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế tại thời điểm chia hoặc bằng diện tích nhà và đất để ở trong căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007, đăng ký thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận ngày 19/7/2011.

Ngày 20/5/2020, nguyên đơn có đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn chia phần lợi tức cho thuê nhà từ tháng 7/2015 cho đến tháng 01/2017 là 100.000.000 đồng.

Ngày 06/9/2023, nguyên đơn có Đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc rút yêu cầu buộc bị đơn chia phần lợi tức cho thuê nhà từ tháng 07/2015 cho đến tháng 01/2017 là 100.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, nguyên đơn xác nhận căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là do bà T1 tạm ứng tiền ra xây dựng. Nay nguyên đơn xác định lại yêu cầu khởi kiện, yêu cầu được hưởng 1/5 di sản thừa kế của cha mẹ để lại là giá trị quyền sử dụng nhà đất tại địa chỉ nêu trên; yêu cầu được nhận hiện vật là nhà đất tại số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và hoàn trả lại phần giá trị mà các đồng thừa kế khác được hưởng. Đồng thời đồng ý trả lại tiền xây dựng cho bà Phùng Kim T1 (theo giá trị xây dựng được Công ty Cổ phần Giám định thẩm định S theo Chứng thư thẩm định giá số [...]/HCM ngày 23/9/2020).

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn trả tiền lợi tức cho thuê nhà tạm tính là 100.000.000 đồng.

Phía bị đơn - bà Phùng Kim T1 trình bày:

Bà là con gái của ông Phùng Văn T4, sinh năm 1933, chết năm 2015 và bà nguyễn Thị Kim T3, sinh năm 1933, chết năm 2013. Cha mẹ bà có 05 người con gồm: Ông Phùng Minh T2, sinh năm 1953; ông Phùng Mạnh T, sinh năm 1957; bà Phùng Thị Mai L, sinh năm 1959, bà Phùng Kim T1, sinh năm 1963 và ông Phùng Ngọc K, sinh năm 1969.

Vào năm 1986 cha mẹ bà có mua được căn nhà cấp 4 tại địa chỉ số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn nhà này đã được cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797602674303726, hồ sơ gốc số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007. Bà là người ở cùng căn nhà này với cha mẹ và chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ cho đến khi cha mẹ bà qua đời.

Qua thời gian dài sử dụng và nhiều lần sửa chữa cơi nới, căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích sàn là 93,2 m², tầng trệt và cơi nới thêm phần gác gỗ khu vực bếp ăn, kết cấu tường gạch, sàn bê tông cốt thép + gỗ, mái bê tông cốt thép + tôn đã xuống cấp cần phải cải tạo và xây dựng lại.

Theo nguyện vọng của cha mẹ bà đã từ lâu là mong muốn sửa chữa hoặc xây dựng lại căn nhà đã xuống cấp. Cha mẹ bà đặt vấn đề này nhiều lần với các con nhưng không có ai có ý kiến và riêng bản thân cá nhân bà nhận thấy rằng cần phải làm theo ý nguyện của cha mẹ. Do đó, lúc cha mẹ còn khỏe mạnh, cũng là để báo hiếu cho cha mẹ nên bà quyết định trao đổi với cha mẹ việc xây dựng căn nhà này.

Cha mẹ bà đồng ý việc cho bà xây dựng và mở cuộc họp gia đình gồm 4 người con (T2, L, T1 và K) để bàn việc cải tạo và xây dựng lại căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Cụ thể tại Biên bản họp gia đình vào ngày 07/6/2009, đã thống nhất nhiều nội dung, trong đó có các nội dung sau: Số tiền dự toán công trình là 2.000.000.000 đồng, trong đó: Cô T1 (là tôi - Phùng Kim T1) ứng ra 1.200.000.000 đồng để xây dựng. Em K sử dụng giấy tờ nhà đất số 9 L, phường B, Quận A nêu trên để hỗ trợ vay ngân hàng là 1.000.000.000 đồng theo lãi suất của Ngân hàng. Việc xây dựng: Giao cho con gái Phùng Kim T1 chịu trách nhiệm.

Dựa theo nội dung cuộc họp gia đình ngày 07/6/2009 trên, bà là người bỏ ra toàn bộ tiền để xây dựng mới lại toàn bộ căn nhà, theo Giấy phép xây dựng số 239/GPXD do Ủy ban nhân dân Quận A cấp ngày 08/05/2009. Số tiền bà bỏ ra để xây dựng nhà ước tính khoảng 3.000.000.000 đồng.

Sau khi xây dựng xong, căn nhà số 9 L đã được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất Quận A cập nhật thay đổi ngày 19/7/2011 với tổng diện tích sàn xây dựng: 356,29m². Kết cấu nhà: tường gạch, sàn bê tông cốt thép, số tầng: trệt + lửng + 03 lầu + mái che cầu thang.

Nay ông T khởi kiện yêu cầu được nhận 1/5 di sản thừa kế theo giá trị tại thời điểm chia hoặc bằng diện tích nhà và đất để ở trong căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007, đăng ký thay đổi ngày 19/7/2011 thì bà không đồng ý với yêu cầu này. Bởi vì bà là người bỏ tiền ra xây dựng lại toàn bộ căn nhà như đã nêu trên. Do đó bà yêu cầu các anh chị em phải trả lại toàn bộ chi phí xây dựng nhà mà bà đã bỏ ra để xây dựng trước đây đối với căn nhà nêu trên, ước tính khoảng 3.000.000.000 đồng. Đồng thời bà yêu cầu được hưởng 2/6 giá trị nhà đất là phần thừa kế do cha mẹ bà để lại sau khi hoàn trả cho bà giá trị xây dựng.

Quá trình xây dựng và cư trú tại căn nhà nêu trên, bà có cơi nới diện tích xây dựng nên căn nhà xây dựng không đúng so với giấy phép xây dựng được cấp. Bà cam kết sẽ sửa chữa lại theo đúng hiện trạng được cấp phép.

Tại phiên toà sơ thẩm, bà yêu cầu được nhận lại giá trị phần xây dựng nhà mà bà đã tạm ứng ra để xây dựng. Do bà không còn lưu giữ các chứng từ về xây dựng nên bà xác nhận giá trị xây dựng căn nhà là 2.140.433.632 đồng theo Chứng thư thẩm định giá số [...]/HCM ngày 23/9/2020 của Công ty Cổ phần Giám định thẩm định S. Thực tế bà là người ứng tiền để xây dựng căn nhà và là người ở cùng cha mẹ, chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già nên bà yêu cầu được nhận phần hơn so với các đồng thừa kế còn lại, yêu cầu được nhận 02/6 di sản thừa kế là nhà và đất tại địa chỉ 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị phần xây dựng mà các đồng thừa kế phải hoàn trả cho bà.

Bà yêu cầu được nhận hiện vật di sản thừa kế là nhà đất nêu trên và hoàn trả lại phần giá trị mà các đồng thừa kế khác được hưởng.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phùng Minh T2 có đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Văn N trình bày:

Năm 1976, cha mẹ của ông chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và làm việc cùng các em ông T2 gồm: Phùng Mạnh T, Phùng Thị Mai L, Phùng Kim T1 và Phùng Ngọc K.

Ông Phùng Minh T2 đi bộ đội đến năm 1977 được giải ngũ và ở Hà Nội học tập, làm việc tại Sở Điện lực H (nay là Tổng Công ty Điện lực H) cho đến nay đã về hưu.

Ông T2 được biết, thời gian sinh sống và làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, bố mẹ ông T2 có mua được căn nhà cấp 4 tại địa chỉ số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh được cấp Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797602674303726, hồ sơ gốc số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007.

Sau một thời gian sử dụng căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xuống cấp. Do bố mẹ ông T2 là cán bộ công chức Nhà nước, lớn tuổi và đã nghỉ hưu, cuộc sống của ông bà chỉ dựa vào những khoản tiền lương hưu rất ít ỏi, hoàn cảnh sống rất khó khăn, kham khổ. Thời điểm này các em ông T2 đều đã có gia đình và có nhà riêng. Phùng Ngọc K thì học đại học ở Hà Nội sau đó lập gia đình và cũng có nhà riêng. Bố mẹ ông T2 sức khỏe đã yếu và cho gọi vợ chồng cô Phùng Kim T1 về ở cùng với bố mẹ để thuận tiện cho việc chăm sóc, phụng dưỡng. Cho tới khi ông bà qua đời đều do một tay cô T1 chăm lo.

Đến năm 2009, theo yêu cầu nguyện vọng của bố mẹ mở cuộc họp gia đình để bàn việc cải tạo và xây dựng lại căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Gia đình ông T2 đã tiến hành lập Biên bản họp gia đình về vấn đề trên vào ngày 07/6/2009.

Riêng Phùng Mạnh T thì vào năm 2009 gia đình anh T rất giàu có, đã xây dựng được căn nhà 05 tầng tại xóm H, quận H, thành phố Hà Nội, chung sống cùng với vợ là Nguyễn Thị H và 02 con là Phùng Toàn T5, sinh năm 1984 và Phùng Ngọc N1, sinh năm 1982. Tuy nhiên, anh T là người không bao giờ có trách nhiệm với gia đình cũng như với bố mẹ cho nên bố mẹ ông T2 không yêu cầu tham gia cuộc họp. Cuộc họp gia đình bố mẹ đã quyết định thống nhất đồng ý cho cô Phùng Kim T1 là người có điều kiện tiến hành xây dựng, cải tạo căn nhà và chăm sóc bố mẹ lúc về già.

Dựa trên nội dung cuộc họp gia đình ngày 07/6/2009, cô Phùng Kim T1 tiến hành xây dựng, cải tạo căn nhà, theo Giấy phép xây dựng số 239/GPXD ngày 08/5/2009 do Ủy ban nhân dân Quận A đã cấp cho bố mẹ ông T2.

Ngày 22/01/2013 mẹ ông T2 - bà Nguyễn Thị Kim T3 mất, sau đó bố ông T2 tiến hành lập di chúc số 026156 ngày 26/9/2013 tại Phòng Công chứng A có nội dung "Bà: Phùng Kim T1 sẽ được hưởng di sản thừa kế do tôi để lại là toàn bộ phần thuộc sở hữu, sử dụng của tôi và phần tôi được thừa kế của vợ tôi (nếu được công nhận) trong căn nhà và quyền sử dụng đất tọa lạc số: 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ theo những quy định của pháp luật. Trong trường hợp căn nhà và quyền sử dụng đất này phải bán/chuyển nhượng thì tiền thu được thì trước tiên phải trả lại toàn bộ chi phí xây dựng, sửa chữa nhà mà bà Phùng Kim T1 đã bỏ ra để xây dựng, sửa chữa trước khi phân chia tài sản".

Sau đó vào ngày 22/10/2013 bố ông T2 tiến hành hủy bỏ di chúc trên theo Văn bản hủy bỏ di chúc số 028504 tại Phòng Công chứng A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đến năm 2015 bố ông T2 ốm và lâm bệnh nặng rồi qua đời, mới 49 ngày thì ông Phùng Mạnh T, bà Phùng Thị Mai L, ông Phùng Ngọc K đã có ý định phân chia tài sản. Tiếp theo những năm sau vào ngày giỗ bố mẹ, ông T2 đều họp tất cả anh em lại nói ra cái ý nguyện của bố từ lúc còn khỏe đến lúc già yếu là cố giữ căn nhà để nơi này làm nơi thờ cúng bố mẹ và còn để cho các con, các cháu quây quần nhưng ông Phùng Mạnh T, bà Phùng Thị Mai L, ông Phùng Ngọc K không đồng ý.

Do đó, ông T2 làm văn bản trình bày ý nguyện và quan điểm của ông như sau: Xét thấy công lao của vợ chồng cô T1 vất vả chăm sóc bố mẹ trải qua mấy chục năm trời cho đến khi bố mẹ mất thì nên được ưu tiên, do đó nếu phải chia di sản thừa kế thì tiền xây dựng sẽ trả lại cho cô T1 và cô T1 được ở lại trên mảnh đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Phần thừa kế của ông T2 cũng để lại cho cô T1 để chăm sóc thờ cúng và mộ của cha mẹ ông vì ông T2 ở xa. Cô T1 có trách nhiệm trả các phần còn lại cho những người thừa kế khác cũng là để đạt được ý nguyện của bố ông T2.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông xác nhận giá trị phần xây dựng căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là của bà T1 và ông đồng ý hoàn trả phần giá trị này cho bà T1 (theo giá trị xây dựng được Công ty Cổ phần Giám định thẩm định S theo Chứng thư thẩm định giá số [...]/HCM ngày 23/9/2020). Tuy nhiên, do bà T1 là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ lúc tuổi già nên ông đề nghị các đồng thừa kế hỗ trợ cho bà T1 được nhận 2/6 di sản thừa kế cha mẹ để lại sau khi trừ đi phần chi phí xây dựng hoàn trả cho bà T1. Ông yêu cầu được nhận 1/6 giá trị di sản thừa kế là quyền sử dụng nhà đất của cha mẹ để lại. Trường hợp các đồng thừa kế không đồng ý thì ông yêu cầu được nhận 1/5 di sản thừa kế do cha mẹ để lại. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông có trình bày là để phần di sản thừa kế mà ông được hưởng cho bà T1 để bà T1 làm nơi thờ cúng cha mẹ. Tuy nhiên, tại phiên tòa, ông vẫn yêu cầu được nhận phần di sản thừa kế của cha mẹ để lại, việc có cho bà T1 phần di sản ông được hưởng hay không thì đó là chuyện nội bộ giữa ông và bà T1.

2. Bà Phùng Thị Mai L có Đơn yêu cầu độc lập trình bày:

Bà là con ruột của ông Phùng Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T3. Từ khi 04 anh em bà lập gia đình ai cũng có nhà riêng, chỉ duy nhất em út Phùng Ngọc K ở chung với cha mẹ từ nhỏ tại căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1998, em Phùng Ngọc K có cải tạo, sửa chữa toàn bộ căn nhà cấp 4 và tiến hành lập gia đình và sinh sống cùng cha mẹ bà.

Giữa năm 1999, bà Phùng Kim T1 cho thuê nhà riêng ở địa chỉ B C, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và xin cha mẹ bà cho gia đình bà T1 về ở cùng ông bà, cha mẹ nghĩ con ruột nên mới đồng ý. Cuối năm 1999, để tránh va chạm giữa các thành viên dẫn đến mất hòa khí trong nhà, vợ chồng em Phùng Ngọc K chuyển ra thuê nhà tại quận B ở riêng.

Khoảng thời gian 10 năm (1999 - 2009), gia đình bà T1 về ở cùng cha mẹ và cũng nhận được sự giúp đỡ của cha mẹ bà trong việc trông nom chăm sóc đưa đón con của bà T1 đi học, để vợ chồng bà T1 chuyên tâm đi làm. Bao năm qua khi cha mẹ bà còn sống, anh chị em trong nhà luôn ý thức được việc chăm sóc ông bà khi đau yếu nên vào những ngày cuối tuần, chúng tôi đều về thăm để ông bà vui, nhà cửa hư hỏng xuống cấp chỗ nào, chồng bà cùng em Phùng Ngọc K sẵn lòng về sửa chữa giúp cha mẹ.... những khi cha mẹ bệnh phải đi bệnh viện điều trị, chị em bà và ông K (cùng dâu rể), luôn có trách nhiệm phân công nhau chăm sóc, có những lúc T1 nói chúng tôi đi về để T1 chăm lo... nhưng chúng tôi đâu bỏ mặc ông bà cho T1. Thời gian đó đã có những lần vợ chồng T1 xô xát cãi nhau, thậm chí có 01 lần chồng của T1 đã nặng tay với mẹ tôi phải đi cấp cứu tại Bệnh viện S1 tại địa chỉ: A L, Thành phố Hồ Chí Minh do chấn thương vùng đầu. Lúc đó T1 gọi điện cho bà và em K về để giải quyết, chứng kiến. Sau 01 tuần mẹ bà xuất viện, khi đó cha mẹ bà cương quyết đuổi chồng của T1 ra khỏi nhà và yêu cầu bà T1 có nhà riêng thì về nhà ở, chồng T1 mang vali quần áo lên nhà bà phân trần xin lỗi và đi đến nhà bạn ở. Đồng thời bà T1 có hứa với cha mẹ sẽ dọn đi... nhưng sau đó bà T1 cũng không giữ lời hứa với cha mẹ bà.

Đến năm 2009, theo nguyện vọng của cha mẹ, anh cả bà là ông Phùng Minh T2 có triệu tập toàn bộ thành viên trong gia đình, mở cuộc họp gia đình bàn về phương án cải tạo và xây dựng căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có biên bản). Anh Phùng Mạnh T không tham gia vào cuộc họp này vì lúc đó anh bận đi làm ăn xa nhà.

Theo biên bản họp gia đình ngày 07/6/2009, gia đình đã thống nhất bà T1 cho cha mẹ vay 1.200.000.000 đồng và phần còn lại sẽ vay Ngân hàng để có chi phí cải tạo, xây dựng toàn bộ căn nhà, nhưng sau đó bà T1 không tiến hành vay Ngân hàng mà nói cha mẹ dùng sổ đỏ, giấy tờ nhà đất thế chấp để vay tiền từ bạn của mình (tên là M). Sau khi vay được tiền, T1 tiến hành xây dựng mới căn nhà theo Giấy phép xây dựng số 239/GPXD ngày 08/05/2009 do Ủy ban nhân dân Quận A đã cấp cho cha mẹ bà. Bên cạnh đó, gia đình đã thỏa thuận thống nhất sau khi xây dựng nhà xong thì dành một phần diện tích cho cha mẹ ở (tầng 1), phần còn lại để cho thuê và sử dụng tiền thuê để trả các khoản vay.

Thực tế sau khi xây nhà xong, cha mẹ được bà T1 sắp xếp ở tầng cao nhất của toà nhà (tầng 04) còn gia đình bà T1 ở tầng 01, phần diện tích còn lại toàn bộ dùng để cho thuê lấy thu nhập để hoàn trả các khoản vay như trong biên bản họp gia đình.

Sau khoảng 02 năm thì ba của bà cho biết là tiền vay cô M ông đã trả hết rồi, lấy từ nguồn cho thuê và đã lấy sổ đỏ về. Ba của bà có mang sổ đỏ cho bà và K xem để yên tâm là đã trả hết khoản nợ vay xây nhà.

Năm 2013, mẹ bà mất không để lại di chúc, anh em bà thống nhất không bàn đến việc nhà cửa để sau một năm giỗ mẹ sẽ bàn. Tuy nhiên sau một năm vẫn không bàn được vì sức khỏe của ba bà ngày càng yếu nên không bàn nữa.

Ba của bà mất ngày 22/6/2015. Thời gian sau đến ngày 12/6/2016 anh chị em trong gia đình đã họp có sự tham gia đầy đủ của 05 anh chị em. Ông T2 đã phân công bà cùng bà T1 ra Ngân hàng lập sổ tiết kiệm (đồng đứng tên) là người gửi tiền. T1 và các anh em khác đều nhất trí. Tuy nhiên sau cuộc họp gia định nói trên một năm sau bà có báo lại cho anh T2 biết là T1 không thực hiện theo thỏa thuận về việc mở sổ tiết kiệm như nêu trên. T1 vẫn cho thuê nhà như trước đây nhưng phần thu nhập từ việc cho thuê nhà T1 giữ và sử dụng riêng. Toàn bộ sự việc trình bày trên, bà nhận thấy: Bà T1 không chăm sóc tốt cho cha mẹ bà, luôn tìm cách đẩy lùi và ly gián tình cảm giữa cha mẹ với anh chị em trong gia đình. Đồng thời không minh bạch về tài chính sinh lợi từ căn nhà cha mẹ để lại cho 05 anh em (theo di chúc), để hưởng lợi.

Do đó bà yêu cầu:

Nhận 1/5 di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo di chúc và theo pháp luật.

Bà đồng ý góp phần được thừa kế của bà để đồng sở hữu chung phần thừa kế với ông Phùng Mạnh T và ông Phùng Ngọc K - thống nhất đề nghị giải quyết cho ông bà nhận di sản thừa kế và đồng ý trả lại giá trị phần thừa kế cho ông Phùng Minh T2 và bà Phùng Kim T1.

Phần lợi tức cho thuê nhà từ 07/2015 cho đến nay tạm tính khoảng 500.000.000 đồng, bà yêu cầu được nhận 1/5 số tiền là 100.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, Bà xác nhận căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là do bà T1 ứng tiền ra xây dựng. Nay bà xác định lại yêu cầu độc lập, yêu cầu được hưởng 1/5 di sản thừa kế của cha mẹ để lại là giá trị quyền sử dụng nhà đất tại địa chỉ nêu trên; đồng ý hoàn trả cho bà T1 giá trị xây dựng mà bà T1 đã chi trả (theo giá trị xây dựng được Công ty Cổ phần Giám định thẩm định S theo Chứng thư thẩm định giá số [...]/HCM ngày 23/9/2020). Thực ra nếu bà T1 và ông T2 cho rằng chỉ mình bà T1 chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già là không đúng với thực tế. Mặc dù các anh chị em khác không ở cùng cha mẹ nhưng vẫn qua lại chăm sóc cha mẹ thường xuyên, hơn nữa cha mẹ bà có lương hưu hàng tháng. Vì cả gia đình bà T1 chuyển đến ở cùng cha mẹ nên việc bà T1 chăm sóc cha mẹ thường xuyên hơn với các anh chị em khác là điều đương nhiên. Bà cũng sẽ hỗ trợ cho bà T1 một phần nào sau khi bà nhận được giá trị di sản cha mẹ để lại nhưng số tiền cụ thể thì bà chưa khẳng định.

Bà rút lại một phần yêu cầu độc lập, không yêu cầu về việc bà T1 hoàn trả lại tiền thuê nhà là 100.000.000 đồng.

3. Ông Phùng Ngọc K có Đơn yêu cầu độc lập có bà Nguyễn Thị Hương G đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Ông K sinh sống với cha mẹ từ nhỏ cho đến năm 1998 ông có cải tạo sửa chữa toàn bộ căn nhà cấp 4 và tiến hành lập gia đình, vợ chồng ông sống ở đó cùng cha mẹ.

Giữa năm 1999, chị T1 cho thuê nhà riêng ở địa chỉ B C, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và xin cha mẹ ông cho gia đình chị T1 về ở cùng ông bà và được đồng ý. Cuối năm 1999, để tránh va chạm giữa các thành viên, vợ chồng ông chuyển ra thuê nhà tại quận B ở riêng.

Đến năm 2004, theo nguyện vọng của cha mẹ, ông Phùng Minh T2 có triệu tập toàn bộ thành viên, mở cuộc họp gia đình bàn về việc cải tạo và xây dựng căn nhà. Anh Phùng Mạnh T không tham gia vào cuộc họp này vì lúc đó anh bận đi làm ăn xa nhà. Theo biên bản họp gia đình ngày 07/6/2009, gia đình đã thống nhất nội dung: Bà T1 cho cha mẹ vay 1.200.000.000 đồng và phần còn lại sẽ vay Ngân hàng để có chi phí cải tạo, xây dựng toàn bộ căn nhà, nhưng sau đó bà T1 không tiến hành vay Ngân hàng mà nói cha mẹ dùng sổ đỏ, giấy tờ nhà đất thế chấp để vay tiền từ bạn của mình (tên là M). Sau khi vay được tiền, bà T1 tiến hành xây dựng mới căn nhà theo Giấy phép xây dựng số 239/GPXD ngày 08/05/2009 do Ủy ban nhân dân Quận A đã cấp cho cha mẹ bà. Bên cạnh đó, gia đình đã thỏa thuận thống nhất sau khi xây dựng nhà xong thì dành một phần diện tích cho cha mẹ ở (tầng 1), phần còn lại để cho thuê và sử dụng tiền thuê để trả các khoản vay.

Thực tế sau khi xây nhà xong, cha mẹ được bà T1 sắp xếp ở tầng cao nhất của toà nhà (tầng 4) còn gia đình bà T1 ở tầng 01, phần diện tích còn lại toàn bộ dùng để cho thuê lấy thu nhập để hoàn trả các khoản vay như trong biên bản họp gia đình.

Sau khoảng 02 năm thì ba của ông cho biết là tiền vay cô M, ông đã trả hết rồi, lấy từ nguồn cho thuê và đã lấy sổ đỏ về. Ba của ông có mang sổ đỏ cho ông và bà L xem để yên tâm là đã trả hết khoản nợ vay xây nhà.

Năm 2013, mẹ ông mất không để lại di chúc, anh em ông thống nhất không bàn đến việc nhà cửa để sau một năm giỗ mẹ sẽ bàn. Tuy nhiên sau một năm vẫn không bàn được vì sức khỏe của ba ông ngày càng yếu nên không bàn nữa.

Ba của ông mất ngày 22/6/2015. Thời gian sau đến ngày 12/6/2016 anh chị em trong gia đình đã họp có sự tham gia đầy đủ của 05 anh chị em. Ông T2 đã phân công bà L cùng bà T1 ra Ngân hàng lập sổ tiết kiệm (đồng đứng tên) là người gửi tiền. T1 và các anh em khác đều nhất trí. Tuy nhiên sau cuộc họp gia đình nói trên một năm sau bà L có báo lại cho anh T2 biết là T1 không thực hiện theo thỏa thuận về việc mở sổ tiết kiệm như nêu trên. Bà T1 vẫn cho thuê nhà như trước đây nhưng phần thu nhập từ việc cho thuê nhà thì Thu giữ và sử dụng riêng. Toàn bộ sự việc trình bày trên, nhận thấy: Bà T1 không chăm sóc tốt cho cha mẹ, luôn tìm cách đẩy lùi và ly gián tình cảm giữa cha mẹ với anh chị em trong gia đình. Đồng thời không minh bạch về tài chính sinh lợi từ căn nhà cha mẹ để lại cho 5 anh em (theo di chúc), để hưởng lợi.

Do đó ông yêu cầu:

Nhận 1/5 di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và căn nhà số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo di chúc và theo pháp luật.

Ông đồng ý góp phần được thừa kế của ông để đồng sở hữu chung phần thừa kế với ông Phùng Mạnh T và bà Phùng Thị Mai L - thống nhất đề nghị giải quyết cho ông, ông T và bà L nhận di sản thừa kế và đồng ý trả lại giá trị phần thừa kế cho ông Phùng Minh T2 và bà Phùng Kim T1.

Phần lợi tức cho thuê nhà từ 07/2015 cho đến nay tạm tính khoảng 500.000.000 đồng, ông yêu cầu được nhận 1/5 số tiền là 100.000.000 đồng.

Tại phiên toà sơ thẩm, ông K vẫn giữ nguyên toàn bộ yêu cầu độc lập, xác nhận căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là do bà T1 tạm ứng tiền ra xây dựng (theo giá trị xây dựng được Công ty Cổ phần Giám định thẩm định S theo Chứng thư thẩm định giá số [...]/HCM ngày 23/9/2020). Nay ông K xác định lại yêu cầu độc lập, chỉ yêu cầu được hưởng 1/5 di sản thừa kế của cha mẹ để lại là giá trị quyền sử dụng nhà đất tại địa chỉ nêu trên. Thực ra nếu bà T1 và ông T2 cho rằng chỉ mình bà T1 chăm sóc cha mẹ lúc tuổi già là không đúng với thực tế. Mặc dù các anh chị em khác không ở cùng cha mẹ nhưng vân qua lại chăm sóc cha mẹ thường xuyên, hơn nữa cha mẹ ông có lương hưu hàng tháng và các anh chị em trong nhà cũng chăm sóc cho ông bà.

Ông K rút lại một phần yêu cầu độc lập, không yêu cầu về việc bà T1 hoàn trả lại tiền thuê nhà là 100.000.000 đồng.

4. Các ông (bà) Nguyễn Văn C, Nguyễn Mạnh Q, Nguyễn Quỳnh A đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.

Tại Bản án sơ thẩm số 1026/2023/DS-ST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Mạnh T về việc buộc bà Phùng Kim T1 hoàn trả tiền thuê nhà mà bà thu được hưởng là 100.000.000 đồng.
  2. Đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của ông Phùng Ngọc K về việc buộc bà Phùng Kim T1 hoàn trả tiền thuê nhà mà bà T1 được hưởng là 100.000.000 đồng.
  3. Đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của bà Phùng Thị Mai L về việc buộc bà Phùng Kim T1 hoàn trả tiền thuê nhà mà bà T1 được hưởng là 100.000.000 đồng.
  4. Xác định nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/01/2007, đăng ký thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận ngày 19/07/2011 là di sản thừa kế do ông Phùng Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T3 để lại.
  5. Những người được hưởng thừa kế của ông Phùng Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T3 gồm: Phùng Minh T2, Phùng Kim T1, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L, mỗi người được hưởng 1/5 giá trị nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ khi giá trị xây dựng phải trả cho bà T1 là 2.140.433.632 đồng.
  6. Ghi nhận sự tự nguyện của các ông bà: Phùng Mạnh T, Phùng Minh T2, Phùng Thị Mai L, Phùng Ngọc K về việc hoàn trả lại giá trị xây dựng căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị xây dựng là 2.140.433.632 đồng.
  7. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Mạnh T về việc nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế là nhà đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị hoàn trả cho bà Phùng Kim T1.
  8. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phùng Ngọc K về việc nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế là nhà, đất số I L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị hoàn trả cho bà Phùng Kim T1.
  9. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phùng Thị Mai L về việc nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế là nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị hoàn trả cho bà Phùng Kim T1.
  10. Giao cho bà Phùng Kim T1 được sở hữu căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phùng Kim T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị các kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế Phùng Minh T2, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L (sau khi trừ giá trị xây dựng phải trả cho bà T1 là 2.140.433.632 đồng) sau khi bản án có hiệu lực pháp luật theo tỷ lệ đã được phân chia.
  11. Nếu quá thời hạn trên bà Phùng Kim T1 không thực hiện hoàn trả giá trị di sản mà các đồng thừa kế được hưởng theo quy định thì các ông bà Phùng Minh T2, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi căn nhà và đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797602674303726, hồ sơ gốc số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007 và bản vẽ hiện trạng nhà và bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 18/8/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H) để phân chia theo đúng giá trị mỗi người được hưởng sau khi trừ đi giá trị xây dựng là 2.140.433.632 đồng phải trả cho bà Phùng Kim T1 và các chi phí cho việc phát mãi và các chi phí phát sinh khác theo quy định của pháp luật (nếu có) theo tỷ lệ mỗi người được hưởng 1/5 giá trị nhà đất. Giá trị thực tế căn cứ vào giá tại thời điểm cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi.

    Bà Phùng Kim T1 và những người sống tại căn nhà trên phải có trách nhiệm thu dọn đồ đạc, tài sản ra khỏi nhà đất trên để cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành thủ tục phát mãi căn nhà trên theo quy định của pháp luật.

  12. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chịu các chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, đo vẽ. Nguyên đơn đã nộp đủ các chi phí nêu trên.
  13. Không chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Kim T1 về việc được hưởng 2/6 giá trị di sản thừa kế.
  14. Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các bên đương sự.

Nguyên đơn - ông Phùng Mạnh T, bị đơn - bà Phùng Kim T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phùng Minh T2 kháng cáo bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Phía nguyên đơn vẫn giữ yêu cầu khởi kiện và rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Bị đơn - bà Phùng Kim T1 kháng cáo đòi tiền công sức chăm sóc cha mẹ, cũng như sửa chữa tu bổ căn nhà bằng một suất thừa kế.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Phía ông Phùng Minh T2 kháng cáo đề nghị chia cho bà T1 2/6 giá trị căn nhà là công sức đóng góp của bà T1 về việc tu tạo, sửa chữa căn nhà và công sức phụng dưỡng cha mẹ.

Bà Phùng Thị Mai L yêu cầu y án sơ thẩm, cho bà T1 thời hạn 03 (ba) tháng để hoàn lại tiền thừa kế.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm có ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến diễn biến phiên tòa phúc thẩm, các đương sự được thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: không chấp nhận kháng cáo của bà T1 và ông T2 vì không có căn cứ. Đề nghị đình chỉ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và sau khi nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
  2. Người kháng cáo là các ông (bà) Phùng Mạnh T, Phùng Kim T1, Phùng Minh T2 nộp đơn kháng cáo đúng thời hạn theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên Đơn kháng cáo của các đương sự trên được chấp nhận.

  3. Về nội dung:
    1. Tại phiên toà phúc thẩm, phía nguyên đơn rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo, do đó Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
    2. Xét kháng cáo của bị đơn - bà Phùng Kim T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phùng Minh T2 về việc xem xét cho bà T1 công sức, sửa chữa tu bổ nhà và chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ bằng một suất thừa kế là 1/6 giá trị căn nhà.

Đối với tiền sửa chữa, xây dựng lại căn nhà, cấp sơ thẩm đã ghi nhận việc các đồng thừa kế khác hoàn trả cho bà T1 số tiền 2.140.433.632 đồng trước khi phân chia thừa kế.

Tiền chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ: đây là nghĩa vụ của các con đối với cha mẹ, cha mẹ của các đồng thừa kế đều là người được hưởng lương hưu, có thêm thu nhập từ tiền thuê nhà, các anh em không ở trong nhà nhưng đều lui tới khi ông bà đau ốm để chăm sóc.

Việc bà T1 có nhà riêng ở nơi khác được về ở trong căn nhà số 9 L vào năm 1999 để chung sống với cha mẹ và được hưởng một phần thu nhập cùng với cha mẹ khi cho thuê căn nhà số 9 L là đã tính đến quyền lợi của bà T1. Các đồng thừa kế khác trước đây đòi bà T1 phải trả tiền thu nhập từ việc cho thuê căn nhà số 9 L nhưng đều đã rút là có thiện chí, ngoài ra việc cấp sơ thẩm xem xét đến công sức của bà T1 nên ưu tiên cho việc bà được ở lại và sở hữu nhà số 9 L sau khi hoàn tiền cho các đồng thừa kế, là đều đã tính đến công sức của bà. Do đó kháng cáo của bà T1 và ông T2 là không có cơ sở chấp nhận.

Tại mục số 11 phần Quyết định của Bản án sơ thẩm tuyên: "Nếu quá thời hạn trên bà Phùng Kim T1 không thực hiện hoàn trả giá trị di sản mà các đồng thừa kế được hưởng theo quy định thì các ông bà Phùng Minh T2, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi căn nhà và đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh ... để phân chia ..." Tuy nhiên Bản án chưa ấn định khoảng thời gian cho phép để đương sự thi hành nên cần bổ sung phần này để có cơ sở thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy cần ấn định khoảng thời gian để phía bà T1 có điều kiện hoàn lại cho các đồng thừa kế khác số tiền theo Bản án tuyên là 06 (sáu) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật là phù hợp. Hạn chót là ngày 23/01/2025.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc y án là có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích trên, không chấp nhận kháng cáo của ông T, bà T1 và ông T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Các ông (bà) Phùng Mạnh T, Phùng Kim T1 và Phùng Minh T2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm vì là người cao tuổi và có đơn xin miễn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của các ông (bà) Phùng Mạnh T, Phùng Kim T1 và Phùng Minh T2. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 1026/2023/DS-ST ngày 28/11/2023 của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh có bổ sung, cụ thể:

  1. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Mạnh T về việc buộc bà Phùng Kim T1 hoàn trả tiền thuê nhà mà bà thu được hưởng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  2. Đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của ông Phùng Ngọc K về việc buộc bà Phùng Kim T1 hoàn trả tiền thuê nhà mà bà T1 được hưởng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  3. Đình chỉ đối với yêu cầu độc lập của bà Phùng Thị Mai L về việc buộc bà Phùng Kim T1 hoàn trả tiền thuê nhà mà bà T1 được hưởng là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  4. Xác định nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/01/2007, đăng ký thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận ngày 19/07/2011 là di sản thừa kế do ông Phùng Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T3 để lại.
  5. Những người được hưởng thừa kế của ông Phùng Văn T4 và bà Nguyễn Thị Kim T3 gồm: Phùng Minh T2, Phùng Kim T1, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L, mỗi người được hưởng 1/5 giá trị nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ khi giá trị xây dựng phải trả cho bà T1 là 2.140.433.632 đồng (Hai tỷ một trăm bốn mươi triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi hai đồng).
  6. Ghi nhận sự tự nguyện của các ông bà: Phùng Mạnh T, Phùng Minh T2, Phùng Thị Mai L, Phùng Ngọc K về việc hoàn trả lại giá trị xây dựng căn nhà 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Giá trị xây dựng là 2.140.433.632 đồng (Hai tỷ một trăm bốn mươi triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi hai đồng).
  7. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phùng Mạnh T về việc nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế là nhà đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị hoàn trả cho bà Phùng Kim T1.
  8. Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Phùng Ngọc K về việc nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế là nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị hoàn trả cho bà Phùng Kim T1.
  9. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Phùng Thị Mai L về việc nhận 1/5 giá trị di sản thừa kế là nhà, đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi trừ đi giá trị hoàn trả cho bà Phùng Kim T1.
  10. Giao cho bà Phùng Kim T1 được sở hữu căn nhà và đất tọa lạc tại địa chỉ 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phùng Kim T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại giá trị các kỷ phần thừa kế cho các đồng thừa kế Phùng Minh T2, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L (sau khi trừ đi giá trị xây dựng phải trả cho bà T1 là 2.140.433.632 đồng) sau khi bản án có hiệu lực pháp luật theo tỷ lệ đã được phân chia, hạn chót là ngày 23/01/2025.
  11. Sau khi bà Phùng Kim T1 hoàn thành các nghĩa vụ đối với các đồng thừa kế và nghĩa vụ đối với nhà nước, bà Phùng Kim T1 có quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật.
  12. Nếu quá thời hạn trên bà Phùng Kim T1 không thực hiện hoàn trả giá trị di sản mà các đồng thừa kế được hưởng theo quy định thì các ông bà Phùng Minh T2, Phùng Mạnh T, Phùng Ngọc K và Phùng Thị Mai L có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mãi căn nhà và đất số 9 L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận Giấy chứng nhận Quyền sở hữu nhà ở và Quyền sử dụng đất ở số 797602674303726, hồ sơ gốc số 3807/2007/UB-GCN do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/10/2007 và bản vẽ hiện trạng nhà và bản đồ hiện trạng vị trí - áp ranh ngày 18/8/2023 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H) để phân chia theo đúng giá trị mỗi người được hưởng sau khi trừ đi giá trị xây dựng là 2.140.433.632 đồng (Hai tỷ một trăm bốn mươi triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn sáu trăm ba mươi hai đồng) phải trả cho bà Phùng Kim T1 và các chi phí cho việc phát mãi và các chi phí phát sinh khác theo quy định của pháp luật (nếu có) theo tỷ lệ mỗi người được hưởng 1/5 giá trị nhà đất. Giá trị thực tế căn cứ vào giá tại thời điểm cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi.

    Bà Phùng Kim T1 và những người sống tại căn nhà trên phải có trách nhiệm thu dọn đồ đạc, tài sản ra khỏi nhà đất trên để cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành thủ tục phát mãi căn nhà trên theo quy định của pháp luật.

  13. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn về việc chịu các chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá, đo vẽ. Nguyên đơn đã nộp đủ các chi phí nêu trên.
  14. Không chấp nhận yêu cầu của bà Phùng Kim T1 về việc được hưởng 2/6 giá trị di sản thừa kế.
  15. Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

    Miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm cho nguyên đơn và bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phùng Minh T2 và bà Phùng Thị Mai L.

    Ông Phùng Ngọc K phải nộp án phí sơ thẩm là 107.001.032 đồng (Một trăm lẻ bảy triệu không trăm lẻ một nghìn không trăm ba mươi hai đồng) nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 38.500.000 đồng (Ba mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu số AA/2019/0029127 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Phùng Ngọc K còn phải nộp số tiền án phí là 68.501.032 đồng (Sáu mươi tám triệu năm trăm lẻ một nghìn không trăm ba mươi hai đồng).

  16. Về án phí dân sự phúc thẩm:

    Các ông (bà) Phùng Mạnh T, Phùng Kim T1 và Phùng Minh T2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm vì là người cao tuổi và có đơn xin miễn.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND Quận 1;
  • - Chi cục THADS Quận 1;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu/30.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Đình Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 643/2024/DS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 643/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger