|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 642/2024/DS-PT Ngày: 23-7-2024. V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền.
Các Thẩm phán:
- Ông Uông Văn Tuấn
- Bà Châu Thị Điệp
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 447/2024/TLPT ngày 23 tháng 5 năm 2024, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2024/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 3092/2024/QĐ-PT ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 9540/2024/QĐ-PT ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn H, sinh năm: 1969
- Địa chỉ: Cấp C, xã V, huyện B, TP ..
- Đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1988.
- Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn E, C, Đ.
- Bị đơn: Bà Phạm Thị C, sinh năm: 1944
- Địa chỉ: E ấp E, xã V, huyện B, TP ..
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Khắc T, sinh năm 1976.
Địa chỉ: C N, phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Thanh L, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Cấp C, xã V, huyện B, TP ..
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Minh S, sinh năm 1988.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn E, C, Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Nguyên đơn - Ông Phạm Văn H trình bày như sau:
Ông và vợ ông là bà Lê Thị Thanh L là chủ sở hữu phần đất thuộc thửa 1202, tờ bản đồ số 10 (CT-UB) có diện tích 313m² tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05407 do UBND huyện B cấp ngày 14/9/2004, phần diện tích đất của ông sử dụng sát với phần đất của bà Phạm Thị C, trong quá trình sử dụng ông có cắm mốc cọc bê tông trên phần đất của ông. Nhưng khi ông muốn xây dựng lại hàng rào thì bà C cản trở không cho ông làm, lý do là bà C1 nói ông xây dựng lấn đất của bà C.
Nhận thấy việc mà bà C không cho ông xây dựng lại hàng rào trên phần đất thuộc quyền sử dụng của ông là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.
Ông yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh buộc bà Phạm Thị C trả lại cho ông phần đất đã lấn chiếm là 14,6m² thuộc thửa 1202, tờ bản đồ số 10 (TL 02/CT-UB), tọa lạc tại xã V, huyện B, Thành phố hồ Chí Minh và đồng thời buộc bà C cho ông thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông trên phần đất này và không được ngăn chặn và cản trở ông.
Lý do phần đất trên ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149543 do Ủy ban nhân dân huyện B cấp ngày 14/9/2004.
Phần đất 14,6m² nêu trên do ông quản lý, trực tiếp sử dụng từ năm 2005 đến nay, nhưng bà C nói đất của bà, từ năm 2005 ông có cắm cọc (6 cây cọc) trên phần đất đó. Đến năm 2016, bà C đến nhổ các cọc trên và ngăn cản không cho ông cắm cọc lại và xây dựng hàng rào trên đất 14,6m² của ông, cơ quan có thẩm quyền không có lập biên bản về sự việc này.
Tại bản tự khai ngày 06/3/2024, Ông H xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- - Ông yêu cầu bà C trả lại phần đất cho ông diện tích 11,6m², số thứ tự 02 theo Bản thống kê diện tích của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023.
- - Buộc bà C cho ông thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông trên phần đất này và không được ngăn chặn và cản trở ông.
Tại phiên tòa, nguyên đơn - Ông Phạm Văn H có ý kiến trình bày và yêu cầu như sau:
Phần đất diện tích 11,6m², số thứ tự 02 theo Bản thống kê diện tích của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023 do ông quản lý, trực tiếp sử dụng từ năm 2005 đến nay, nhưng bà C nói là đất của bà, từ năm 2005 ông có cắm cọc (6 cây cọc) trên phần đất đó. Đến năm 2016, bà C đến nhổ các cọc trên và ngăn cản không cho ông cắm cọc lại và xây dựng hàng rào trên đất 11,6m² của ông, cơ quan có thẩm quyền không có lập biên bản về sự việc này, ông cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bà C nhổ các cọc trên và ngăn cản không cho ông cắm cọc lại và xây dựng hàng rào.
Ông H xác định yêu cầu khởi kiện cụ thể như sau:
- - Ông yêu cầu bà C trả lại phần đất cho ông diện tích 11,6m², số thứ tự 02 theo Bản thống kê diện tích của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023.
- - Buộc bà C cho ông thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông trên phần đất này và không được ngăn chặn và cản trở ông.
- - Ông yêu cầu bà C bồi thường cho ông số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) vì đã nhổ bỏ các cọc của ông.
Bị đơn – Bà Phạm Thị C, Ông Huỳnh Khắc T đại diện trình bày như sau:
Theo đơn khởi kiện của Ông Phạm Văn H, phần đất đã lấn chiếm là 14,6m² tại phần đất thuộc thửa đất 1202 tờ bản đồ số 10 (TL02/CT-UB) tọa lạc tại xã V, huyện B, TP ., buộc bà C trả lại 14,6m², bà C không đồng ý.
Trên phần đất đó có con đường hiện hữu mà hiện tại ông H rào chắn cản trở không cho gia đình bà C đi vào phần đất bà C. Bà C yêu cầu ông H tháo dỡ rào chắn trả lại con đường để gia đình bà C tiện việc làm ăn.
Phần đất tranh chấp có diện tích là 14,6 m² thuộc một phần thửa 1202, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã V, huyện B, TP . do ông Phạm Văn H quản lý và trực tiếp sử dụng từ trước đến nay, bà C không có lấn chiếm phần đất nêu trên.
Bà C không ngăn cản Ông Phạm Văn H cắm cọc, làm hàng rào, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông H trên phần đất nêu trên.
Bà C không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H.
Tại phiên tòa, Ông Huỳnh Khắc T có ý kiến trình bày như sau:
Phần đất tranh chấp có diện tích là 11,6 m² thuộc một phần thửa 1202, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã V, huyện B, TP . do ông Phạm Văn H quản lý và trực tiếp sử dụng từ trước đến nay, bà C không có quản lý, sử dụng và không có lấn chiếm phần đất nêu trên.
Bà C không ngăn cản ông Phạm Văn H cắm cọc, làm hàng rào, thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông H trên phần đất nêu trên.
Bà C không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông H về việc:
- - Ông yêu cầu bà C trả lại phần đất cho ông diện tích 11,6m², số thứ tự 02 theo Bản thống kê diện tích của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023.
- - Buộc bà C cho ông thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông trên phần đất này và không được ngăn chặn và cản trở ông.
Đối với yêu cầu bà C bồi thường cho ông H số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) thì bà C không đồng ý vì vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu.
Trong quá trình xét xử vụ án, bị đơn – Bà Phạm Thị C nộp Đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận con đường thuộc vị trí số 01 là 01 m², vị trí số 04 là 23,2m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh đo ngày 12/12/2017 của Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H là lối đi chung vào phần đất của hộ bà Phạm Thị C.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Lê Thị Thanh L trình bày:
Bà L có ý kiến trình bày giống nguyên đơn Ông Phạm Văn H trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Bà Lê Thị Thanh L có ý kiến trình bày giống nguyên đơn - Ông Phạm Văn H.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2024/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Căn cứ vào Khoản 9 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm c Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 244, Khoản 3 Điều 200 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 17, Khoản 1, Khoản 2 Điều 26, Khoản 1, Khoản 5 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ vào Điều 27của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo nghị quyết.
Xử:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Phạm Văn H về việc:
- - Yêu cầu bà C trả lại phần đất cho ông H diện tích 11,6m² (số thứ tự 2 - Bản thống kê diện tích), thuộc một phần thửa 1202, tờ bản đồ số 10, Bộ địa chính xã V, huyện B, TP . (Theo tài liệu 02/CT-UB) của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023.
- - Buộc bà C cho ông H thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông H trên phần đất này và không được ngăn chặn và cản trở ông H.
Ông H được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất trên phần đất diện tích 11,6m² (số thứ tự 2 - Bản thống kê diện tích), thuộc một phần thửa 1202, tờ bản đồ số 10, Bộ địa chính xã V, huyện B, TP . (Theo tài liệu 02/CT-UB) của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023 (thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA149543, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05407/QSDĐ/... ngày 14/9/2004 do Ủy ban nhân dân huyện B, TP. cấp cho Phạm Văn H)
Không chấp nhận việc bổ sung yêu cầu bà C bồi thường cho ông H số tiền là 3.000.000 đồng (ba triệu đồng) của ông H. Ông H được quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật trong một vụ khác nếu có yêu cầu.
Không xem xét giải quyết yêu cầu phản tố của bà C yêu cầu Tòa án giải quyết: công nhận con đường thuộc vị trí số 01 là 01m², vị trí số 04 là 23,2m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh đo ngày 12/12/2017 của Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H là lối đi chung vào phần đất của hộ bà C. Bà C được quyền nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền thụ lý, giải quyết theo quy định của pháp luật trong một vụ khác nếu có yêu cầu.
- Về chi phí tố tụng:
Buộc Ông Phạm Văn H chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (hai triệu đồng). Ông H đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.000.000 đồng (hai triệu đồng) theo Phiếu thu ngày 26/10/2022 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh. Ông Phạm Văn H đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Phạm Văn H phải chịu 600.000 đồng (sáu trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Văn H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0081084 ngày 10/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, TP .. Ông Phạm Văn H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Phạm Văn H còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày bên có quyền có đơn yêu cầu thi hành án. Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
Ngày 15/4/2024, bị đơn bà Phạm Thị C kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút yêu cầu kháng cáo.
Đại diện bị đơn trình bày: Yêu cầu Hội đồng xét xử hủy Bản án dân sự sơ thẩm do Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cụ thể: Nguyên đơn khởi kiện vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất với bị đơn. Quá trình giải quyết vụ án, tòa án sơ thẩm không đưa những người trong hộ bà Nguyễn Thị C2 vào tham gia tố tụng trong khi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà C2 là cấp cho hộ gia đình. Giữa nguyên đơn và bị đơn có ký cam kết ngày 12/11/2019, bị đơn có đơn yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết thực hiện theo cam kết này nhưng Tòa sơ thẩm không giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn là không khách quan, không đúng quy định pháp luật. Vì vậy, cần hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại vụ án đưa những người trong hộ bà C2 vào tham gia tố tụng gồm: Ông Lê Văn R, anh Lê Văn H1, anh Lê Văn T1, chị Lê Thị D, chị Lê Thị T2 để
đảm bảo quyền lợi của những người này. Đồng thời, xem xét giải quyết yêu cầu phản tố của bà C2 để đảm bảo quyền lợi của bà C2.
Nguyên đơn trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Nguyên đơn và bị đơn có ký cam kết ngày 12/11/2019 nhưng các bên không thực hiện được. Sau đó, Ủy ban nhân dân xã V đã có lập biên bản hòa giải đất đai ngày 29/01/2021 để hòa giải tranh chấp giữa các bên. Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của những người trong hộ gia đình bà C2, vì vậy không cần phải đưa những người này tham gia tố tụng. Bị đơn nộp đơn phản tố sau khi Tòa sơ thẩm công khai chứng cứ nên Bản án sơ thẩm không giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:
- - Về tố tụng: Từ ngày thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa Phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án Dân sự sơ thẩm số 160/DS-ST ngày 04/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Xét kháng cáo của bị đơn - bà Phạm Thị C kháng cáo yêu cầu hủy Bản án sơ thẩm để đưa những người trong hộ bà Phạm Thị C vào tham gia tố tụng và giải quyết yêu cầu phản tố của bà C.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần đất cho ông H1 diện tích 11,6m² (số thứ tự 02 - Bản thống kê diện tích), thuộc một phần thửa 1202, tờ bản đồ số 10, Bộ địa chính xã V, huyện B, TP . (Theo tài liệu 02/CT-UB) của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023; Buộc bà C cho ông H1 thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông H1 trên phần đất này và không được ngăn chặn và cản trở ông H1; Ông H1 được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất trên phần đất diện tích 11,6m² (số thứ tự 02 - Bản thống kê diện tích), thuộc một phần thửa 1202, tờ bản
đồ số 10, Bộ địa chính xã V, huyện B, TP . (Theo tài liệu 02/CT-UB) của Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H lập ngày 17/11/2023 (thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AA 149543, vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 05407/QSDĐ/... ngày 14/9/2004 do Ủy ban nhân dân huyện B, TP. cấp cho Phạm Văn H). Bản án sơ thẩm xác định bà Phạm Thị C không có hành vi lấn chiếm đất của ông H và không cản trở ông H thực hiện quyền của người sử dụng đất của ông H nên tuyên xử bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Phạm Văn H.
Ngày 01/4/2024, bị đơn bà Phạm Thị C có đơn yêu cầu phản tố nộp cho Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận con đường thuộc vị trí số 01 là 01m², vị trí số 04 là 23,2 m² theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh đo ngày 12/12/2017 của Trung tâm đo đạc bản đồ Thành phố H là lối đi chung vào phần đất của hộ bà C. Xét thấy, Tòa án sơ thẩm đã tiến hành các thủ tục Tố tụng và thực hiện phiên công khai chứng cứ và hòa giải lần cuối cùng là ngày 05/5/2023. Theo quy định tại khoản 3 Điều 200 Bộ luật Tố tụng Dân sự “Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”. Do yêu cầu phản tố của bị đơn được đưa ra sau thời điểm mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và sau khi Tòa án sơ thẩm ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 555/QĐ-ST ngày 11/9/2023 nên Tòa sơ thẩm không xem xét giải quyết yêu cầu của bị đơn là đúng quy định pháp luật. Do Bản án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không giải quyết yêu cầu phản tố của bị đơn nên không cần thiết phải đưa những người trong hộ bà Phạm Thị C vào tham gia tố tụng, kháng cáo của bị đơn không có cơ sở chấp nhận.
[2] Từ những nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn - bà Phạm Thị C là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí Dân sự Phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 305, Điều 306, Điều 307 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn - bà Phạm Thị C. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 160/2024/DS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn - bà Phạm Thị C là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí nên không phải chịu án phí Dân sự Phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Uông Văn Tuấn | Châu Thị Điệp | Nguyễn Thị Huyền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |
Bản án số 642/2024/DS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 642/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Văn H tranh chấp quyền sử dụng đất với bà Phạm Thị C
