Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 642/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 11/6/2025

V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN – TP. HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Chương.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Võ Thị Thanh Thu
  2. Bà Nguyễn Thị Tịnh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 11 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1793/2024/TLST– HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 130/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Phan Thị Hồng Â, sinh năm: 1988 (có đơn xin vắng mặt)
  • Địa chỉ:A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Trung T, sinh năm: 1987 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ghi ngày 06/12/2024, bản tự khai, biên bản về việc không tiến hành hòa giải được, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, nguyên đơn bà Phan Thị Hồng  trình bày:

Sau một thời gian tìm hiểu, vào năm 2017 bà Phan Thị Hồng  và ông Nguyễn Trung T đã tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh theo giấy chứng nhận kết hôn số 102/2017 ngày 08/5/2017.

Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng tôi chung sống hạnh phúc. Nhưng sau đó, giữa vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chúng tôi bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp. Ông T không quan tâm, chăm sóc, không chăm lo kinh tế cho gia đình, ông T còn thường xuyên nhậu nhẹt, rượu chè về nhà chửi bới, xúc phạm và đánh đập tôi. Từ năm 2020 tôi và ông T đã ly thân, tình cảm lạnh nhạt, không còn quan tâm lẫn nhau. Nhiều lần tôi đã cố gắng khuyên ông T, nhưng ông T không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng ngày trở nên gay gắt do hay tranh cãi và xúc phạm nhau dù đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện để hòa giải với nhau nhưng cũng không có kết quả. Nay tôi nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể kéo dài thêm được nữa nên tôi yêu cầu Tòa án cho tôi ly hôn với ông Nguyễn Trung Toàn để tôi ổn định cuộc sống.

  • - Về con chung: Bà Â khai không có con chung.
  • - Về tài sản chung: Trong vụ án này bà Â khai không có.
  • - Về nợ chung: Bà Â khai không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành điều tra, xác minh, tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt giấy triệu tập, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ, đồng thời nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Trung T vắng mặt không có lý do nên vụ án được đưa ra xét xử hôm nay.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về phần thủ tục tố tụng dân sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng dân sự theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử áp dụng, tuân thủ đúng trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt không lý do, nguyên đơn bà Phan Thị Hồng  có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn và bị đơn cư ngụ tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh theo các qui định tại khoản 1 Điều 28; điểm a, khoản 1, Điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Toà án đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, tống đạt giấy triệu tập, tống đạt thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng bị đơn đều vắng mặt không lý do. Ngoài ra, nguyên đơn bà Phan Thị Hồng  có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phan Thị Hồng  và ông Nguyễn Trung T tự nguyện tiến đến hôn nhân. Căn cứ giấy chứng nhận kết hôn 102/2017 ngày 08/5/2017 do UBND xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp thì đủ cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà  và ông T là hôn nhân hợp pháp.

[4] Xét về yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn: Do ông T không đến Tòa án để cung cấp chứng cứ nên Hội đồng xét xử căn cứ vào lời khai và các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án. Vợ chồng bà Â, ông T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà Â, ông T bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, ông T không quan tâm, chăm sóc lo kinh tế cho gia đình, ông T còn thường xuyên nhậu nhẹt, rượu chè về nhà chửi bới, xúc phạm và đánh đập bà Â. Từ năm 2020 bà  và ông T đã sống ly thân, tình cảm lạnh nhạt, không còn quan tâm lẫn nhau, nhiều lần bà  đã cố gắng khuyên ông T, nhưng ông T không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày trở nên gay gắt do hay tranh cãi và xúc phạm nhau dù đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện để hòa giải với nhau nhưng cũng không có kết quả. Nay bà  nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn iêu thương quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể kéo dài thêm được nữa nên bà  yêu cầu Tòa án cho bà  được ly hôn với ông Nguyễn Trung Toàn Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập và thông báo về phiên hòa giải nhưng ông T vẫn cố tình không đến tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ ông T không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau. Từ đó Hội đồng xét xử xét thấy đời sống chung vợ chồng của bà  và ông T đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận đơn xin ly hôn của bà H và xử cho bà  được ly hôn với ông T. [5] Xét về con chung: bà Phan Thị Hồng  khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Trong vụ án này bà Â khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đồng, bà Â phải nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các Điều 21, 28, 35, 39; 147; 186; 203; 207; 227; 228; 235; 264; 266; 267; 271; 272 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Căn cứ các Điều 56; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • - Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Hồng  được ly hôn với ông Nguyễn Trung T.
  2. Về con chung: Bà Phan Thị Hồng  khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Trong vụ án này bà Â khai không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Án phí về hôn nhân và gia đình: Là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) bà Phan Thị Hồng  phải nộp nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) mà bà H đã nộp theo biên lai số 0047778 ngày 19 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phan Thị Hồng  đã nộp đủ án phí.

Án xử công khai, tuyên án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn mười lăm ngày kể từ ngày được giao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDTP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THA Dân sự huyện Hóc Môn;
  • - UBND xã TTT,
  • huyện H.M, TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP, hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đình Chương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 642/2025/HNGĐ-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 642/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vợ chồng bà Â, ông T chung sống với nhau hạnh phúc được một thời gian thì sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bà Â, ông T bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, ông T không quan tâm, chăm sóc lo kinh tế cho gia đình, ông T còn thường xuyên nhậu nhẹt, rượu chè về nhà chửi bới, xúc phạm và đánh đập bà Ân. Từ năm 2020 bà Â và ông T đã sống ly thân, tình cảm lạnh nhạt, không còn quan tâm lẫn nhau, nhiều lần bà Â đã cố gắng khuyên ông T, nhưng ông T không thay đổi, mâu thuẫn vợ chồng ngày trở nên gay gắt do hay tranh cãi và xúc phạm nhau dù đã nhiều lần ngồi lại nói chuyện để hòa giải với nhau nhưng cũng không có kết quả. Nay bà Â nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không thể kéo dài thêm được nữa nên bà Â yêu cầu Tòa án cho bà Â được ly hôn với ông Nguyễn Trung T. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập và thông báo về phiên hòa giải nhưng ông T vẫn cố tình không đến tòa án, không trình bày ý kiến, yêu cầu của mình. Điều này chứng tỏ ông Toàn không có thiện chí để vợ chồng đoàn tụ, hàn gắn trở về sống chung với nhau. Từ đó Hội đồng xét xử xét thấy đời sống chung vợ chồng của bà Â và ông T đang ở trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể kéo dài. Do vậy Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình để chấp nhận đơn xin ly hôn của bà Huệ và xử cho bà Â được ly hôn với ông T.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger