|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 641/2024/DS-PT Ngày: 01/11/2024 V/v: Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Liên Anh |
| Các Thẩm phán: | Ông Trương Chí Anh |
| Bà Ngô Tuyết Băng | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Thư ký Tòa án |
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 01 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 378/2024/TLPT-DS ngày 16/10/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 452/2024/QĐ-PT ngày 16/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 573/2024/QĐPT-HPT ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội, giữa các đương sự sau:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng H, sinh năm 1970;
HKTT: Số A, ngách H, ngõ A M, tổ A phường M, quận C, Thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Đoàn Thị Thu T, sinh năm 1995; Bà Nguyễn Thị Thùy L, sinh năm 1996; Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1989. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng: 3365, quyển số 06/2024/TPCC-SCC/HĐGD gày 28/6/2024)
Bị đơn: Công ty cổ phần Đ;
Địa chỉ trụ sở chính: Tầng G, Tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lương Thành L1; Chức vụ: Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Thành V; Bà Nguyễn Thị Thanh H2; Ông Vũ Nghị L2; Bà Cao Thị Ngọc M; Bà Nguyễn Kiều O (Theo giấy ủy quyền số: 45/2024/GUQ-KSFINANCE ngày 28/6/2024);
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần T3 (Tên viết tắt là: Sunshine Group); Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1, Tòa nhà S, số A P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội;
Người đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Văn T1; Chức vụ: Tổng Giám đốc;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Trà M1; Ông Nguyễn Văn K; Ông Phạm Đình L3; Bà Phạm Thị L4 (Theo văn bản ủy quyền số: 66/2024/UQ-SSGD ngày 2/7/2024 của Sunshine Group);
Do có kháng cáo của Công ty cổ phần T3 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:
Năm 2022, bà H sử dụng ứng dụng KS Invest qua app điện thoại để cho Công ty Cổ phần K1 (“KS Finance”) vay thông qua các danh mục đầu tư ghi nhận chi tiết trên ứng dụng trên. Theo đó, bà H đã xác lập 02 giao dịch cho vay dưới hình thức là Hợp đồng hợp tác kinh doanh với KS Finance, cụ thể như sau:
| STT | Số hợp đồng | Số tiền cho vay (VNĐ) | Lãi suất | Thời hạn hợp đồng |
| 1 | Hợp đồng Hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022 | 1.000.000.000 | 9,3%/năm | 06 tháng kể từ ngày 01/09/2022 đến ngày 01/03/2023 |
| 2 | Hợp đồng Hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/09/2022 | 1.000.000.000 | 10%/năm | 1 năm kể từ ngày 24/09/2022 đến ngày 25/09/2023 |
Đến nay, các hợp đồng trên đã hết thời hạn hợp tác, mặc dù đã rất nhiều lần bà H liên hệ đến bộ phận phụ trách kinh doanh của Công ty K1; trực tiếp đến trụ sở văn phòng công ty để yêu cầu trả tiền gốc và lãi (lợi ích cố định). Tuy nhiên, K1 đã không có bất kỳ động thái nào trả tiền gốc và tiền lãi cho bà H theo theo đúng thỏa thuận tại hợp đồng các bên đã ký kết. Do đó, ngày 25/02/2023 (lần 1) và ngày 15/3/2023 (lần 2) bà H đã có đơn đề nghị chấm dứt gia hạn hợp đồng trên, yêu cầu K1 trả số tiền gốc và lãi cho bà H nhưng công ty này đã không thực hiện bất kỳ yêu cầu nào của bà H.
Ngày 18/08/2023, căn cứ thư bảo lãnh do Công ty Cổ phần T3 phát hành ngày 16/12/2022 để bảo lãnh cho việc thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng của công ty K1 đối với các nhà đầu tư như bà, bà H tiếp tục gửi đơn đề nghị tới Công ty Cổ phần T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh, thanh toán thay cho KS Finance các nghĩa vụ tại hợp đồng mà bà H đã ký với K1. Nhưng, đến nay, Công ty Cổ phần T3 vẫn không có bất kỳ phản hồi nào về yêu cầu này của bà H.
Tính đến ngày bà H chính thức nộp đơn khởi kiện, tổng số tiền gốc bà H đã cho CTCP Đầu tư K1 vay dưới hình thức hợp tác kinh doanh và số tiền lợi ích cố định theo thỏa thuận của các bên trong hợp đồng đã ký kết, các khoản tiền lãi chậm thanh toán theo quy định pháp luật chi tiết như sau:
| STT | Số hợp đồng | Số tiền đầu tư (VNĐ) | Lãi suất | Thời hạn hợp đồng | Lãi trong hạn phải trả (VNĐ) | Lãi quá hạn phải trả | Số tiền chậm trả đến ngày khởi kiện (VNĐ) |
| 1 | Hợp đồng Hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022 | 1.000.000.000 | 9,3%/năm | 06 tháng kể từ ngày 01/09/2022 đến ngày 01/03/2023 | 46.117.808 | 10%/năm | 126.027.397 |
| 2 | Hợp đồng Hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/09/2022 | 1.000.000.000 | 10%/năm | 1 năm kể từ ngày 24/09/2022 đến ngày 25/9/2023 | |||
| Tổng | 2.000.000.000 | 46.117.808 | 126.027.397 |
Ghi chú: Đối với Hợp đồng số IGIH00220588 ký ngày 24/9/2022, ngày 21/7/2023, bà H đã đề nghị tới Công ty K1 về việc rút vốn/tất toán trước hạn hợp đồng này với số tiền là: 907.000.000 VNĐ. Như vậy, số tiền đầu tư ban đầu mà công ty K1 phải thanh toán nốt cho bà H đối với Hợp đồng này là: 93.000.000 VNĐ.
Đề nghị Tòa án giải quyết cho bà H yêu cầu sau:
Buộc CTCP Đầu tư KS Finance phải thanh toán cho bà H số tiền đầu tư ban đầu là 1.093.000.000 VNĐ, số tiền lãi trong hạn (lợi nhuận cố định) phải thanh toán là 46.117.808 VNĐ, số tiền chậm thanh toán kể từ ngày đến hạn cho đến ngày khởi kiện 12/6/2024, tạm tính là: 126.027.397 VNĐ. Tổng số tiền CTCP Đầu tư K1 phải thanh toán cho bà H tạm tính đến ngày khởi kiện 12/06/2024 là: 1.265.145.205 VNĐ. Trường hợp công ty K1 không có khả năng thanh toán thì CTCP Tập đoàn T3 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà H số tiền nêu trên theo bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ Hợp đồng cho công ty K1.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần K1 trình bày:
Năm 2022, K1 và bà Nguyễn Thị Hồng H (là Nguyên đơn trong Vụ án) có thỏa thuận ký kết các Hợp đồng hợp tác kinh doanh với các nội dung cơ bản như sau:
Mục đích hợp tác kinh doanh: Bà Nguyễn Thị Hồng H đồng ý góp vốn và K1 đồng ý nhận và quản lý phần vốn góp của bà Nguyễn Thị Hồng H để thực hiện hoạt động kinh doanh tại các dự án và các mục đích đầu tư kinh doanh khác không trái với các quy định của pháp luật, nhằm hướng tới phân chia lợi nhuận và kết quả đạt được theo thỏa thuận tại hợp đồng hợp tác kinh doanh này. Cụ thể, tại Hợp đồng hợp tác kinh doanh đã ký, bà Nguyễn Thị Hồng H được hưởng các lợi ích trên giá trị Khoản đầu tư.
Bảng kê Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa bà Nguyễn Thị Hồng H với KSF
| STT | Ngày xác lập giao dịch | Ngày đến hạn | Số Hợp đồng | Giá trị Khoản đầu tư (VNĐ) | Lợi ích cố định (%) | |
| Giá trị Khoản đầu tư ban đầu (VNĐ) | Giá trị Khoản đầu tư còn lại (VNĐ) | |||||
| 1 | 01/09/2022 | 01/03/2023 | IHRH00204394 | 1,000,000,000 | 1,000,000,000 | 9.3 |
| 2 | 24/09/2022 | 25/09/2023 | IGIH00220588 | 1,000,000,000 | 93,000,000 | 10 |
| Tổng Cộng | 2,000,000,000 | 1,093,000,000 | ||||
Thực hiện Hợp đồng hợp tác kinh doanh nêu trên, K1 đã nhận các Khoản đầu tư của bà Nguyễn Thị Hồng H và thực hiện các hoạt động kinh doanh theo thỏa thuận tại các hợp đồng đã ký.
Tuy nhiên, trong giai đoạn từ Q IV năm 2022 đến nay, do sự suy thoái chung của nền kinh tế toàn cầu, thị trường bất động sản trong nước đóng băng, chính sách siết chặt tín dụng của các Ngân hàng ... đã khiến cho các công ty bất động sản gặp rất nhiều khó khăn (không chỉ riêng KSF và các Chủ đầu tư dự án bất động sản mà K1 có quan hệ hợp tác, đầu tư), trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu và dòng tiền của KSF.
Do đó, khi đến hạn hoàn trả giá trị Khoản đầu tư và Lợi nhuận cố định theo các Hợp đồng hợp tác đầu tư, KS Finance chưa có khả năng thanh toán ngay cho bà Nguyễn Thị Hồng H theo đúng thỏa thuận.
Khi phát sinh vấn đề trên, K1 đã nhiều lần gặp gỡ, trao đổi với bà Nguyễn Thị Hồng H để tháo gỡ khó khăn. Đồng thời, KSFinance cũng đã hết sức nỗ lực tìm kiếm các giải pháp để bảo đảm quyền lợi của khách hàng. Cụ thể, trong thời gian vừa qua, chúng tôi đã đề xuất khách hàng cảm thông và xem xét các phương án giải quyết như sau:
- Gia hạn thời gian thực hiện Hợp đồng thêm 24 tháng để Công ty có thể thu xếp nguồn tiền hợp lý chi trả, đồng thời Khách hàng sẽ được nhận thêm một khoản lợi nhuận bổ sung theo thỏa thuận của các bên.
- Chuyển đổi giá trị khoản tiền đầu tư sang thành khoản thanh toán các bất động sản khác đã đủ điều kiện đưa vào kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật và ký kết Hợp đồng mua bán với Chủ đầu tư, tại các Dự án: Sunshine G, Sunshine G, Sunshine S, Sunshine D, Sunshine Capital Tây T, S, S, Sunshine P,...
Tuy nhiên đến nay, Nguyên đơn và K1 vẫn chưa đạt được sự đồng thuận. Chúng tôi vẫn rất nỗ lực và thiện chí mong muốn thương lượng, hòa giải để tìm được tiếng nói chung với Nguyên đơn trên cơ sở đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cả hai bên.
KS Finance kính mong Quý Tòa xem xét, tiếp tục tạo điều kiện cho các bên được thương lượng, trao đổi về các phương án giải quyết vụ việc trên tinh thần thiện chí; chia sẻ và hỗ trợ cho K1 có thêm thời gian thu hồi các khoản đầu tư và các nguồn thu khác, để sớm có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với bà Nguyễn Thị Hồng H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty CP T3 trình bày:
Qua quá trình rà soát và đối chiếu các hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công ty, Công ty T3 đã phát hành 01 Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022.
Việc phát hành T2 bảo lãnh sẽ tùy thuộc vào sự thỏa thuận giữa Công ty T3 - Công ty CP Đ tại từng thời điểm. Công ty T3 không can thiệp, không chịu trách nhiệm đối với các nội dung thỏa thuận tại hợp đồng đặt mua bất động sản giữa Công ty CP Đ và bà Nguyễn Thị Hồng H. Việc thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh được thực hiện và tuân thủ trên cơ sở quy định pháp luật dân sự và các quy định pháp luật khác có liên quan và theo các điều khoản, nội dung của Thư Bảo lãnh đã được Công ty T3 phát hành.
1. Đối với nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng:
Căn cứ Điều 342 Bộ luật dân sự quy định về trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh:
- “1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.
- 2. Trường hợp bên bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ bảo lãnh thì bên nhận bảo lãnh có quyền yêu cầu bên bảo lãnh thanh toán giá trị nghĩa vụ vi phạm và bồi thường thiệt hại."
Theo đó, Nguyên đơn có trách nhiệm thực hiện các quyền yêu cầu thanh toán với bên có nghĩa vụ là Công ty Đ để đảm bảo trước tiên các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
2. Đối với nghĩa vụ thực hiện bảo lãnh theo 01 Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022
Qua quá trình rà soát và đối chiếu với các hồ sơ, tài liệu lưu trữ tại Công ty, Công ty T3 đã phát hành 01 thư bảo lãnh đề ngày 16/12/2022. Tuy nhiên, sau khi xem xét lại hồ sơ đã sao chụp tại Tòa án và hồ sơ lưu trữ, Công ty T3 chưa nhận được đầy đủ hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của Nguyên đơn nên hiện tại chưa có căn cứ để thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo yêu cầu.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội đã quyết định:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng hợp tác kinh doanh”.
- + Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán và Công ty cổ phần T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022; Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/09/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IGIH 00220588 ký ngày 24/09/2022, bao gồm:
- - Khoản đầu tư gốc Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022: 1.000.000.000 đồng;
- - Khoản lợi nhuận trong hạn của Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022 từ ngày 01/9/2022 đến ngày 01/3/2023 là: 46.117.808 đồng;
- - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 02/3/2023 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 07/8/2024 của Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022 là: 141.095.890 đồng.
- - Khoản đầu tư gốc Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/09/2022: 93.000.000 đồng;
Tổng số tiền Công ty cổ phần K1 và Công ty cổ phần T3 phải thanh toán cho cả hai Hợp đồng là 1.280.213.698 đồng.
Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của Bản án sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 kháng cáo đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo uỷ quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 xin xét xử vắng mặt. HĐXX công bố đơn kháng cáo và lời khai của công ty.
Đại diện theo ủy quyền của bị đơn Công ty cổ phần K1 trình bày: Bị đơn đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm. Đối với kháng cáo của Công ty cổ phần T3 đề nghị HĐXX xem xét theo quy định.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đề nghị HĐXX giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử và các đương sự tuân thủ đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Sau khi phân tích nội dung vụ kiện, đại diện VKS nhân dân Thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội về cách tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về hình thức:
Đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 nộp trong hạn luật định, đã nộp dự phí kháng cáo, về hình thức là hợp lệ.
2. Về nội dung:
Xét Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Các Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022; Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022; Các hợp đồng hợp tác đầu tư mà bà H đã kí kết với Công ty CP K1 đều được kí kết bởi người có thẩm quyền kí kết, nội dung và hình thức của các thỏa thuận đúng quy định của pháp luật. Các bên đương sự kí kết các Hợp đồng hợp tác đầu tư nêu trên cơ sở tự nguyện, phù hợp với quy định tại các Điều 116, 117 của Bộ luật dân sự, nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên đương sự. Đối chiếu với nội dung của các Hợp đồng hợp tác đầu tư cũng như quá trình thực hiện hợp đồng thấy: Công ty CP K1 đã vi phạm thoả thuận trong các Hợp đồng đã kí kết giữa hai bên, vì vậy bà H khởi kiện yêu cầu chấm dứt các HĐ hợp tác kinh doanh đã ký với Công ty CP K1 và Công ty CP K1 thanh toán cho bà H số tiền gốc của 02 Hợp đồng đã kí (đối với HĐ 4394 là 1.000.000.000 đồng; đối với HĐ 0588 là 93.000.000 đồng) tổng là 1.093.000.000 đồng, các lợi ích mà bà H được hưởng theo thoả thuận Hợp đồng đã kí giữa hai bên là có căn cứ nên cần được chấp nhận.
Theo đó: Tại Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022, lợi nhuận bà H được hưởng là 9,3%/năm tương đương với số tiền lợi ích (tính từ ngày 01/9/2022 đến ngày 01/3/2023 là 06 tháng: 46.117.808 đồng. Đối với Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022, bà H không yêu cầu tiền lợi ích nên HĐXX không xem xét.
Xét khoản yêu cầu về lãi phát sinh trên nợ gốc của bà H: Nguyên đơn yêu cầu mức lãi phát sinh trên nợ gốc. Bản án sơ thẩm áp dụng theo Điều 357 và Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tính mức lãi suất chậm thanh toán là 10%/năm là phù hợp. Như vậy:
- + Đối với HĐ hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022: Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 02/3/2023 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 07/8/2024 là: 1.000.000.000 đồng x 10% x 524 ngày chậm thanh toán/365 = 143.561.643 đồng. Tuy nhiên phía bà H chỉ yêu cầu Công ty K1 thanh toán tiền số tiền lãi 141.095.890 đồng nên chấp nhận.
- + Đối với HĐ hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022 bà H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.
Tổng số tiền gốc, lợi ích phát sinh và lãi chậm thanh toán Công ty CP K1 phải thanh toán cho bà H là: 1.280.213.698 đồng.
Xét yêu cầu Toà án buộc Công ty CP T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022:
Thấy:
“1. Phạm vi bảo lãnh: Các nghĩa vụ thanh toán của bên được bảo lãnh (kể cả nghĩa vụ hoàn trả khoản tiền bảo đảm đặt mua, chi trả lợi ích, bồi hoàn và bồi thường thiệt hại) cho bên nhân bảo lãnh phát sinh từ Hợp đồng.
2.Hiệu lực bảo lãnh: Thư bảo lãnh có hiệu lực kể từ ngày phát hành và hết hạn sau khi toàn bộ nghĩa vụ được bảo lãnh nêu tại Mục I đã được thực hiện hoặc giải trừ đầy đủ: Khi bên nhận bảo lãnh chuyển nhượng Hợp đồng theo đúng quy định thì Thư bảo lãnh này cũng được tự động chuyển nhượng theo và có hiệu lực ràng buộc với bên nhận chuyển nhượng của bên nhận bảo lãnh".
Bà H đã giao nộp cho HĐXX Thư bảo lãnh của Công ty CP T3 phát hành ngày 16/12/2022. Đại diện Công ty T3 cũng thừa nhận thư bảo lãnh ngày 16/12/2022, công ty không nhận được thủ tục hồ sơ yêu cầu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đầy đủ nên chưa có căn cứ để thực hiện bảo lãnh. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty CP T3 thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khoản tiền phát sinh từ Các Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022; Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022 – theo Thư bảo lãnh ngày 16/12/2022 là có căn cứ.
Bản án sơ thẩm xác định buộc Công ty K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán và Công ty T3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là đúng nhưng cách tuyên như vậy chưa đầy đủ, đúng quy định pháp luật. Nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng do Công ty K1 vi phạm nên Công ty K1 có trách nhiệm phải thanh toán các khoản tiền theo thoả thuận. Trường hợp Công ty K1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty T3 mới phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với phần nghĩa vụ chưa được thực hiện của Công ty K1. Do đó cần sửa án sơ thẩm về cách tuyên, theo hướng buộc Công ty K1 phải thanh toán cho bà H số tiền theo thỏa thuận, trường hợp Công ty K1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán thì Công ty T3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phù hợp với nhận định của HĐXX.
Chấp nhận một phần kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm:
Do sửa án sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Bà H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, được nhận lại dự phí đã nộp
Công ty CP K1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 158/2024/DS-ST ngày 7/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- - Điều 280, Điều 335, Điều 357; Điều 513; Điều 468 của Bộ luật dân sự;
- - Khoản 2 Điều 26, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Hồng H đối với Công ty CP K1 về việc “Tranh chấp Hợp đồng hợp tác kinh doanh”.
- Buộc Công ty cổ phần K1 thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Hồng H, trường hợp Công ty cổ phần K1 không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ Công ty cổ phần T3 phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh các khoản tiền phát sinh từ Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022; Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022 và “Giấy chứng nhận đầu tư” số IGIH 00220588 ký ngày 24/9/2022, bao gồm:
- - Khoản đầu tư gốc Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022: 1.000.000.000 đồng;
- - Khoản lợi nhuận trong hạn của Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/9/2022 từ ngày 01/9/2022 đến ngày 01/3/2023 là: 46.117.808 đồng;
- - Tiền lãi phát sinh kể từ ngày 02/3/2023 tính trên khoản đầu tư gốc chưa trả với mức lãi suất 10%/năm tính đến ngày xét xử là 07/8/2024 của Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IHRH 00204394 ký ngày 01/09/2022 là: 141.095.890 đồng.
- - Khoản đầu tư gốc Hợp đồng hợp tác kinh doanh số IGIH 00220588 ký ngày 24/09/2022: 93.000.000 đồng;
Tổng số tiền Công ty cổ phần K1 và Công ty cổ phần T3 phải thanh toán cho cả hai Hợp đồng là 1.280.213.698 đồng.
Về án phí:
Án phí dân sự phúc thẩm:
Công ty cổ phần T3 không phải án phí dân sự phúc thẩm, được nhận lại 300.000 đồng số tiền dự phí kháng cáo đã nộp tại Biên lai thu số 0028024 ngày 20/9/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Án phí dân sự sơ thẩm:
Công ty CP K1 phải chịu 50.406.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị Hồng H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.000.000 đồng theo Biên lai BLTU/23 0009795 ngày 20/6/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Sau khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án dân sự của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi chậm trả đối với số tiền chưa thi hành xong theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Liên Anh |
Bản án số 641/2024/DS-PT ngày 01/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Số bản án: 641/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng hợp tác kinh doanh
