|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 641/2024/DS-PT Ngày: 22/7/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Hồng Loan
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Huyền
Bà Vũ Thị Thu Hương
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Tào Minh Quân – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 17 và 22 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 412/2024/TLPT-DS ngày 08/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 342/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2832/2024/QĐ-PT ngày 27/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 8928/2024/QĐ-PT ngày 25/6/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N
Địa chỉ: B L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T - Chức vụ: Tổng giám đốc
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Quốc H (Có mặt)
Địa chỉ: 4 N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền số 243/NHNoCN7-TH ngày 01/6/2022)
- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm: 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: 2 H, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Nhà không số, Tổ A, Khu phố G, thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đoàn Thị Ngọc M, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1973 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị Thanh Q, sinh năm: 1976 (Có mặt)
- Ông Nguyễn Thanh H2, sinh năm: 1995 (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc Tường V, sinh năm: 2004 (Có mặt)
Cùng địa chỉ: 35/53, ấp B, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Thanh Q: Ông Trần Văn Đ, sinh năm: 1994; (Có mặt)
Địa chỉ: Số B, đường T, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 21/6/2024, số công chứng 002786, quyển số 09/2024TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1 chứng nhận).
- Bà Đoàn Thị Ngọc M, sinh năm: 1988 (Vắng mặt)
- Người kháng cáo: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/10/2021 cùng các tài liệu khác của nguyên đơn có đại diện theo ủy quyền là ông Trần Quốc H trình bày:
Ngân hàng N1 (gọi tắt là Ngân hàng) đã cho ông Nguyễn Văn H3 vay tiền theo hợp đồng tín dụng số: 6170-LAV-201900531/HĐTD ngày 11/11/2019; Phụ lục hợp đồng nhận tiền vay và định kỳ hạn trả nợ ngày 12/11/2019. Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng. Thời hạn vay: 12 tháng (từ 11/11/2019 đến ngày 12/11/2020). Lãi suất vay trong hạn: 9% năm, lãi suất được điều chỉnh theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng. Mục đích vay: Bổ sung vốn nuôi tôm.
Tài sản đảm bảo cho khoản vay:
Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa số 605, tờ bản đồ số 10, tọa lạc tại xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận QSDĐ số AK 532157, số vào sổ cấp GCN: H 05573 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 18/10/2007, cập nhật thay đổi ngày 04/11/2019. Tài sản được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên thứ ba số 6170-LCL-201900428/HĐTC ngày 11/11/2019 tại văn phòng công chứng Nguyễn Văn T1; Đăng ký thế chấp theo quy định.
Quá trình vay, ông H3 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc từ ngày 12/11/2020 và chưa thanh toán tiền lãi từ ngày 01/4/2020. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở nhưng ông H3 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Cụ thể: Đến ngày 25/9/2023, tổng số tiền còn nợ Ngân hàng là: 2.886.849.315 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi: 886.849.315 đồng.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với ông H3 và bà M, yêu cầu khách hàng có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ, tuy nhiên khách hàng vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng tín dụng đã ký.
Do đó, để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của Ngân hàng, đề nghị Quý Tòa giải quyết những vấn đề sau đây đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Buộc ông Huỳnh Văn H1 phải trả ngay cho Ngân hàng tổng số tiền là 2.886.849.315 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi: 886.849.315 đồng, tạm tính đến ngày 25/9/2023.
- Kể từ ngày 26/9/2023, ông Huỳnh Văn H1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-201900531/HĐTD ngày 11/11/2019 cho đến ngày ông Huỳnh Văn H1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng.
- Trường hợp ông Huỳnh Văn H1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, yêu cầu phát mãi toàn bộ tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng đã ký kết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập đương sự, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Giấy triệu tập tham gia phiên họp, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập tham gia phiên toà, quyết định hoãn phiên toà) cho bị đơn là ông Huỳnh Văn H1 và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Đoàn Thị Ngọc M, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Thanh Q, ông Nguyễn Thanh H2, Nguyễn Ngọc Tường V theo quy định của pháp luật. Do bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có lý do nên Toà án không thể ghi nhận ý kiến của bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 342/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1:
Buộc ông Huỳnh Văn H1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng N1 toàn bộ số tiền phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số: 6170-LAV-201900531/HĐTD ngày 11/11/2019 tạm tính đến ngày 25/9/2023 là: 2.886.849.315 đồng, bao gồm: Nợ gốc: 2.000.000.000 đồng, Nợ lãi: 886.849.315 đồng.
Kể từ ngày 26/9/2023, ông Huỳnh Văn H1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số hợp đồng tín dụng số: 6170-LAV-201900531/HĐTD ngày 11/11/2019 cho đến ngày ông H1 trả hết nợ gốc cho Ngân hàng N1.
Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng thì lãi suất ông Huỳnh Văn H1 phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng theo quyết định của Tòa án cũng được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.
Trường hợp ông Huỳnh Văn H1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp thanh toán cho các khoản vay của ông Huỳnh Văn H1 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên thứ ba số 6170-LCL-201900428/HĐTC ngày 11/11/2019 tại văn phòng C, đăng ký thế chấp tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 12/11/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo không đủ trả nợ thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu ông Huỳnh Văn H1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.
Ngày 10/01/2024, bà Nguyễn Thị Thanh Q có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết vụ án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh Q có ông Trần Văn Đ là đại diện theo ủy quyền trình bày: Do bà Q cần tiền để xây nhà nên bà Q đã hỏi vay của bà L1 500.000.000 đồng. Bà L1 đồng ý với điều kiện bà Q phải ký hợp đồng bán nhà cho bà L1 và bà Q đã thực hiện. Bà Q hoàn toàn không biết việc bà L1 đăng bộ sang tên sau đó tiếp tục làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà M và bà M dùng tài sản này để thế chấp ngân hàng. Mặt khác, bà Q cho rằng việc nhận thế chấp tài sản của ngân hàng không ngay tình vì tại thời điểm thế chấp đã có tài sản là căn nhà của bà Q nhưng ngân hàng không xác minh làm rõ, không có biên bản thẩm định tại nơi có tài sản thế chấp, định giá tài sản lại thực hiện tại trụ sở của ngân hàng nên giao dịch bảo đảm này cũng vô hiệu. Tuy nhiên, nếu Tòa án công nhận hợp đồng thế chấp thì bà Q yêu cầu bà L1 và bà M trả lại giá trị đất cho bà Q đồng thời phải trả lại giá trị nhà cho bà Q và ông L khi phát mãi tài sản. Ngoài ra, quá trình giải quyết ở cấp sơ thẩm bà Q và gia đình không nhận được bất kỳ văn bản tố tụng nào từ Tòa án mà chỉ nhận được bản án sơ thẩm nên không thể đưa ra ý kiến, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Trong bản án sơ thẩm có nhận định: “…… bà Q đại diện ký tên vào biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ, đồng ý giao tài sản thế chấp cho Ngân hàng xử lý nợ nếu không có khả năng trả tiền cho ngân hàng” là không phản ánh đúng ý chí của bà Q. Do đó, bà Q đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè giải quyết lại theo thủ tục chung.
Nguyên đơn Ngân hàng N1 có ông Trần Quốc H là đại diện theo ủy quyền đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Căn cứ tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, Tòa cấp sơ thẩm đã không tống đạt các văn bản tố tụng đúng thủ tục cho bà Nguyễn Thị Thanh Q, ông Nguyễn Văn L, ông Nguyễn Thanh H2, bà Nguyễn Ngọc Tường V. Tài sản thế chấp để bảo đảm cho khoản nợ vay của ông H1 là quyền sử dụng đất đứng tên bà Đoàn Thị Ngọc M nhưng thực tế trên đất có căn nhà do bà Nguyễn thị Thanh Q1 đang ở. Tòa cấp sơ thẩm không làm rõ căn nhà này là của ai, được xây dựng khi nào, tại thời điểm thế chấp đã có chưa để giải quyết đảm bảo quyền lợi cho sở hữu chủ nếu phải phát mãi tài sản để thu hồi nợ cho ngân hàng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy Bản án sơ thẩm để giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ Hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-201900531/HĐTD ký ngày 11/11/2019 thì ông Huỳnh Văn H1 có vay của Ngân hàng N1 số tiền 2.000.000.000 đồng, mục đích để nuôi tôm. Thời hạn vay là 12 tháng; Lãi suất thỏa thuận là 9%/năm trên nợ gốc, lãi suất quá hạn bằng 150%/năm, lãi suất chậm trả là 9%/năm. Bên vay phải trả lãi cho ngân hàng D tháng/kỳ, thời hạn trả gốc là cuối kỳ vào ngày 12/11/2020. Số nợ này được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của bà Đoàn Thị Ngọc M theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số phát hành: AK532157, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: H05573 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/10/2007 và cập nhật biến động ngày 04/11/2019.
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng số 6170-LAV-201900531/HĐTD ký ngày 11/11/2019 ông H1 không thanh toán cho Ngân hàng bất cứ khoản nào. Dư nợ tính đến ngày 25/9/2023 ông H1 phải thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền là 2.886.849.315 đồng bao gồm, nợ gốc là 2.000.000.000 đồng, nợ lãi là 886.849.315 đồng. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H1 trả số nợ trên, nếu không thì phát mãi tài sản bảo đảm để thu hồi nợ cho ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Q1 cho rằng quyền sử dụng đất có diện tích 131m2 tọa lạc tại xã B, huyện C và căn nhà trên đất là tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà. Do bà Q1 cần tiền và không đủ điều kiện vay ngân hàng nên mới nhờ bà Nguyễn Thị L2, bà Đoàn Thị Ngọc M (bà M là con dâu của bà L2) đứng tên để vay tiền. Theo yêu cầu của bà L2 và bà M, bà Q1 đã ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà L2. Bà Q1 hoàn toàn không biết bà L2 làm hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà M và sau đó bà M dùng tài sản này để làm tài sản thế chấp bảo đảm cho số nợ vay của ông H1. Mặt khác, Ngân hàng không tiến hành thẩm định tài sản thế chấp mới không biết trên đất có tồn tại căn nhà của gia đình bà Q1 đang sinh sống nên Ngân hàng không phải là người ngay tình trong giao dịch này. Bà Q1 yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được ký giữa bà Q1 và bà L2, hủy hợp đồng tặng cho được ký giữa bà L2 và bà M và hủy hợp đồng thế chấp được ký giữa ngân hàng với bà M. Tuy nhiên, nếu có căn cứ cho rằng việc thế chấp là đúng thì cũng cần phải xem xét tài sản là căn nhà có trên đất của gia đình bà Q1. Như vậy, để xem xét lời trình bày của bà Q1 là có căn cứ hay không, Tòa án phải đưa bà L2 vào tham gia tố tụng và làm rõ thỏa thuận của bà Q1, bà L2, bà M như thế nào làm căn cứ để giải quyết quyền lợi của các bên cũng như xác định ngân hàng có phải là người ngay tình trong việc ký hợp đồng thế chấp tài sản không. Trong trường hợp phải xử lý tài sản thế chấp thì cũng cần định giá tài sản là căn nhà trên đất để giải quyết quyền lợi cho bà Q1 và gia đình của bà Q1. Những vấn đề này không thể bổ sung ngay ở cấp phúc thẩm được vì không đảm bảo tố tụng.
Ngoài ra, về thủ tục tố tụng: Hồ sơ vụ án thể hiện, trong suốt quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm, Tòa án không thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông L, bà Q1, ông H2, bà Tường V. Quá trình chuẩn bị xét xử vụ án, Tòa án cũng không tiến hành tống đạt Thông báo mở phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các đương sự. Tại phiên họp ngày 16/8/2023, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Thanh Q, ông Nguyễn Thanh H2, bà Nguyễn Ngọc Tường V vắng mặt. Mặc dù Tòa án cấp sơ thẩm có ban hành Thông báo về kết quả phiên họp (Bút lục 178), nhưng không có bất cứ tài liệu, chứng cứ nào chứng minh việc Tòa án đã tống đạt các Thông báo này cho đương sự theo quy định tại khoản 3 Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bên cạnh đó, các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đều chưa được tống đạt hợp lệ. Việc tống đạt các quyết định này chỉ được thể hiện tại 02 “Bản kê gửi bưu điện” (Bút lục 140, 148). Theo đó, bảng kê chỉ có chữ ký của Thư ký Lê Chí Đ1 và chữ ký của người nhận (không rõ là ai). Các tài liệu này không thể hiện việc tống đạt đã được thực hiện tại đâu, cho ai, có thành công hay không, tức không đảm bảo việc tống đạt qua dịch vụ bưu chính theo quy định tại khoản 2 Điều 175 Bộ luật Tố tụng dân sự. Mặt khác, căn cứ khoản 1 Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự, “Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng được thực hiện trong trường hợp không thể cấp, tống đạt, thông báo trực tiếp văn bản tố tụng”. Tuy nhiên, trong hồ sơ vụ án cũng không có bất kỳ tài liệu nào chứng minh Tòa án cấp sơ thẩm đã thực hiện việc niêm yết công khai văn bản tố tụng theo đúng quy định cho các đương sự.
Trong khi đó, ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Thanh Q, ông Nguyễn Thanh H2, bà Nguyễn Ngọc Tường V là những người đang thực tế cư trú trên nhà đất đang được thế chấp tại Ngân hàng, Ngân hàng là bên nhận thế chấp đang có yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm để trả nợ cho khoản vay của ông Huỳnh Văn H1. Xét thấy việc giải quyết vụ án ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn L, bà Nguyễn Thị Thanh Q, ông Nguyễn Thanh H2, bà Nguyễn Ngọc Tường V, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng là làm ảnh hưởng đến quyền của các ông bà trên đây được trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đưa ra các yêu cầu độc lập (nếu có). Vấn đề này Tòa cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
Từ sự phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh Q; Chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh; Hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè giải quyết lại theo thủ tục chung.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Q được chấp nhận nên bà Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 148, Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thanh Q;
Tuyên xử: Hủy bản án sơ thẩm
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 342/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết sơ thẩm lại theo thủ tục chung.
Bà Nguyễn Thị Thanh Q không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị Thanh Q số tiền là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017568 ngày 18/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nhà Bè.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Hồng Loan |
Bản án số 641/2024/DS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 641/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy bản án sơ thẩm
