|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 640/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 25-07-2024;
“V/v tranh chấp: Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Quản Văn Tiến |
|
|
Các Hội thẩm nhân dân: |
1. Ông Nguyễn Văn Thư; |
|
2. Bà Nguyễn Thị Cờ. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệp Anh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thanh Thuý - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 423/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2023 về việc Tranh chấp ly hôn; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 04/6/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 127 ngày 26/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1964; Hộ khẩu thường trú: A17 tổ 110 (số mới là 12 ngõ G H), phường Ô, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Có mặt
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1971; Hộ khẩu thường trú: khẩu thường trú: A17 tổ 110 (số mới là 12 ngõ G H), phường Ô, quận Đ, Hà Nội. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại các văn bản và trình bày tại Tòa, nguyên đơn - ông Nguyễn Tuấn A trình bày:
Tình cảm: Ông Nguyễn Tuấn A và bà Nguyễn Thị Thanh H kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, H, H (nay là phường N, quận H, Thành phố Hà Nội) ngày 12/4/1995.
Quá trình chung sống, ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng, cuộc sống chung không có hạnh phúc, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, không hợp tính tình, vợ chồng thiếu sự tin tưởng. Ông, bà đã sống ly thân từ năm 2014 tới nay, không quan tâm, không chăm sóc nhau.
Ông Tuấn A xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông xin ly hôn.
- Con chung: Ông Tuấn A xác nhận ông và bà H có 02 con chung là Nguyễn Lâm A1 (nữ), sinh ngày 19/11/1995; Nguyễn Hoàng V (nam), sinh ngày 30/10/2007. Từ khi ông bà sống ly thân đến tháng nay, hai con chung cư trú cùng bà H. Ban đầu ông Tuấn A đề nghị được nuôi dưỡng cháu V; Quá trình Tòa giải quyết ly hôn, ông Tuấn A đã gặp gỡ, thuyết phục bà H đưa cháu V đến Tòa trình bày nguyện vọng xem cháu V muốn ở với ai, tuy nhiên bà H muốn nuôi cháu V và bà H cùng cháu V đều không đồng ý đến Tòa. Do vậy ông đồng ý để bà H trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, còn cháu Lâm A1 đã trưởng thành ở với ai do cháu tự quyết định.
- Tài sản chung (động sản và bất động sản): Ông Tuấn A không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Ông Tuấn A xác nhận vợ chồng không có nợ chung và không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ, niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án tại nơi đăng ký thường trú và tại Ủy ban nhân dân phường nơi bà H cư trú, nhưng bà H không hợp tác để nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, không trình bày, không đưa ra ý kiến, quan điểm, vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành tố tụng.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn đề nghị:
Tình cảm: Ông Nguyễn Tuấn A xác định tình cảm vợ chồng không còn, ông xin ly hôn với bà H.
Con chung: Ông Tuấn A xác nhận ông và bà H có 02 con chung là Nguyễn Lâm A1 (nữ), sinh ngày 19/11/1995; Nguyễn Hoàng V (nam), sinh ngày 30/10/2007. Ông đồng ý để bà H trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, còn cháu Lâm A1 đã trưởng thành ở với ai do cháu tự quyết định.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Tuấn A đề nghị được cấp dưỡng nuôi cháu V với mức tiền 10.000.000 đồng/01 tháng.
Tài sản chung: Ông Tuấn A không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Nợ chung: Ông Tuấn A xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn: Bà H vắng mặt, không thể hiện ý kiến, quan điểm.
* Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng:
Quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án; đương sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án là đúng quy định của pháp luật.
Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh H đăng ký thường trú tại phường Ô, quận Đ, Hà Nội; Ông Tuấn A khởi kiện xin ly hôn bà H tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa; Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đống Đa.
- Về nội dung: Sau khi phân tích các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Tuấn A đối với bà Nguyễn Thị Thanh H.
Con chung: Ông Tuấn A xác nhận ông và bà H có 02 con chung là Nguyễn Lâm A1 (nữ), sinh ngày 19/11/1995; Nguyễn Hoàng V (nam), sinh ngày 30/10/2007. Giao con chung là anh Nguyễn Hoàng V cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; Chấp nhận việc tự nguyện cấp dưỡng 10.000.000 đồng/01 tháng tiền nuôi con chung của ông Tuấn A. Cháu Nguyễn Lâm A1 hiện đã thành niên, khỏe mạnh việc ở với ai do cháu tự quyết định.
Về tài sản chung (động sản và bất động sản): Đương sự không yêu cầu nên không xét.
Nợ chung: Ông Tuấn A xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
Án phí: Ông Tuấn A phải nộp 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình và 300.000 đồng tiền án phí cấp dưỡng nuôi con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của đương sự, ý kiến của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Tố tụng:
- Thẩm quyền: Bà Nguyễn Thị Thanh H đăng ký thường trú tại phường Ô, quận Đ, Hà Nội; Ông Tuấn A có đơn đề nghị giải quyết ly hôn với bà H tại Tòa án nhân dân quận Đống Đa là phù hợp pháp luật; Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.
- Sự có mặt của đương sự: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho các đương sự trong vụ án trong đó có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, tuy nhiên, bà H đều vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vắng mặt bà H.
2. Nội dung:
2.1. Quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện ông Tuấn A và bà H kết hôn tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, H, H (nay là phường N, quận H, Thành phố Hà Nội),
ngày 12/4/1995; Căn cứ Điều 3, Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình, xác nhận hôn nhân giữa ông Tuấn A với bà H là hợp pháp.
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của đương sự, tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được, thấy: Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống không hạnh phúc, ông bà không có sự cảm thông, thấu hiểu, không chia sẻ được với nhau, đã sống ly thân.
Hội đồng xét xử nhận thấy: Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có nghĩa vụ sống chung với nhau..., ông bà mỗi người một nơi, không quan tâm, không chăm sóc nhau, việc ai người đó làm, không có sự gắn kết yêu thương, cảm thông và chia sẻ. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, với điều kiện, hoàn cảnh như hiện nay thì ông bà không có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc; Tòa án cũng tạo điều kiện về thời gian để ông Tuấn A, bà H có thời gian suy nghĩ, chủ động hàn gắn, đoàn tụ gia đình nhưng ông bà vẫn sống ly thân; Tòa án đã triệu tập các đương sự đến Tòa tham gia phiên hòa giải nhưng bà H đều vắng mặt, thể hiện bà H không có thiện chí để hàn gắn tình cảm vợ chồng; Do vậy, yêu cầu ly hôn của ông Tuấn A là có căn cứ, phù hợp pháp luật; Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Tuấn A. Bà H vắng mặt không có lý do, không trình bày ý kiến, quan điểm nên không có căn cứ xem xét.
2.2. Con chung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cũng như lời trình bày của đương sự trong vụ án, có đủ căn cứ xác nhận ông Tuấn A và bà H có 02 con chung là Nguyễn Lâm A1 (nữ), sinh ngày 19/11/1995; Nguyễn Hoàng V (nam), sinh ngày 30/10/2007.
Nhận thấy: Trong quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án yêu cầu ông T anh và bà H đưa cháu V đến Tòa án để lấy ý kiến, nguyện vọng của cháu ở với ai nếu bố mẹ ly hôn nhưng ông Tuấn A và bà H đều không đưa cháu V tới Tòa án để làm việc. Ông Tuấn A đề nghị rút yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Việc giao con chung cho ai trực tiếp nuôi dưỡng cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con trẻ. Bản thân ông Tuấn A xác định từ thời điểm ông bà sống ly thân cháu V đều sống cùng bà H, cuộc sống ổn định. Qua nhiều lần trao đổi với bà H, bà H có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu V. Ông đồng ý để bà H trực tiếp nuôi dưỡng cháu V, ông sẽ tạo mọi điều kiện và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng và chăm sóc con chung. Cháu Nguyễn Lâm A1 hiện đã thành niên khỏe mạnh, việc cháu ở với ai do cháu tự quyết định.
Việc cấp dưỡng nuôi con: Ông Tuấn A đề nghị được cấp dưỡng nuôi cháu V với mức 10.000.000 đồng/01 tháng cho đến khi cháu V trưởng thành nên được chấp nhận.
2.3. Tài sản chung (gồm động sản và bất động sản): Ông Tuấn A không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xét.
2.4. Nợ chung: Ông Tuấn A xác định không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
3. Án phí: Ông Tuấn A phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Bà H không đến tòa, không thể hiện ý kiến, quan điểm nên không có căn cứ để xem xét.
Ông Tuấn A, bà H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Nhận định của vị đại diện Viện kiểm sát của nguyên đơn phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
- - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 226, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.
- - Điều 18, Điều 26, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyễn Tuấn A.
Ông Nguyễn Tuấn A được ly hôn bà Nguyễn Thị Thanh H.
2. Con chung: Xác nhận ông Tuấn A và bà H có 02 con chung là Nguyễn Lâm A1 (nữ), sinh ngày 19/11/1995; Nguyễn Hoàng V (nam), sinh ngày 30/10/2007.
Giao cháu Nguyễn Hoàng V cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng; Ông Tuấn A cấp dưỡng nuôi con chung (cháu V) 10.000.000 đồng/tháng (mười triệu đồng/01 tháng); việc cấp dưỡng được thực hiện từ tháng 7/2024 cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định pháp luật khác thay thế.
Cháu Nguyễn Lâm A1 hiện đã thành niên, khỏe mạnh việc ở với ai do cháu tự quyết định.
Ông Tuấn A có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
3. Tài sản chung (động sản và bất động sản): Ông T anh không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.
4. Nợ chung: Ông Tuấn A xác nhận ông và bà H không có nợ chung, không yêu cầu Tòa giải quyết nên không xét.
5. Án phí: Ông Nguyễn Tuấn A phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0071895 ngày 11/5/2023
của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa; Ông Tuấn A còn phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Ông Tuấn A có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Quản Văn Tiến |
Bản án số 640/2024/HNGĐ - ST ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 640/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn
