|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 640/2024/HNGĐ-ST Ngày: 23-7-2024 V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Dung
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thị Phối
2. Bà Lê Thị Ngọc
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Phong - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Võ Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 503/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 về hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Hạ V, Sinh năm: 1999 (vắng mặt)
HKTT: Thôn K, xã C, H. K, T. Đ.
Địa chỉ liên hệ: 99 Ngô Gia T, TP ., T. B.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm: 1996 (vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn K, xã C, H. K, T. Đ.
Địa chỉ tạm trú: 100 Y, P. T, TP ., T. B.
Hiện đang bị tạm giam tại: Nhà tạm giữ Công an thành phố Q.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 10/6/2024 và các lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Đỗ Thị Hạ V trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn H tự nguyện tìm hiểu và kết hôn vào ngày 18/02/2020 tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 08. Trước khi kết hôn anh chị có tìm hiểu với nhau một thời gian. Sau kết hôn vợ chồng sống có hòa thuận ban đầu nhưng sau đó thường xuyên phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng. Nguyên nhân do lối sống và tính cách của hai bên không hòa hợp dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng. Anh chị sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay, không quan tâm lo lắng gì đến nhau, hiện tình cảm giữa chị và anh H cũng không còn, nay chị yêu cầu Tòa giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để chị ổn định cuộc sống.
Quá trình chung sống vợ chồng chị và anh H chưa có con chung nên chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Đỗ Thị Hạ V tự nguyện tìm hiểu và kết hôn tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk theo giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 18/02/2020. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu sau đó phát sinh nhiều mâu thuẫn, thường xảy ra xích mích, hiện không còn tình cảm và sống ly thân từ năm 2023 cho đến nay. Nên nay chị V yêu cầu ly hôn với anh, anh đồng ý ly hôn với chị V.
Quá trình chung sống vợ chồng anh và chị V chưa có con chung nên anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa giải quyết.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và quan điểm giải quyết vụ án như sau:
Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định của BLTTDS.
* Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình. Chấp nhận yêu cầu của chị Đỗ Thị Hạ V được ly hôn với anh Nguyễn Văn H; Về con chung và tài sản chung: Không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn có địa chỉ tạm trú tại: A Ỷ, thành phố Q, tỉnh Bình Định và hiện đang bị tạm giam tại: Nhà tạm giữ Công an thành phố Q. Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn thụ lý vụ án, giải quyết theo thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 35 và điểm a, khoản 1, Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự. Nguyên đơn và bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, HĐXX căn cứ vào Điều 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị Hạ V và anh Nguyễn Văn H kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 tại UBND xã C, huyện K, tỉnh Đắk Lắk ngày 18/02/2020 đúng quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Sau kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng lối sống và tính cách cả hai bên không hòa hợp nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân từ tháng 12/2023 cho đến nay. Nay chị V yêu cầu ly hôn anh H, anh H đồng ý ly hôn chị V, nhưng anh đang bị tạm giam và xin xét xử vắng mặt. HĐXX xét thấy hôn nhân của anh chị có mâu thuẫn và đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nay chị V yêu cầu ly hôn anh H là phù hợp với quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội được qui định tại Điều 56 luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.
[3] Về quan hệ con chung: Anh chị chưa có con chung, không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[4] Về quan hệ tài sản: Chị V, anh H không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Căn cứ theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chị V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, 39, 227, 228, 238 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị Hạ V được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Chị V, anh H chưa có con chung, không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị V, anh H không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Đỗ Thị Hạ V phải nộp 300.000đ án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0001102 ngày 14/6/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Quy Nhơn, chị V đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Chị Đỗ Thị Hạ V, anh Nguyễn Văn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Dung |
Bản án số 640/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn
- Số bản án: 640/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
