|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 640/2024/HS-PT Ngày 14/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Văn Tuyển; |
| Các Thẩm phán: | Ông Phạm Việt Hà; |
| Ông Nguyễn Phan Nam. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Lý - Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 14 tháng 8 năm 2024, tại Điểm cầu trung tâm: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; Điểm cầu thành phần: Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 407/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Văn K, Nguyễn Văn D, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Các bị cáo có kháng cáo:
-
Lê Văn K, sinh ngày 16/3/1983 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Tổ F (phố M cũ), phường N, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Phạm Thị L và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- + Tại Bản án số 13/HS-ST ngày 21/3/2003, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (đã được xóa án tích).
- + Tại Bản án số 60/2007/HS-ST ngày 03/12/2007, Tòa án nhân dân quận Kiến An, thành phố Hải Phòng xử 42 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 09/8/2023. Vắng mặt.
- Nguyễn Văn D, sinh ngày 25/8/1980 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Thôn L, xã T, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở hiện nay: P, tòa B3 chung cư B, quận K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B và bà Vũ Thị C; có vợ là vợ Đào Thị T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 1085/PTHS ngày 23/7/2003, Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Tối cao tại Hà Nội xử 20 năm tù về tội Giết người (đã được xóa án tích). Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/7/2023. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 4 năm 2023, Trương Văn B1 mua của một thanh niên tên H (chưa xác định được căn cước, lai lịch) tài khoản cá độ bóng đá có tên đăng nhập là B1809 với hạn mức 10.000 điểm, quy ước giá đô 8.000 đồng/điểm (01 đô = 01 điểm), được H trả tiền hoa hồng gọi là tiền “com”, khi số điểm đặt cược cá độ đạt 400 điểm trong các trận thắng/thua, không tính các trận hòa, hệ thống mạng sẽ tự động quy đổi thành 01 “com”, tỷ lệ trả hoa hồng là “com” x 1,2 (1 com = 8.000 đồng x 1,2 = 9.600 đồng). Sau khi mua được tài khoản, B1 sử dụng điện thoại di động truy cập tài khoản cá độ B1809, nhập mật khẩu và chia tài khoản này thành tài khoản B180901 bán cho Lê Văn K, với hạn mức 5.000 điểm, quy ước giá đô 10.000 đồng/điểm, trả hoa hồng com x 1,2. Từ tài khoản B180901, K tạo ra các tài khoản B180901000, B180901004 và B180901005.
Tài khoản B180901000, K bán cho H1 Trần Tiến hạn mức 600 điểm với giá đô quy ước là 50.000 đồng/điểm, com x 2. K và T2 thống nhất thanh toán qua tài khoản ngân hàng. Từ tài khoản B180901000 T2 bán lại cho Nguyễn Văn D. T2 và D thống nhất gặp nhau thanh toán và T2 hưởng ½ số com D được hưởng. D sử dụng điện thoại di động vào mạng cá độ 16 trận bóng đá khác nhau tương ứng tổng số tiền là 34.695.000 đồng, trong đó chỉ có 01 trận đấu giữa C1 với B3 thuộc giải bóng đã ngoại hạng Anh diễn ra ngày 15/4/2023 có số tiền là 5.500.000 đồng. Quá trình đánh bạc, D bị thua số tiền là 13.627.000 đồng, tiền com D được hưởng là 68.000 đồng. T2 được hưởng lợi từ tiền com K trả là 68.000 đồng. K hưởng lợi là 13.575.000 đồng. Bằng huởng lợi là 363.800 đồng.
Tài khoản B180901004 và B180901005, mỗi tài khoản hạn mức 200 điểm K bán cho Trần Mạnh H2, giá đô quy ước là 50.000 đồng/điểm, com x 2 K và H2 thống nhất thanh toán qua tài khoản ngân hàng. H2 sử dụng điện thoại di động vào mạng để cá độ. Đối với tài khoản B180901004, H2 cá độ 53 trận bóng đá khác nhau tương ứng với tổng số tiền là 58.847.500 đồng, trong đó chỉ có 01 trận đấu giữa C1 với B3 thuộc giải bóng đã ngoại hạng Anh diễn ra ngày 15/4/2023 có số tiền là 6.230.000 đồng. Đối với tài khoản B180901005, H2 cá độ 26 trận khác nhau tương ứng với số tiền 30.082.500 đồng (không có trận nào sử dụng số tiền cá cược từ 5.000.000 đồng trở lên). Như vậy, H2 đã tham gia cá độ 79 trận (không có trận nào H2 cá độ trên 02 tài khoản) tương ứng với số tiền đánh bạc là 88.930.000 đồng, trong đó có 01 trận có số tiền trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng và được hưởng tiền com từ K trả là 305.000 đồng nên tổng số tiền H2 thắng tại 02 tài khoản này là 4.000.960 đồng. K thua số tiền là 4.000.960 đồng.
Trong các ngày 09/6, 16/6, 28/6, 08/8 và 16/11/2023, lần lượt Trần Mạnh H2, Hoàng Trần T3, Nguyễn Văn D, Lê Văn K và Trương Văn B1 đến Cơ quan Công an đầu thú.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
- + Lê Văn K 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- + Nguyễn Văn Duy 4 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt, quyết định hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Trương Văn B1, Hoàng Trần T3, Trần Mạnh H2; quyết định về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ thi hành án, về án phí và thông báo quyền kháng cáo, giải thích quy định về chế định án treo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05 và 12/3/2024, lần lượt các bị cáo Lê Văn K, Nguyễn Văn D cùng có đơn kháng cáo cùng với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn K vắng mặt nhưng có gửi đơn xin rút kháng cáo; bị cáo Nguyễn Văn D vắng mặt không rõ lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá về nội dung vụ án, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng và nội dung kháng cáo của các bị cáo, đã nêu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Văn K, Nguyễn Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật, mức hình phạt là tương xứng. Cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam có thời hạn đối với các bị cáo mới đảm bảo răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung tội phạm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn K mặc dù vắng mặt nhưng có gửi đơn xin rút kháng cáo, xét việc rút kháng cáo của bị cáo là tự nguyện, không bị ai ép buộc, căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử (viết tắt là HĐXX) đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Văn K; bị cáo Nguyễn Văn D vắng mặt nhưng có gửi kèm theo đơn kháng cáo xác nhận hộ cận nghèo, Huy chương kháng chiến của ông Nguyễn Văn B2 là ông nội của bị cáo, do đó, có cơ sở chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị HĐXX sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn D từ 03 – 06 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Văn K vắng mặt nhưng có gửi đơn xin rút kháng cáo; xét việc bị cáo Lê Văn K rút kháng cáo là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, căn cứ quy định tại Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Văn K.
[2] Bị cáo Nguyễn Văn D mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do, không có cơ sở xác định việc bị cáo Nguyễn Văn D vắng mặt vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan; mặt khác, xét việc xét xử vắng mặt bị cáo Nguyễn Văn D không làm xấu đi tình trạng của bị cáo, không gây trở ngại cho việc xét xử; căn cứ quy định tại điểm b, c khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX vẫn tiến hành xét xử.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn D tại phiên toà sơ thẩm phù hợp với lời khai của chính bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp và thống nhất với lời khai của các bị cáo Lê Văn K, Trương Văn B1, Hoàng Trần T3, Trần Mạnh H2; ngoài ra còn phù hợp với các vật chứng thu giữ, Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng tháng 4/2023, Trương Văn B1 mua của người tên H tài khoản cá độ bóng đá B1809, sau đó chia tài khoản B1809 thanh tài khoản B180901 rồi bán cho Lê Văn K để hưởng chênh lệch 2.000 đồng/01 điểm. Đến khi vụ án bị phát hiện, tài khoản của B1 giao cho K cá độ có tổng số 95 trận với tổng số tiền là 123.624.500 đồng, trong đó có 01 trận đấu với số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng. Bằng hưởng lợi số tiền là 363.800 đồng.
Lê Văn K sau khi nhận tài khoản của B1 đã chia thành tài khoản B180901000 bán cho Hoàng Trần T3, còn tài khoản B180901004 và B180901005 bán cho Trần Mạnh H2 để hưởng chênh lệch 40.000 đồng/01 điểm. Cụ thể: 03 tài khoản mà K đã giao cho các con bạc có tổng số 95 trận cá độ, tương ứng số tiền 123.624.500 đồng, trong đó có 01 trận đấu với số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng; hưởng lợi số tiền là 9.574.040 đồng.
Hoàng Trần T3 mua tài khoản cá độ bóng đá của K rồi bán lại cho D sử dụng tham gia cá độ để hưởng tiền com. D tham gia cá độ 16 trận bóng đá tương ứng với số tiền là 34.695.000 đồng, trong đó có 01 trận có số tiền 5.500.000 đồng. T3 được hưởng lợi từ tiền com K trả là 68.000 đồng.
Nguyễn Văn D cùng Trần Mạnh H2 là những người trực tiếp sử dụng điện thoại di động có kết nối internet truy cập vào trang bóng để cá độ bóng đá. D đã cá độ 16 trận tương ứng số tiền 34.695.000 đồng, thua 13.627.000 đồng. H2 đã cá độ 79 trận tương ứng số tiền 88.930.000 đồng, thắng 4.000.960 đồng. D và H2 đều có cùng 01 trận sử dụng số tiền cá độ trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng.
Vì vậy, Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D, HĐXX thấy:
[4.1] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và hoàn toàn nhận thức được hành vi đánh bạc dưới mọi hình thức là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm, nhưng do hám lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải bị xử lý nghiêm trước pháp luật, nhằm mục đích giáo dục bị cáo phải có ý thức tuyệt đối tuân thủ, chấp hành các quy định của pháp luật, đồng thời để đấu tranh phòng ngừa chung với loại tội phạm này.
[4.2] Đây là vụ án có đồng phạm, nhưng là đồng phạm giản đơn, các bị cáo B1, K bán tài khoản cho các bị cáo H2 và T3; bị cáo K, D và H2 là người trực tiếp thực hiện hành vi đánh bạc, bị cáo T3 trực tiếp giúp sức cho D để thực hiện hành vi đánh bạc nên các bị cáo có vai trò ngang nhau. Trong quá trình điều tra và tại các phiên tòa, bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
[4.3] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã đánh giá đúng về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đã phân hóa đúng vai trò của từng bị cáo trong vụ án, đã xem xét đầy đủ đến các yếu tố về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với từng bị cáo để từ đó quyết định xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D 42 tháng tù về tội “Đánh bạc” là thỏa đáng, không nặng.
[4.4] Mặt khác, bị cáo D có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về tội “Giết người”, mặc dù đã được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, vì vậy, đòi hỏi cần phải áp dụng mức phạt nghiêm khắc đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ hành vi, vai trò của bị cáo thì mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng, đồng thời mới đáp ứng được hiệu quả tích cực trong công tác phòng, chống tội phạm nói chung. Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo D có gửi tài liệu là xác nhận hộ cận nghèo, Huy chương kháng chiến của ông Nguyễn Văn B2 là ông nội của bị cáo là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự HĐXX sẽ áp dụng đối với bị cáo. Tuy nhiên, các tài liệu giảm nhẹ này không có nhiều ý nghĩa khi xem xét về hình phạt đối với bị cáo do Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do đó, không có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn D cũng như đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo của đại diện Viện kiểm sát.
[5] Về án phí: Bị cáo Lê Văn K rút kháng cáo nên không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Lê Văn K; Quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo Lê Văn K có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn D; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2024/HS-ST ngày 29 tháng 02 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng về hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn D, cụ thể như sau:
Căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn D 42 (bốn mươi hai) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Bị cáo Lê Văn K không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; Bị cáo Nguyễn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Văn Tuyển |
Bản án số 640/2024/HS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (về tội đánh bạc)
- Số bản án: 640/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (về tội Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 4/2023, Trương Văn B mua của người tên H tài khoản cá độ bóng đá B1809, sau đó chia tài khoản B1809 thanh tài khoản B180901 rồi bán cho Lê Văn K để hưởng chênh lệch 2.000 đồng/01 điểm. Đến khi vụ án bị phát hiện, tài khoản của B giao cho K cá độ có tổng số 95 trận với tổng số tiền là 123.624.500 đồng, trong đó có 01 trận đấu với số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng. Bằng hưởng lợi số tiền là 363.800 đồng. Lê Văn K sau khi nhận tài khoản của B đã chia thành tài khoản B180901000 bán cho Hoàng Trần T, còn tài khoản B180901004 và B180901005 bán cho Trần Mạnh H1 để hưởng chênh lệch 40.000 đồng/01 điểm. Cụ thể: 03 tài khoản mà K đã giao cho các con bạc có tổng số 95 trận cá độ, tương ứng số tiền 123.624.500 đồng, trong đó có 01 trận đấu với số tiền đánh bạc trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng; hưởng lợi số tiền là 9.574.040 đồng. Hoàng Trần T mua tài khoản cá độ bóng đá của K rồi bán lại cho D sử dụng tham gia cá độ để hưởng tiền com. D tham gia cá độ 16 trận bóng đá tương ứng với số tiền là 34.695.000 đồng, trong đó có 01 trận có số tiền 5.500.000 đồng. T được hưởng lợi từ tiền com K trả là 68.000 đồng. Nguyễn Văn D1 cùng Trần Mạnh H1 là những người trực tiếp sử dụng điện thoại di động có kết nối internet truy cập vào trang bóng để cá độ bóng đá. D1 đã cá độ 16 trận tương ứng số tiền 34.695.000 đồng, thua 13.627.000 đồng. H1 đã cá độ 79 trận tương ứng số tiền 88.930.000 đồng, thắng 4.000.960 đồng. D1 và H1 đều có cùng 01 trận sử dụng số tiền cá độ trên 5.000.000 đồng nhưng dưới 20.000.000 đồng.
