Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 640/2024/DS-PT

Ngày: 22/7/2024

V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất,

tranh chấp lối đi

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Hồng Loan

Các Thẩm phán:Bà Nguyễn Thị Thanh Hiền

Bà Nguyễn Thị Huyền

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam – Thư ký Tòa án, Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Tiển – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 353/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi”.

Do Bản án số 3877/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2833/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 8941/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Dương Thị Mỹ D, sinh năm 1960;

Địa chỉ: Số A K, đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện hợp pháp của bà D: Bà Trần Hiếu N, sinh năm: 1962;

(Có mặt)

Địa chỉ: Số C, Đường số A, Khu phố A, phường B, Quận B nay là thành

phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Giấy ủy quyền ngày 16/8/2006, số

chứng thực 533, quyển số 01 TP/CC-SCT/HĐGD do Ủy ban nhân dân Quận B2

chứng thực).

2. Bị đơn: Bà Bùi Thị C, sinh năm 1950

Địa chỉ: Số B, Đường số A, Khu phố A, phường B, Quận B (nay là thành

phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà C: Bà Nguyễn Thị D1, sinh năm 1955;

(Có mặt)

Địa chỉ: Số B, Đường số A, Khu phố A, phường B, Quận B (nay là thành

phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Là người đại diện theo ủy quyền (Theo giấy ủy quyền ngày 12/3/2021, số

công chứng 003649, quyển số 01.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C3 chứng

nhận)

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Dương Chí T, sinh năm 1971; (Có mặt)

Địa chỉ: B Đường A, Khu phố A, phường B, Quận B nay là thành phố T,

Thành phố Hồ Chí Minh

3.2. Bà Dương Thị Ánh H, sinh năm 1972

3.3. Ông Dương Hùng H1, sinh năm 1975

3.4. Bà Dương Thị Ánh T1, sinh năm 1978

3.5. Ông Dương Thanh L, sinh năm 1984

3.6. Bà Dương Thị Kim L1, sinh năm 1982

Cùng địa chỉ: Số B, Đường số A, Khu phố A, phường B, Quận B nay là

thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông T, bà H, ông H1, bà T1, ông L, bà L1:

Ông Dương Hùng V, sinh năm 1973; (Có mặt)

Địa chỉ: Số B, Đường số A, Khu phố A, phường B, Quận B (nay là thành

phố T), Thành phố Hồ Chí Minh

Là người đại diện theo ủy quyền (Theo Hợp đồng ủy quyền ngày

22/9/2018 số công chứng 012367, số công chứng 02.TP/CC-SCC/HĐGD do

Văn phòng C3 chứng nhận).

3.7. Ông Dương Hùng V, sinh năm 1973; (Có mặt)

Địa chỉ: Số B, Đường số A, Khu phố A, phường B, Quận B (nay là thành

phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ D theo đơn kháng

cáo do bà Trần Hiếu N là đại diện theo ủy quyền ký.

5. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm thể hiện nội dung vụ án như sau:

Trong Đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ D có bà Trần Hiếu N là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Căn nhà số B Đường A, Khu phố A, phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh (trước đây mang số 500 tổ D, ấp T, xã B, huyện T) là của ông Dương Văn N1 và bà Trương Thị X cất trên đất của ông bà để lại. Năm 1993 ông N1 bà X chuyển quyền sở hữu nhà cho con gái là bà Dương Thị Mỹ D. Thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu nhà đã hoàn tất theo quy định của pháp luật. Hiện trạng nhà đất lúc đó có 01 lối đi từ nhà ra đường A, theo họa đồ lập ngày 11/3/1993 có chiều ngang là 4m, chiều dài khoảng 20m. Đứng từ trong nhà nhìn thẳng qua lối đi ra đường A thì bên phải lối đi là đất nhà bà Bùi Thị C, bên trái lối đi là đất nhà ông Dương Văn H2 (nhà bà C và nhà ông H2 nằm ở mặt tiền đường A). Sau khi được cha mẹ cho nhà đất thì bà D trực tiếp ở và sử dụng lối đi này vì đây là đất của gia đình bà D. Gia đình bà Bùi Thị C nhiều lần lấn chiếm lối đi vào nhà bà D và hiện nay đã xây tường chắn lối đi từ nhà bà D đi ra đường A, Khu phố A, phường B.

Về nguồn gốc diện tích tranh chấp: Năm 1904 ông nội của bà Dương Thị Mỹ D là ông Dương Văn Đ mua thửa đất thuộc bản đồ số 32 và 33 theo Sổ địa bộ thời đó. Trên mảnh đất này, ông Đ trồng các loại cây ăn trái như lêkima, nhãn, thị, trâm, dừa, khế,... và trồng các loại tre bao quanh thửa đất để làm ranh đất với các lô đất lân cận. Hiện nay, phần đất đang tranh chấp và toàn bộ đất đai nhà ở của các hộ gia đình: nhà số B của bà D, nhà số B của bà C và nhà số B của ông Dương Chí T (con bà C) đều nằm trên thửa đất số 32 và 33 nói trên. Như vậy trước năm 1975 bà D thuộc phần thừa kế đất đai của ông nội, còn gia đình bà C chỉ là người ở nhờ trên đất của gia tộc ông Dương Văn Đ. Năm 1967 cha của bà D là ông Dương Văn N1 cất một ngôi nhà lá trên thửa đất số 32, 33 nói trên để ở. Đến năm 1973 ông N1 sửa lại nhà, xây bằng tường gạch mái ngói như hiện nay. Từ khi cất nhà năm 1967 gia đình của ông N1 sử dụng lối đi ra đi vào ở phía tây, sau nhà ông Dương Văn H2 số 20/3 (số cũ là 501) và hông nhà bà Bùi Thị C số 26 (số cũ là 499) mà Bản đồ hiện trạng vị trí đo đạc là 100,4m² đang tranh chấp.

Ngày 16/9/1992 ngôi nhà số B (số cũ là 500) của ông N1 được Ủy ban nhân dân huyện B2 cấp Giấy hợp thức hóa quyền sở hữu nhà số 740/GP-HTH.

Năm 1993 ông Dương Văn N1 cho con là Dương Thị Mỹ D nhà đất số B (số cũ là 500) theo Giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà số 524/GP-CS do Sở Nhà Đất cấp ngày 02/4/1993 có kèm theo Bản vẽ chi tiết căn nhà và sơ đồ thửa đất cùng với lối đi (ghi là H3) ra vào căn nhà. Tuy bà Dương Thị Mỹ D được cha là ông Dương Văn N1 cho quyền sở hữu nhà, nhưng bà D thường xuyên ở bên nhà chồng tại địa chỉ: A K, Lê Hồng P, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, thỉnh thoảng mới về thăm nhà B Đường A, Khu phố A phường B, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc kê khai đăng ký: Theo Công văn số 01747/TTĐK-KT ngày 25/01/2005 của Sở T3, bà D mới biết phần đất bà sử dụng theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB là thuộc thửa 441, 446.

Theo “Bản đồ hiện trạng vị trí” ngày 19/11/2015 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở TN&MT TP ., bà D mới biết phần đất 100,4m2 là con đường đi ra đi vào nhà bà theo tài liệu Chỉ thị 02/CT-UB thuộc thửa số 402, 403, 441.

Năm 1999 Nhà nước có Chỉ thị 24/1999/CT-TTg cho toàn dân kê khai đăng ký nhà đất theo biểu mẫu thống nhất và cho các hộ gia đình tự thỏa thuận và ký kết giáp ranh với nhau theo biểu mẫu chung của nhà nước ban hành. Tờ Đăng Ký Nhà Đất của bà Dương Thị Mỹ D kê khai đăng ký là 874m2 và Giấy Thỏa Thuận Về Việc Xác Định Ranh Giới Nhà Đất có hình vẽ phần đất làm đường đi xen giữa nhà 499 và 501.

Tại “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà đất” ngày 27/7/1999 của bà C (số nhà D) có hình vẽ con đường vào nhà của bà D và dòng chữ “H3 đi nhà 500” và trong Bảng lân cận tiếp giáp có ghi: “Bên hông, 500, Dương Thị Mỹ D, H3 đi nhà 500, Mốc ranh giới (Bụi tre)” và chữ ký của các bên liên quan rất rõ ràng.

“Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà đất” năm 1999, các hộ gia đình các ông Dương Văn H2 (số nhà E), Dương Văn B (số nhà E), Dương Văn H4 (số nhà E) đều có hình vẽ và chữ viết xác nhận con đường đi của nhà bà D là nằm phía sau nhà của các ông.

“Biên bản xác định ranh giới mốc giới thửa đất” ngày 25 tháng 10 năm 2002 của bà Dương Thị Mỹ D và bà Bùi Thị C được ghi vào “Bảng tổng hợp diện tích, loại đất, chủ sử dụng theo hiện trạng” ngày 10 tháng 6 năm 2003, rồi tiếp tục được sao chép vào tài liệu địa chính năm 2004. Phía nguyên đơn không đồng ý các số liệu và hình vẽ của tài liệu 2002, 2003 và 2004.

Về việc nộp thuế: Bà Dương Thị Mỹ D đã thực hiện nộp thuế nhà đất hàng năm cho nhà đất số B đường A khu phố A, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh với diện tích 874m2, đúng với diện tích đăng ký năm 1999.

Do đó bà D khởi kiện yêu cầu bà C trả lại diện tích 100,4m2 thuộc ô số (11), (12) Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H để bà D làm lối đi từ nhà bà D số 20/7 ra Đường A.

Bị đơn bà Bùi Thị C có bà Nguyễn Thị D1 là người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Diện tích 100,4m² đất bà Dương Thị Mỹ D tranh chấp có nguồn gốc của ông bà để lại cho vợ chồng bà Bùi Thị C và ông Dương Cung K sử dụng. Năm 1986 ông Dương Cung K mất thì bà C và các con tiếp tục sử dụng, hiện nay toàn bộ nhà đất tại địa chỉ B Đường A, Khu phố A, phường B, Quận B nay là thành phố T do gia đình bà C quản lý sử dụng bao gồm cả phần diện tích 100,4m² đang tranh chấp.

Nguồn gốc đất do ông Dương Văn C1 là ông cố chồng bà C đứng bộ 2.280m² đất thổ cư số địa bộ cũ 327, số địa bộ mới 27 tờ bản đồ thứ 2.Năm 1904, trên thửa đất thổ cư 2.280m² này, ông C1 có cắt bán cho ông Dương Văn Đ một phần đất diện tích là 1.060m². Ông Đ khi đó đã làm thủ tục sang tên đứng bộ đất, thể hiện trong chứng thư chuyển nhượng số 1213, trước bạ tại Gia Định ngày 23/6/1904. Như vậy, trên giấy tờ thửa đất 2.280m² nói trên sau khi cắt bán cho ông Dương Văn Đ 1.060m², diện tích phần đất còn lại của ông Dương Văn C1 là 1.220m². Ông Cao m để lại cho con là ông Dương Văn K1 là ông nội chồng bà C, ông K1 mất để lại cho ông Dương Văn C2 là ba chồng bà C, ông C2 mất để lại cho ông Dương Cung K. Năm 1986, ông K mất bà C tiếp tục sử dụng cho đến nay.

Năm 1967, ông Dương Văn N1 và ông Dương Văn H2 cất nhà để ở trên phần đất thổ cư 1.060m² mà năm 1904 ông Dương Văn Đ mua lại của ông Dương Văn C1. Khi cất 2 căn nhà này đều có hướng quay về cùng một hướng Nam, căn nhà ông N1 nằm ở bên trong sử dụng 2 lối đi:

  • Một lối đi ở phía Tây trước nhà số B (số nhà C) và trước nhà ông H2 số nhà 20/3 (số nhà C).
  • Một lối đi thứ 2 phía Đông cũng trước nhà số B (số nhà C) và trước nhà số A của bà Đặng Hiếu T2. Hiện nay vẫn còn cổng ra vào nhà bà D của con hẻm này.

Hai con hẻm này được chứng minh qua các quyết định của Ủy ban nhân dân thành phố B2 như sau:

  • Quy chế cấp số nhà ngày 14/4/1998 của UBND Thành phố;
  • Quyết định số 484/QĐ-UBND ngày 21/1/2003 phê duyệt hẻm 20/1 và

hẻm A;

  • Bản đồ quy hoạch lộ giới số 4551/UBND-QLĐT ngày 21/10/2015 kèm theo bản vẽ lộ giới: hẻm B là 3,5m;
  • Thông báo niêm yết quyết định số 75/TB-UBND ngày 8/4/2012;
  • Quyết định cấp số nhà số 4849/QĐ-QLĐT ngày 21/8/2001 cho bà Dương Thị Mỹ D là số 20/7;
  • Giấy xác nhận của UBND phường B2 ngày 6/7/2012 đường đi vào nhà bà D là thuộc hẻm B.

Tháng 3/1991 bà C có sửa chữa căn nhà lá, ông N1 đã gửi đơn khiếu nại lên Ủy ban nhân dân xã B2. Ngày 29/8/1991 Phòng Công nghiệp xây dựng huyện T gửi công văn số 160/CV-XD cho ông N1 với nội dung: Phòng công nghiệp xây dựng nhận thấy việc sửa chữa căn nhà trên là hợp tình và hợp lý. Tuy nhiên nếu ông không thống nhất với cách giải quyết trên của Ủy ban nhân dân xã B2 đề nghị ông bà liên hệ với Phòng N4 để xem xét giải quyết về đất đai. Sau đó tại công văn số 30/CV-UB ngày 11/4/1993 của Ủy ban nhân dân xã B2 gửi cho UBND ấp B2 trả lời ông N1 và bà C như sau: “Qua ý kiến ông N1 nêu và xác định tại hiện trường về đường đi thì chúng tôi không có cơ sở để giải quyết theo yêu cầu của ông N1”.

Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh đất hoàn toàn không có giá trị vì không từ chính chủ là tôi Bùi Thị C ký tên. Giấy đó đã có kết luận giám định số 1516/C09B ngày 24/3/2020 và số 1515/C09B ngày 24/3/2020 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo tài liệu 299 phần đất ông N1 đăng ký thuộc thửa 32, bà C đăng ký thuộc thửa 33. Theo tài liệu 02 năm 1995 bà D đăng ký thuộc thửa 441, bà C đăng ký thuộc thửa 402. Theo tài liệu 2004 bà D đăng ký thửa 45, bà C đăng ký thửa 29.

Phần diện tích đất tranh chấp bà Bùi Thị C kê khai đăng ký và sử dụng qua các thời kỳ: Theo chỉ thị 299 thuộc thửa 33; tài liệu 02 năm 1995 thuộc thửa 402 diện tích 815m²; tài liệu 2004 thuộc thửa số 29 có diện tích 833m². Về diện tích hoàn toàn trùng khớp và nhất quán. Về số thửa: theo đăng ký năm 1999 là thửa số 402, còn trong Sơ hoạ mốc giới 2002, Sổ dã ngoại 2004 và hồ sơ kỹ thuật thửa đất năm 2004 đã cấp cho bà Bùi Thị C đều là thửa số 29.

Trong tất cả các văn bản của nhà nước như đã trình bày ở trên về thửa đất bà Bùi Thị C sử dụng nhưng không đề cập đến 100,4m² hẻm đường đi và cũng không thể hiện trên các hoạ đồ mốc giới của thửa đất 29 (Năm 1999 là thửa 402). Sau khi thực hiện việc đăng ký kê khai nhà đất theo các chỉ thị của Nhà

nước, bà Bùi Thị C cũng đã thực hiện nghĩa vụ nộp thuế đất đầy đủ và liên tục từ năm 1993 (Năm Nhà nước bắt đầu thu thuế đất) cho đến năm 2020. Diện tích chịu thuế theo kê khai Chỉ thị 02 năm 1993 là 815m² thửa 402 tờ bản đồ số 1, sau này diện tích chịu thuế là 833,4m² thửa 29. Chứng từ nộp thuế mỗi năm từ năm 1993 đến năm 2020, bà Bùi Thị C vẫn còn lưu giữ đủ.

Do phần diện tích 100,4m² do gia đình bà Bùi Thị C quản lý, sử dụng, kê khai đăng ký, nộp thuế đầy đủ theo quy định của Nhà nước và diện tích 100,4m² này không phải là lối đi. Do đó, bà Bùi Thị C không đồng ý với yêu cầu của bà Dương Thị Mỹ D.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Dương Chí T, bà Dương Thị Ánh H, ông Dương Hùng H1, bà Dương Thị Ánh T1, ông Dương Thanh L và bà Dương Thị Kim L1 cùng ủy quyền cho ông Dương Hùng V là người đại diện đồng thời ông Dương Hùng V còn là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Thống nhất với ý kiến, yêu cầu của bà Bùi Thị C.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 3877/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ D về việc yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị C trả lại diện tích 100,4m2 thuộc ô số (11), (12) Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H để bà D làm lối đi của căn nhà số B Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố B2 mở lối đi ra hẻm B Đường A cho căn nhà có số B Đường A, Khu phố A, phường B, Thành phố T theo đúng quy hoạch.

Các bên thi hành dưới sự giám sát của cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự.

Ngày 09/10/2023, bà Trần Hiếu N là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn bà Dương Thị Mỹ D có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Ngày 06/10/2023, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định kháng nghị số 559/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị phúc thẩm đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 3877/2023/DS-ST ngày 25/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Nội dung kháng nghị như sau:

Phần đất tranh chấp có diện tích 100m2 theo tài liệu 299/TTg thuộc một

phần thửa 33, tờ bản đồ số 1; theo tài liệu năm 1995 thuộc một phần thửa 402, 403, 441 tờ bản đồ số 1; theo tài liệu năm 2004 thuộc một phần thửa 29, 45, 46, đường b, tờ bản đồ số 4 phường B, Quận B (nay là thành phố T). Bà Dương Thị Mỹ D và bà Bùi Thị C đều cho rằng phần đất tranh chấp do gia đình mình sử dụng và yêu cầu Tòa án công nhận phần đất này. Xét thấy:

+ Về chứng minh nguồn gốc đất của bà Dương Thị Mỹ D: Nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Dương Văn Đ (ông nội của bà D) mua của ông Dương Văn C1 vào năm 1904. Sau khi mua, ông Đ cho những người trong gia tộc cùng sử dụng, trong đó có ông Dương Cung K là chồng của bà Bùi Thị C. Theo “Giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà” số 524/GP-CS ngày 02/4/1993 của B2 thể hiện: Căn nhà số B đường A, khu phố A, phường B, Quận B (số cũ 500 ấp T, xã B, huyện T) thuộc quyền sử dụng của bà Dương Thị Mỹ D do cha mẹ là ông Dương Văn N1 và bà Trương Thị X cho, diện tích nhà là 78,12m2 trên khuôn viên đất sử dụng theo Luật Đất đai, đính kèm bản vẽ sơ đồ nhà có thể hiện lối đi vào nhà B đường A có chiều ngang 4m, chiều dài kéo dài từ nhà ra đường A, phù hợp với diện tích mà hiện nay các bên đang tranh chấp. Theo Công văn giải quyết khiếu nại số 30/CV-UB ngày 11/4/1991 của Ủy ban nhân dân xã B2, Quận B thể hiện: Khi có tranh chấp giữa bà D và bà C do bà C xây nhà không phép thì chính quyền đã yêu cầu bà C dời nhà về hướng bắc 2m để đường đi rộng rãi hơn. Theo “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà, đất” ngày 27/7/1999 của hộ gia đình bà C mặc dù không phải chữ ký của bà C nhưng đó là chữ ký của ông T (con trai bà C) vẫn luôn sinh sống cùng bà C cho đến khi bà C cho riêng miếng đất. Thời điểm lập tờ xác định ranh giới nhà đất, ông T đã 28 tuổi và chứng kiến được quá trình sử dụng đất của hai gia đình và đã xác định bên hông nhà bà C là lối đi riêng vào nhà bà D. Bà C cho rằng ông T không phải là chủ sử dụng đất nên việc xác nhận của ông T không có giá trị là không phù hợp vì tất cả các hộ dân sử dụng đất đều kê khai và ký giáp ranh các phần đất của mình, bà C phải biết ông T đã ký giáp ranh nộp cho UBND phường vào thời điểm đó nhưng không phản đối hay có ý kiến gì.

+ Giấy tờ chứng minh nguồn gốc đất của gia đình bà Bùi Thị C: Ngoài lời trình bày là nối tiếp sử dụng đất từ gia đình thì bà C không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào để chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ. Trong khi toàn bộ khu đất của gia đình bà C sử dụng (chỉ trừ diện tích đất 4,7m2 thuộc thửa 35) còn lại đều thuộc thừa 32, 33 mà ông Dương Văn Đ chuyển nhượng năm 1904.

+ Về kê khai, đóng thuế:

Đối với gia đình bà D: Theo chỉ thị 02/CT-UB đăng ký diện tích đất 1.256m2. Đến năm 1999, theo tờ đăng ký kê khai nhà đất là 874m2 và thực tế sử

dụng theo đo vẽ năm 2015 là 714,9m2 (chưa bao gồm 100,4m2 đang tranh chấp)

Đối với gia đình bà C: Theo chỉ thị 02/CT-UB đăng ký diện tích đất 581m2. Đến năm 1999, theo tờ đăng ký kê khai nhà đất là 815m2 và thực tế sử dụng đo vẽ năm 2015 là 736,7m2 (chưa bao gồm 100,4m2 diện tích đất tranh chấp và phần diện tích đất 105m2 mà ông T đang sử dụng).

Như vậy, phần đất mà bà C thực tế sử dụng là 841,7m2 (736,7m2 + 105m2), nếu bao gồm cả phần đất tranh chấp 100,4m2 thì tổng diện tích đất mà bà C sử dụng là 942,1m2 nhưng bà C trình bày là kể từ khi đăng ký kê khai nhà đất năm 1999 diện tích 815m2 thì bà C sử dụng phần đất theo đúng kê khai và theo thực tế đo vẽ năm 2015 là 837,1m2 (736,7m2 +100,4m2) là không đúng vì đến năm 2003, bà C mới cho ông T phần diện tích đất 105m2 để sử dụng, tách hộ và cấp Giấy chứng nhận. Do vậy, việc Tòa án nhận định bà C đã sử dụng diện tích đất đúng như kê khai vì phần đất mà ông T đang sử dụng các bên không tranh chấp là không phù hợp vì toàn bộ nhà đất ông T không kê khai và đến năm 2003 thì phần đất của ông T mới tách khỏi phần đất của bà C.

+ Về thực trạng sử dụng đất:

Theo bản vẽ sơ đồ để công nhận để công nhận quyền sở hữu nhà năm 1993 do ông Dương văn N2 lập, các “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà, đất” ngày 27/7/1999 của tất cả các hộ giáp ranh với hộ bà dương Thị Mỹ D2 gồm hộ ông Dương Văn H2, ông Dương Văn H4, ông Dương Văn B và cả “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà, đất” ngày 27/7/1999 của hộ bà Bùi Thị C (do ông T ký xác nhận) thì đều thể hiện có một phần đất kéo dài từ mặt tiền đường 15 vào đến nhà 20/7 do gia đình bà D2 sử dụng. Theo các hình ảnh về đám cưới của bà D2 năm 1988 thể hiện có tồn tại lối đi vào phần đất của bà D2. Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức lập ngày 23/12/2019 thì số nhà 20/7 không có con đường hay hẻm đi trực tiếp vào nhà. Như vậy, phần đất có diện tích 100,4m2 mà các bên đang tranh chấp là lối đi duy nhất vào nhà bà D2 từ trước đến nay.

Do đó, có cơ sở xác định phần đất có diện tích 100,4m2 thuộc vị trí số 11 và 12 của bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 thuộc quyền sử dụng của bà Dương Thị Mỹ D nên yêu cầu của bà D về việc buộc gia đình của bà Bùi Thị C phải trả lại phần đất này cho bà là phù hợp, cần phải được chấp nhận.

Vi phạm khác: Tòa án nhận định phần đất tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của bà D nhưng xác định căn nhà số B đường A không có lối đi nên quyết định kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố B2 mở lối đi cho nhà số B Đường A là không đúng. Theo quy định của pháp luật, trường hợp chủ sở hữu bị

vây bọc bởi bất động sản khác mà muốn mở lối đi thì phải thương lượng với các chủ bất động sản liền kề và bồi thường giá trị đất cho họ, nếu không thương lượng được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. Đây là quyền và nghĩa vụ của chủ bất động sản không có lối đi, không thuộc về trách nhiệm của ủy ban nhân dân B2 phải mở lối đi cho người dân.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng sửa bản án sơ thẩm nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về cách giải quyết.

Nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ D có người đại diện theo ủy quyền là bà Trần Hiếu N trình bày: C Đường A, Khu phố A, phường B (trước đây mang số 500 tổ D, ấp T, xã B) thuộc sở hữu của cụ Dương Văn N1 và cụ Trương Thị X. Năm 1993, cụ N1, cụ X chuyển quyền sở hữu lại cho con gái là bà Dương Thị Mỹ D. Hiện trạng nhà đất lúc đó có một lối đi từ nhà ra đường A có chiều ngang 4m, chiều dài khoảng 20 m. Diện tích lối đi này còn được thể hiện tại “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà, đất” ngày 27/7/1999 của hộ bà Bùi Thị C (do ông T là con trai của bà C ký xác nhận). Sau khi được cho, bà D trực tiếp ở và sử dụng lối đi này. Bà D có thực hiện việc kê khai đăng ký và đóng thuế đầy đủ theo quy định. Do đó, bà D đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc bà C phải trả lại phần đất có diện tích 100,4m2 cho bà D.

Bị đơn bà Bùi Thị C có người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị D1 trình bày: Phần diện tích 100,4m2 tranh chấp thể hiện tại Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 nằm hoàn toàn trong Khu II thuộc thửa số 33 (TL299), thửa số 402 (TL1995) và hiện nay thuộc thửa 29 (TL2004) là đất bà C quản lý, sử dụng hợp pháp từ trước đến nay, không thay đổi qua các thời kỳ.

Cụ N1 cất nhà từ năm 1991. Đến năm 1993, cụ N1 cho con là bà Mỹ D, căn nhà có số nhà riêng là 500 (nay là nhà số B Đường A) và có hàng rào tôn, kẽm gai ngăn cách với nhà bà C số 499 (nay là nhà số B, Đường A, Khu phố A, phường B). Từ trước đến nay, nhà bà Mỹ D thường đi ra hẻm B, gồm các nhà 20/1; 20/3; 20/3A; 20/5 và 20/7, hoặc đi ra hẻm trước nhà số A của bà Đặng Hiếu T2. Phía bà C cho rằng “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà, đất” ngày 27/7/1999 không có giá trị vì không phải bà C ký và bà C cũng không ủy quyền cho ai khác ký thay. Do phần diện tích 100,4m² đất tranh chấp thực tế do gia đình bà C quản lý, sử dụng, có kê khai, đăng ký và nộp thuế đầy đủ theo quy định nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Các đương sự cũng được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên kháng nghị theo Quyết định kháng nghị số 559/QĐKNPT-VKS-DS ngày 06/10/2023 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng nghị và sửa bản án sơ thẩm.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ D và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức về việc yêu cầu bà Bùi Thị C trả lại phần đất có diện tích 100,4 m² tại vị trí ô số (11), (12) Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cho bà Dương Thị Mỹ D, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thì diện tích 100,4 m² lối đi (đang tranh chấp) nằm giữa đất nhà bà Bùi Thị C (số D nay là số 26) và nhà ông Dương Văn H2 (số E nay là số B). Bà D trình bày cho rằng đất này là thuộc quyền sử dụng của cụ Dương Văn N1 và cụ Trương Thị X (cha mẹ bà D) cho bà Dương Thị Mỹ D sử dụng, hiện trạng lúc đó có lối đi từ nhà ra Đường số A có chiều ngang 4 m và chiều dài 20 m nên bà D yêu cầu bà C trả lại diện tích lối đi này cho bà D.

Xét về nguồn gốc đất: Căn cứ trích sao sổ địa bộ số 1154/TS-TTĐK; 1155/TS-TTĐK ngày 06/7/2005 (Bút lục số 132, 133) do bà Bùi Thị C cung cấp và trích sao sổ địa bộ số 2462/TS-TTĐK; 2463/TS-TTĐK cùng ngày 29/12/2004 (Bút lục số 109, 110) do Tòa án thu thập thì nguồn gốc đất đang tranh chấp là của ông Dương Văn Đ (ông nội của bà Dương Thị Mỹ D) đứng bộ theo chứng thư chuyển nhượng số 1213, trước bạ tại Gia Định ngày 23/6/1904, phần đất này bao gồm lô 32 và lô 33, tờ bản đồ số 2, xã B, huyện T cũ, cộng chung có diện tích 35.960 m² gồm đất thổ cư và đất ruộng lúa.

Xét về quá trình kê khai đăng ký, thực tế sử dụng đất: Căn cứ công văn số

7339/UBND ngày 01/12/2022 của Ủy ban nhân dân phường B2 (Bút lục 1402) trả lời xác minh, quá trình kê khai đăng ký sử dụng đất đối với phần diện tích đất 100,4 m² thuộc ô số (11), (12) Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H như sau:

  • - Theo tài liệu 299/TTg phần diện tích đất 100,4 m² đang tranh chấp thuộc một phần thửa số 33, tờ bản đồ thứ 1 (Bộ Đ2, xã B, huyện T). Theo tài liệu Sổ đăng ký ruộng đất lập tại xã B ngày 27/5/1986 không có thông tin người đăng ký sử dụng.
  • - Theo tài liệu năm 1995: phần diện tích đất 100,4 m² đang tranh chấp thuộc một phần thửa số 402 (theo sổ theo dõi tình hình đất đai do bà Bùi Thị C sử dụng, với diện tích đất thổ vườn 581 m²), 403 (theo sổ theo dõi tình hình đất đai do ông Dương Văn H2 sử dụng, với diện tích đất thổ vườn 548 m²), 441 (theo sổ theo dõi tình hình đất đai do bà Dương Thị Mỹ D sử dụng, với diện tích đất thổ vườn 1.107 m²) và đường (b), tờ bản đồ thứ 1 (Bộ Đ2, xã B, huyện T, thành phố Hồ Chí Minh).
  • - Theo tài liệu năm 2004: phần diện tích đất 100,4 m² đang tranh chấp thuộc một phần thửa số 29 (do bà Bùi Thị C sử dụng), 45 (do bà Dương Thị Mỹ D), 46 (do ông Dương Văn B sử dụng) và đường (b), tờ bản đồ số 4, phường B, quận B (nay thuộc thành phố T).”

Như vậy, với các tài liệu kê khai này chưa đủ cơ sở để xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà D hay của bà C.

Xét, tại “Giấy phép công nhận quyền sở hữu nhà” ngày 02/4/1993 (Bút lục 49) và “Tờ trình” ngày 12/02/1993 (Bút lục 89) thể hiện bà D được cha mẹ là cụ Dương Văn N1 và cụ Trương Thị X cho căn nhà mang số 500 diện tích 78,12 m² trên khuôn viên thổ cư, có vị trí tiếp giáp với nhà số 511 của ông Mai Văn N3 và số 510 của bà Phạm Thị B1 nhưng không thể hiện có diện tích lối đi và diện tích khuôn viên đất là bao nhiêu. Theo “Trích lục bản đồ giải thửa 299/TTg” có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B2 ngày 03/6/1991 (Bút lục 52) và “Họa đồ vị trí” căn nhà số E của cụ Dương Văn N1 đăng ký sử dụng năm 1982 (Bút lục 139) thì diện tích toàn khuôn viên là 648,70 m². Đối chiếu với nội dung Công văn số 7417/TTĐK-KT ngày 16/3/2007 của Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H (Bút lục 526, 527) và hồ sơ kỹ thuật thửa đất thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cung cấp thì bà D đang sử dụng 715,2 m² đất tại thửa số 45 là nhiều hơn diện tích toàn khuôn viên nhà đất cụ N1 cho bà D năm 1993. Tuy nhiên, căn cứ theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện diện tích đất sử dụng của bà D có khuôn viên ranh đất riêng biệt được rào tôn và kẽm gai từ những năm 1991 khi cụ N1 làm giấy tờ cho con và tới bây giờ

ranh giới đó vẫn còn giữ nguyên không thay đổi. Theo Bản đồ hiện trạng ngày 19/11/2015 thì thực tế bà D đang sử dụng diện tích đất là 714,9 m2 cộng với diện tích tranh chấp thuộc thửa 45 là 0,2 m² (do bà Dương Thị Mỹ D sử dụng) tổng cộng là 715,1 m². Như vậy, diện tích đất bà D đang sử dụng phù hợp với hiện trạng thực tế của khu đất được cha mẹ cho.

Trong khi về phía bà C, theo Giấy phép xây dựng số 400/GPXD ngày 23/9/2004 của Ủy ban nhân dân Quận B2 (Bút lục 1275) cấp cho bà Bùi Thị C xây dựng nhà ở trên phần đất gồm: Một phần của các thửa 402, 441, 445, 446, T, phường B kèm theo Bản đồ hiện trạng vị trí số 851/ĐĐBĐ-Q2 ngày 01/3/2002 của Đoàn đo đạc bản đồ thể hiện diện tích bà C thực tế sử dụng 829,5 m², bản đồ này được thực hiện trước khi bà Dương Thị Mỹ D khởi kiện bà C nên hiện trạng được vẽ hoàn toàn khách quan, đúng thực tế.

Theo Công văn số 7417/TTĐK-KT ngày 16/3/2007 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H (Bút lục 526, 527) và hồ sơ kỹ thuật thửa đất do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cung cấp thì bà C đang sử dụng 833,4 m² đất tại thửa số 29. Thực tế theo Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 thì bà C đang sử dụng diện tích đất là 736,7 m², ít hơn 96,7 m². Cộng với diện tích tranh chấp thuộc thửa 29 là 96,9 m² (do bà Bùi Thị C sử dụng) là 833,4 m² cho thấy có sự phù hợp về diện tích thực tế sử dụng của bà Bùi Thị C.

Việc nguyên đơn cho rằng diện tích đất ông Dương Chí T đang sử dụng cũng là diện tích đất của bà C. Tuy nhiên, tài liệu có trong hồ sơ cho thấy, phần đất ông T sử dụng thì ông T đã đăng ký kê khai vào năm 1999 và ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất vào ngày 10/02/2004 là trước thời điểm Đ1 đo đạc bản đồ thực hiện đo vẽ để Ủy ban nhân dân Quận B2 cấp Giấy phép xây dựng xác định diện tích sử dụng của bà C. Do đó, phần diện tích do ông T sử dụng là không liên quan đến phần đất bà C sử dụng.

Bên cạnh đó, bà D cho rằng theo “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà đất” ngày 27 tháng 7 năm 1999 của bà C (Số nhà D) có hình vẽ con đường vào nhà của bà D và dòng chữ “H3 đi nhà 500” và trong Bảng lân cận tiếp giáp có ghi: “Bên hông, 500, Dương Thị Mỹ D, H3 đi nhà 500, Mốc ranh giới (Bụi tre)” và chữ ký của các bên liên quan rất rõ ràng. “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà đất” năm 1999, các hộ gia đình các ông Dương Văn H2 (số nhà E), Dương Văn B (số nhà E), Dương Văn H4 (số nhà E) đều có hình vẽ và chữ viết xác nhận con đường đi của nhà bà D là nằm phía sau nhà của các ông. Tuy nhiên, bà C không thừa nhận chữ ký tên “Cải” tại “Giấy thỏa thuận về việc xác định ranh giới nhà, đất” ngày 07/8/1999 và ngày 27/7/1999. Tòa án đã trưng cầu giám định chữ ký của bà C tại các tài liệu trên và xác định được chữ

ký trên đó không phải là của bà C nên không thể căn cứ vào tài liệu này để cho rằng bà C có xác định lối đi với bà D được.

Đối với vấn đề bà D nêu ra là theo “Họa đồ hợp thức hóa nhà” ngày 11/6/1991 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã B2, huyện T (Bút lục 340) thể hiện: Nhà số 500 ấp T, xã B, huyện T của cụ Dương Văn N1 có lối đi (đứng từ trong nhìn ra đường A) tiếp giáp phía bên phải là nhà số 499 của bà Bùi Thị C và bên trái là nhà đất của ông Dương Văn H2. Xét thấy, lối đi được vẽ có chiều ngang 4 m nhìn thẳng ra đường 15 nhưng thực tế hiện trạng trên đất tranh chấp (lối đi) có bụi tre và hàng dừa lâu năm. Theo xác minh thì bụi tre đã tồn tại trên đất từ năm 1930 do cha mẹ (bên chồng) bà C trồng và bà C tiếp tục quản lý sử dụng sau này, nên tại đây không thể có đường đi 4m thẳng, thông thoáng như bản vẽ thể hiện được. Như vậy, việc vẽ lối đi trên họa đồ là không đúng thực tế, trong khi bản vẽ lối đi này lại không có chữ ký xác nhận của bà C nên không có giá trị để xác định đất tranh chấp là lối đi của gia đình bà D.

Mặt khác, để phục vụ cho công tác quản lý của nhà nước, Ủy ban nhân dân Quận B2 đã ban hành Quyết định đổi số nhà số 4849/QĐ-UB-QLĐT ngày 22/8/2001 đổi số nhà mới là 20/7 đường A, khu phố A, phường B cho số nhà cũ là 500. Theo quy chế về cấp số nhà thì nhà trong hẻm chính được cho số là số hẻm và số nhà, giữa hai số có một gạch chéo. Từ đường 15 vào hẻm B sau các hộ của gia đình ông H2 lần lượt mang số 20/1, 20/3, 20/5 đến nhà bà D mang số 20/7. Như vậy, hẻm 20 mới là lối đi ra đường 15 của nhà bà D như chính số nhà bà D thể hiện. Còn nhà của bà C mang số 26 đường A (không có hẻm). Điều này cho thấy, nhà bà D không có lối đi trên 100,4 m² đang tranh chấp.

Như vậy, việc bà D trình bày bên hông căn nhà của bà có ghi chú hẻm nhưng cho đến thời điểm này không có văn bản nào xác định có con hẻm tồn tại, phần đất tranh chấp lại không nằm trong khuôn viên đất của cụ N1 quản lý. Trong khi diện tích bà C sử dụng được đo đạc cộng với phần đất đang tranh chấp lại đúng bằng diện tích bà C đăng ký kê khai. Do đó, không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bà D và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức buộc bà C trả cho bà D 100,4 m² đất tranh chấp nêu trên.

Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ D về việc Tòa cấp sơ thẩm kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố B2 mở lối đi cho nhà số B Đường A, nhận thấy: Căn cứ theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 15/10/2019 và ngày 23/12/2019 của Tòa án nhân dân Quận 2 (nay là thành phố T) thì hiện không có con đường nào tiếp giáp với nhà bà D. Trong khi, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện, theo quy hoạch của cơ quan Nhà nước thì nhà của bà D mang số 20/7 tức sử dụng lối đi hẻm B đường

số A. Bản án sơ thẩm nhận định rằng, lối đi hẻm B là lối đi thuận tiện và hợp lý nhất nên đã kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố B2 mở lối đi này cho nhà 20/7 của bà D. Việc kiến nghị của Tòa cấp sơ thẩm là chưa chính xác vì Tòa án chỉ giải quyết trên cơ sở có yêu cầu của đương sự và sẽ quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu đó căn cứ vào quy định của pháp luật. Trong vụ án này, bà D tranh chấp quyền sử dụng đất với bà C và cho rằng diện tích đó gia đình bà D dùng làm lối đi để vào nhà, ngoài ra không có yêu cầu gì khác. Như vậy, việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm là vượt quá yêu cầu của bà D và không cần thiết. Do đó, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và kháng cáo của bà D đối với nội dung này, hủy phần quyết định của bản án sơ thẩm về việc kiến nghị Ủy ban nhân dân thành phố B2 mở lối đi cho nhà B Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T.

Từ sự phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ D; Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, sửa Bản án sơ thẩm như đã phân tích.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên bà D không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 2 Điều 148, Khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Căn cứ Điều 158, Khoản 2 Điều 164 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 5, Điều 6, Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013.

Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Dương Thị Mỹ D.

Chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử: Sửa Bản án sơ thẩm

1. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Dương Thị Mỹ D về việc yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị C trả lại diện tích 100,4 m² thuộc ô số (11), (12) Bản đồ hiện trạng vị trí ngày 19/11/2015 của Trung tâm Đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H để bà D làm lối đi của căn nhà số B Đường A, Khu phố A, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự không phải chịu án phí. H5 lại cho bà Dương Thị Mỹ D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 41.100.000 (Bốn mươi mốt triệu một trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số

AA/2017/0016574 ngày 24/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 2.

Về chi phí tố tụng: Chi phí giám định, định giá, xem xét, thẩm định tại chỗ các đương sự tự nguyện chịu. Các đương sự đã nộp đủ.

3. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Dương Thị Mỹ D không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - TAND thành phố Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 640/2024/DS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi

  • Số bản án: 640/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp lối đi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger