Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 640/2024/DS-PT

Ngày: 15 - 8 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất và

Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Tấn

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đắc Minh

Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú

Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao

tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân: Ông Trần Đăng Ry, Kiểm sát viên cao

cấp Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 15/8/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 484/2024/TLPT-DS ngày 25/6/2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa các bên đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Châu Vĩnh L, sinh năm 1964; Địa chỉ: số D, đường N, khóm F, phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  • - Bị đơn: Bà Tạ Minh P, sinh năm 1953; Địa chỉ: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S. Địa chỉ: số A, đường H, Phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
    2. Bà Bùi Thị V, sinh năm 1966. Địa chỉ: Số D đường N, Khóm F, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
    3. Bà Tạ Thị H, sinh năm 1955. Địa chỉ: ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  • - Người kháng cáo: Bà Tạ Minh P.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn và lời khai của phía nguyên đơn ông Châu Vĩnh L trình bày:

Vào ngày 16/9/2020, ông Châu Vĩnh L có mua 01 thửa đất của bà Tạ Thị H diện tích 69,5m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, bà H được Ủy ban nhân dân huyện M cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/10/2019. Sau đó, đã chuyển quyền sử dụng đất qua tên vợ chồng ông Châu Vĩnh L và bà Bùi Thị V do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 03/11/2020.

Đến năm 2022, bà Tạ Minh P (chị họ bà Tạ Thị H) ngang nhiên cắm 04 cột xi măng trước mặt tiền đất của ông L. Ông L có gửi đơn đến Ban N yêu cầu giải quyết tranh chấp, ấp hòa giải không thành, bà P tiếp tục rào chắn thêm hàng rào tre trên phần đất của ông L. Đến ngày 22/4/2022, Ủy ban nhân dân thị trấn M hòa giải nhưng không thành. Ngày 28/4/2022, ông L có đến tháo lớp rào tre thì bà P ngăn cản.

Nay ông Châu Vĩnh L yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bà Tạ Minh P tháo dỡ hàng rào tre, cọc xi măng để trả lại phần đất diện tích 69,5m² (Chiều ngang mặt tiền 5,75m, chiều dài 12,94m) thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng của ông Châu Vĩnh L được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp ngày 03/11/2020.

Theo đơn và lời khai của phía bị đơn bà Tạ Minh P trình bày:

Phần đất tính từ nhà bà H1 trở qua phần đất trống khoảng 4m, dài 6m (đất tranh chấp) có nguồn gốc của ông Hai B, sau đó bà mới sang lại của ông Hai B vào năm 1980. Kế tiếp phía sau phần đất này là phần đất của ông bà khai phá, trên đất có ngôi mộ của ông Hồ Tấn P1 được chôn cất trước tiếp thu (năm 1975).

Đến sau năm 1990 thì con trai của ông P1 đến bốc mộ đi. Sau khi bốc mộ ông P1 đi thì do đất của ông bà nên bà tiếp tục vào quản lý phần đất này. Bà mua đất của ông Hai B không có giấy tờ gì, chỉ nói miệng, vì khi đó ông B mua hàng của bà nợ thì tự ông B lấy đất này để cấn trừ nợ, nên cũng không biết bao nhiêu tiền chuyển nhượng đất này. Bà thấy ông B sử dụng đất này, nên bà mới hỏi nhận chuyển nhượng đất từ ông B. Phần đất này dùng vào việc chôn cất người thân trong thân tộc, kể cả bà H khi trăm tuổi cũng có thể vào đây chôn cất.

Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và bà yêu cầu giải quyết: Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 762400 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Châu Vĩnh L và bà Bùi Thị V đối với phần đất diện tích 69,5m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Tạ Thị H trình bày:

Bà đồng ý với yêu cầu nêu trên của ông L. Vì nguồn gốc đất này của gia đình ông Hồ Chí B1, vào năm 1970 trên đất này có mộ của ông Hồ Tấn P1 (cha của ông B1), sau đó ông B1 bốc mộ đi. Đến năm 2003, ông B1 mới chuyển nhượng lại phần đất này cho bà, giá 500.000đồng, khi chuyển nhượng có làm giấy tay. Đến khoảng năm 2019 bà mới đi đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên và được UBND huyện M cấp Giấy chứng nhận cho bà tại thửa 111 vào ngày 03/10/2019.

Khi nhận chuyển nhượng phần đất nêu trên thì có cấm trụ ranh rõ ràng. Đến khoảng năm 2020, thì bà mới chuyển nhượng phần đất nêu trên cho ông L. Bà chuyển nhượng phần đất này cho ông L với giá là 80.000.000đồng theo hợp đồng, ông L đã giao tiền cho bà và bà cũng đã giao đất cho ông L.

Trước khi nhận chuyển nhượng đất ông có dẫn ông L đến xem xét phần đất này và khi chuyển nhượng cũng không có ai ra ngăn cản. Sau đó, ông L đi đăng ký xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đã được Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy chứng nhận theo quy định. Trong quá trình từ khi bà mua phần đất này vào năm 2003 cho đến khi chuyển nhượng lại cho ông L thì phần đất này không có tranh chấp với ai hết.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Châu Vĩnh L.
  2. Buộc bị đơn bà Tạ Minh P tháo dỡ hàng rào tre, 04 trụ bê tông để trả lại phần đất diện tích 69,5m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cho ông Châu Vĩnh L. Phần đất có số đo và tứ cận như sau:

    Hướng Đông – Bắc giáp phần đất nhà của bà H1, phần còn lại của bà P, có số đo 7,97m + 4.97m; Hướng T - Nam giáp đất bà Tạ Minh P (thửa 52), có số đo 7,98m + 4,97m; H - Nam giáp giáp lề Huyện lộ 14 (đường H), có số đo 5,75m; Hướng Tây - Bắc giáp đất bà Tạ Minh P, có số đo 5,01m. (Có sơ đồ hiện trạng thửa kèm theo).

  3. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Tạ Minh P về việc hủy Hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CX 762400, ngày 03/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Châu Vĩnh L và bà Bùi Thị V đối với phần đất diện tích 69,5m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, phần đất có số đo và tứ cận như sau:
  4. Hướng Đông – Bắc giáp phần đất nhà của bà H1, phần còn lại của bà P, có số đo 7,97m + 4.97m; Hướng Tây - Nam giáp phần đất của bà Tạ Minh P thửa 52, có số đo 7,98m + 4,97m; H - Nam giáp phần lề huyện lộ 14 (đường H), có số đo 5,75m; Hướng Tây - Bắc giáp đất bà Tạ Minh P, có số đo 5,01m. (Có sơ đồ hiện trạng thửa kèm theo).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 10/5/2024, bà Tạ Minh P làm đơn kháng cáo, nêu lý do:

Bản án sơ thẩm không thỏa đáng gây thiệt thòi quyền lợi của bà, xin Tòa án cấp phúc thẩm xử lại không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Phía bị đơn bà Tạ Minh P vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Đề nghị chấp nhận yêu cầu là hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho phía ông L.

Phía nguyên đơn thì cho rằng, bà P không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh quyền sử đất trên là của bà. Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đúng, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng, quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Những người tham gia phiên tòa cũng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định. Về nội dung giải quyết kháng cáo của đương sự, Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bà Tạ Minh P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. [1] Về thủ tục kháng cáo:
  2. Đơn kháng cáo của bà Tạ Minh P làm trong hạn luật định, nên thủ tục kháng cáo hợp lệ.

  3. [2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo:
  4. [2.1] Diện tích đất tranh chấp theo các bên không thống nhất, phía nguyên đơn thì xác định là 69,5m², còn phía bị đơn thì xác định là 59,8m². Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định theo diện tích phía nguyên đơn theo đo đạc thực tế 69,5m², là có cơ sở.

    Nguồn gốc diện tích đất này được xác định là của ông Hồ Chí B1, thể hiện vào năm 1970 cha của ông B1 là ông Hồ Tấn P1 chết, gia đình có mua một phần đất tại đường Ấ, xã T, ấp C thị trấn M để làm nơi chôn cất.

    Đến năm 2002, gia đình ông B1 đã bốc cốt cha ông đi về Sóc Trăng để chôn cất. Sau đó, năm 2003, ông B1 đã chuyển nhượng phần đất này lại cho bà Tạ Thị H.

    Sau khi nhận chuyển nhượng, năm 2019, bà H đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 2020 bà mới chuyển nhượng phần đất nêu trên cho phía ông L. Sau đó, ông L được cấp chuyển tên theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất như đã nêu trên.

    Theo hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện bà Tạ Thị H có giấy chứng nhận được cấp năm 2003 do ông Hồ Chí B1 chuyển nhượng. Do vậy, Ủy ban nhân dân huyện M đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà H trên cơ sở không phải là đất mồ mả là đúng với trình tự, thủ tục, đúng với nội dung và phù hợp với quy định của pháp luật.

    Bà Tạ Minh P cho rằng, nguồn gốc đất này là của ông Hai B, sau đó bà mới nhận sang nhượng của ông Hai B vào năm 1980 và tiếp sau phần đất này là phần đất do gia đình bà khai phá. Trên phần đất tranh chấp này có ngôi mộ ông P1 được chôn cất trước năm 1975 nhưng bà không có chứng cứ gì để chứng minh có việc mua bán cho ông Hai B. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu của bà và chấp nhận yêu cầu của phía ông L là phù hợp.

    [2.2] Tại cấp phúc thẩm, bà P kháng cáo nhưng cũng không đưa ra được những tài liệu, chứng cứ gì mới để chứng minh về nguồn gốc và quyền sử dụng đất hợp pháp của bà. Do đó, không có cơ sở để cấp phúc thẩm chấp nhận.

  5. [3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
  6. [4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo luật định. Bà P là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí theo luật định.

Bởi các lẽ trên;

Căn cứ Điều 308 Bộ Luật tố tụng Dân sự 2015.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Tạ Minh P. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 147, Điều 157, Điều 165, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Bộ Luật tố tụng Dân sự. Áp dụng Điều 32 Luật tố tụng Hành chính, Áp dụng Điều 100, Điều 166 Luật Đất đai năm 2013; Áp dụng Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Châu Vĩnh L.
  2. Buộc bị đơn bà Tạ Minh P tháo dỡ hàng rào tre, 04 trụ bê tông để trả lại phần đất diện tích 69,5m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng cho ông Châu Vĩnh L. Phần đất có số đo và tứ cận như sau:

    Hướng Đông Bắcphần đất nhà của bà H1, phần còn lại của bà P, có số đo 7,97m + 4.97m; Hướng TâyNamđất bà Tạ Minh P (thửa 52), có số đo 7,98m + 4,97m; Hướng ĐôngNamgiáp lề Huyện14 (đường H), có số đo 5,75m; Hướng TâyBắcgiáp đất bà Tạ Minh P, có số đo 5,01m. (Có sơ đồ hiện trạng thửa kèm theo).

  3. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn bà Tạ Minh P về việc hủy Hủy bỏ Giấynhận quyền sử dụng đất số CX 762400, ngày 03/11/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Châu Vĩnh L và bà Bùi Thị V đối với phần đất diện tích 69,5m² thuộc thửa 111, tờ bản đồ số 81, tọa lạc tại ấp C, thị trấn M, huyện M, tỉnh Sóc Trăng, phầnđất có số đo và tứ cận như sau:
  4. Hướng Đông Bắcphần đất nhà của bà H1, phần còn lại của bà P, có số đo 7,97m + 4.97m; Hướng TâyNamphần đất của bà Tạ Minh P thửa 52, có số đo 7,98m + 4,97m; Hướng ĐôngNamphần lề huyện lộ 14 (đường H), có số đo 5,75m; Hướng Tây Bắcgiáp đất bà Tạ Minh P, có số đo 5,01m. (Có sơ đồ hiện trạng thửa kèm theo).

  5. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật.
  6. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà P được miễn nộp án phí dân sự phúc thẩm.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao.
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM.
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sóc Trăng.
  • - Các đương sự (Để thi hành).
  • - Lưu văn phòng; hồ sơ vụ án, TPQ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ HOÀNG TẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 640/2024/DS-PT ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 640/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger