Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN LỨC

TỈNH LONG AN

Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31- 7 - 2024

V/v tranh chấp “Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Cao
  2. Ông Phạm văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Lại Thị Anh Thư – là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Lức tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 160/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị T, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

Bị đơn: Ông Lê Minh T1, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An.

(Bà T có đơn xin vắng mặt, ông T1 vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 09 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Năm 2005, bà Lê Thị T và ông Lê Minh T1 xác lập quan hệ hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An ngày 03/6/2005. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, bà và ông Lê Minh T1 đã ly thân từ ngày 15/5/2024 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể tiếp tục, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 02 con chung tên Lê Vân A, sinh ngày 28/10/2011 và Lê Minh H, sinh ngày 04/12/2014. Hiện bà đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu A và cháu H, khi ly hôn bà yêu cầu được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị T xác định không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Lê Minh T1 đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và các văn bản tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

Tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp cho Tòa án gồm: 01 Giấy chứng nhận kết hôn (bản sao); 02 Trích lục khai sinh (bản sao); 01 Căn cước công dân (bản photo).

Cháu Lê Vân A và cháu Lê Minh H có ý kiến trong trường hợp cha mẹ ly hôn thì có nguyện vọng được sống với mẹ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ các kết quả xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

[1]. Nguyên đơn khởi kiện bị đơn có địa chỉ tại ấp F, xã T, huyện B, tỉnh Long An về việc tranh chấp “Ly hôn”. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên thẩm quyền giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Bến Lức.

[2]. Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn xin vắng mặt; Bị đơn ông Lê Minh T1 đã được Tòa án thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia vụ án nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định pháp luật.

Về nội dung tranh chấp:

[3]. Bà Lê Thị T và ông Lê Minh T1 xác lập quan hệ vợ chồng và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện B, tỉnh Long An ngày 03/6/2005 theo quy định pháp luật. Căn vào khoản 1 Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì quan hệ hôn nhân giữa bà Lê Thị T và ông Lê Minh T1 hợp pháp kể từ thời điểm đăng ký kết hôn.

[4]. Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử xét thấy các đương sự kết hôn trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng đã có thời gian chung sống nhưng không đảm bảo hạnh phúc. Trong quá trình nộp đơn khởi kiện, bà T cho rằng giữa bà T và ông T1 đã phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau, bà T và ông T1 đã ly thân từ ngày 15/5/2024 đến nay. Tuy nhiên, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã cho bà T và ông T1 thời gian để đoàn tụ nhưng ông T1 không có bất kỳ ý kiến gì về việc yêu cầu ly hôn của bà T mà vẫn vắng mặt không có lý do. Xét thấy, việc đoàn tụ giữa các đương sự không có kết quả nên Hội đồng xét xử xác định mâu thuẫn giữa bà T và ông T1 đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cho bà Lê Thị T được ly hôn với ông Lê Minh T1.

[5]. Về nuôi con chung: Theo lời trình bày của bà Lê Thị T cùng các chứng do bà Lê Thị T cung cấp thì bà T và ông T1 có 02 con chung tên Lê Vân A, sinh ngày 28/10/2011 và cháu Lê Minh H, sinh ngày 04/12/2014. Xét thấy, hiện cháu A và cháu H đang sống cùng bà T, cuộc sống đã ổn định. Hơn nữa cháu A và cháu H có nguyện vọng là muốn sống cùng với mẹ sau khi cha mẹ ly hôn. Do đó, để đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu A và cháu H nên giao cháu A và cháu H cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 81, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên ông T1 không phải cấp dưỡng nuôi con và ông T1 có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung theo quy định pháp luật.

[6]. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T trình bày không tranh chấp về tài sản chung và xác định vợ chồng không có nợ chung. Ông T1 vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến về vấn đề này nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Về án phí: Căn cứ vào Diều 147 Bộ Luật tống tụng dân sự và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Lê Thị T đối với ông Lê Minh T1.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị T được ly hôn với ông Lê Minh T1.
  2. Về con chung: Bà Lê Thị T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng 02 con chung tên Lê Vân A, sinh ngày 28/10/2011 và Lê Minh H, sinh ngày 04/12/2014. Ông Lê Minh T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con không ai được cản trở. Vì lợi ích của con theo yêu cầu của một bên hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức đóng góp phí tổn nuôi con.

Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con, thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Bà Lê Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0007351 ngày 13/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bến Lức, tỉnh Long An sang án phí. Bà Lê Thị T đã nộp đủ án phí.
  2. Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện Bến Lức;
  • - UBND xã Thạnh Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Bến Lức;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đặng Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN về ly hôn

  • Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Thiện "Ly hôn" Lê Minh Toại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger