Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 64/2024/HS-ST

Ngày: 31 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đình Đậu
  • Ông Đỗ Minh
  • - Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/HSST ngày 08 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:71/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Hoài A, sinh ngày 17/4/1985;

Nơi ĐKHKTT: Tổ 4b, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi tạm trú và chỗ ở: Tổ A, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh T, sinh năm 1956 và bà Phạm Thị L, sinh năm 1961; Vợ: Hạ Thị Diệu T1, sinh năm 1991, hiện xuất khẩu lao động tại Nhật Bản và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2021.

Tiền án: Không

Tiền sự: Tại Quyết định số 65/QĐ-UBP ngày 27/9/2023 của Ủy ban nhân dân phường B. Ngày 27/9/2023, UBND phường B, thành phố V ra quyết định số: 65/QĐ – UBP áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; thời hạn 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chấp hành xong ngày 27/12/2023.

Nhân thân: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 05/11/2003, Công an thành phố V đã xử phạt vi phạm hành chính số tiền là 100.000.đ đối với Lê Hoài A về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 06/01/2003, Lê Hoài A đã nộp phạt xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 29/01/2024 đến ngày 01/02/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh P.

(Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 10 phút, ngày 29/01/2024, tại Tổ A, phố V, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an thành phố V kiểm tra phát hiện Lê Hoài A, sinh năm 1985, HKTT: Tổ 4b, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Tổ A, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, Anh tự giác giao nộp từ túi áo bên phải đang mặc 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu vàng có hoa văn và chữ, mặt trong màu trắng, bên trong đều có chứa chất bột cục màu trắng. Lê Hoài A khai nhận đây là ma túy Heroine, tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Công an thành phố V tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hoài A, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Hoài A; kết quả: Anh dương tính với chất ma túy.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh P giám định chất bột cục màu trắng bên trong 01 gói giấy thu giữ của Lê Hoài A.

Tại Bản kết luận giám định số 210/KL-KTHS ngày 01/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 (một) gói giấy mặt ngoài màu vàng có hoa văn và chữ, mặt trong màu trắng, gửi đến giám định là ma túy; có khối lượng là : 0,118 gam; loại Heroine ( H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Heroin (hay Heroine) là chất ma túy nằm trong Danh mục IA, số thứ tự 09, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ”.

H lại 0,083 gam chất bột, cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đã được niêm phong.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Lê Hoài A khai nhận: Khoảng hơn 12 giờ ngày 29/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy Lê Hoài A một mình đi xe khách xuống khu vực ngã ba phường Đ, thuộc thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Anh gặp một người đàn ông khoảng 50 tuổi, tên là T2, không biết địa chỉ ở đâu, Anh hỏi mua được của người này 01 gói ma tuý có đặc điểm là 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng có hoa văn và chữ, mặt trong màu trắng là ma túy heroine với giá 250.000 đồng. Anh cầm gói ma túy vừa mua được đi bộ đến bãi đất trống gần đó, mở gói ma túy ra, tách lấy một phần sử dụng cho bản thân bằng hình thức tiêm chích, phần còn lại Anh gói lại như cũ rồi cất vào túi áo khoác bên phải đang mặc. Sau đó, Anh bắt xe khách đi về đến thành phố V thì xuống xe và đi bộ ở khu vực phố V, phường B, thành phố V thì bị tổ công tác Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố V phát hiện, kiểm tra và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về vật chứng, tài sản bị thu giữ, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã làm rõ: 01 túi niêm phong dán kín của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,083 ma túy Heroine là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định. (Toàn bộ vật chứng đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo Quyết định chuyển vật chứng, biên bản giao nhận vật chứng).

Tại bản Cáo trạng số: 62/CT-VKS -VT ngày 08/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Lê Hoài A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Hoài A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
  • Về hình phạt: Bị cáo Lê Hoài A từ 14 tháng đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 29/01/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  • Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 210/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,083 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
  • - Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Hoài A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận gì và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên Cơ quan điều tra - Công an thành phố V; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lê Hoài A đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 14 giờ 10 phút, ngày 29/01/2024, tại Tổ A, phố V, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Lê Hoài A, sinh năm 1985, HKTT: Tổ 4b, phố S, phường T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nơi tạm trú và chỗ ở hiện tại: Tổ A, phố H, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,118 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Lê Hoài A đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ Luật hình sự.

Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Hêrôin, côcain, Methamphetamine, A1, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Do vậy, Quyết định truy tố bị cáo Lê Hoài A của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, đã xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng các chất ma túy; gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; là tiền đề phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình gây ra.

[4]. Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, đã nhiều lần bị cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, tính đến ngày phạm tội có 01 tiền sự.

[5]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ Luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trên cơ sở phục vụ công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm và tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành người công dân có ích cho xã hội, nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung tội phạm.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề, hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần tài sản. Kết quả xác minh cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

- Số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy;

[9]. Các vấn đề khác trong vụ án:

Đối với người đàn ông bán ma túy cho Lê Hoài A ngày 29/01/2024, do A chỉ biết tên T2, khoảng 50 tuổi, không xác định được địa chỉ cụ thể ngoài lời khai của T2, không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan điều tra không xác định được và không đề cập xử lý là đúng quy định pháp luật.

[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

  1. Tuyên bố bị cáo: Lê Hoài A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Hoài A 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ là ngày 29/01/2024.
  3. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
  5. Tịch thu để tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 210/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,083 gam ma túy Heroine còn lại sau giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.
  6. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 10/5/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
  7. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Buộc bị cáo Lê Hoài A phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - VKS ND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKS ND thành phố Việt Trì;
  • - Công an thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Thọ; Lưu HSVA; VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/HS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 64/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Hoài A phạm tội tàng trữ trái phép ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger