Hệ thống pháp luật

8TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

Bản án số: 64/2024/DS-ST

Ngày: 31/5/2024

V/v "tranh chấp về thừa kế tài sản”

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thanh Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: ông Đặng Văn Tâm, bà Đào Thị Thu Vân

- Thư ký phiên tòa: ông Quách Thuận An, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Đoàn Thụy Thùy Trang, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 377/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:

    Bà Ngô Thị T, sinh năm 1965, cư trú: số C, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

    Bà Ngô Thị H, sinh năm 1960, cư trú: số D, tổ A, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

    Bà Ngô Thúy P, sinh năm 1973, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

  2. Bị đơn: ông Ngô Văn D, sinh năm 1976, cư trú: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, địa chỉ: khóm L, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

    Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1937, cư trú: tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

    Ông Ngô Văn H1, sinh năm 1957, cư trú: tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

    Bà Ngô Thị L, sinh năm 1969, cư trú: ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

    Ông Ngô Văn L1, sinh năm 1971, cư trú: tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

    Bà Nguyễn Thị Bé H2, sinh năm 1974, cư trú: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

    Anh Ngô Nhựt N, sinh năm 1999, cư trú: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

    Anh Ngô Hữu N1, sinh năm 2005, cư trú: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt).

    Bà Vũ Thị C (Bích C1), sinh năm 1976, cư trú: số E, tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

    Bà Trần Thị Kim T2, sinh năm 1971, cư trú: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 26/10/2023, các nguyên đơn bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thúy P cùng trình bày:

Cha mẹ của bà T, H, P là cụ ông Ngô Văn T3 (đã chết vào năm 1995) và cụ bà Nguyễn Thị T1 có sinh 07 người con gồm: Ngô Văn H1, Ngô Thị H, Ngô Thị T, Ngô Thị L, Ngô Văn L1, Ngô Thúy P và Ngô Văn D. Cụ T3, cụ T1 được thừa hưởng từ ông, bà của cụ T3, cụ T1 quyền sử dụng đất diện tích đất khoảng 400m², tọa lạc xã L, huyện C, tỉnh An Giang và đã quản lý, sử dụng đất từ trước năm 1975. Vợ chồng ông H1, vợ chồng ông L1 và vợ chồng ông D sinh sống gần gũi với cụ T3, cụ T1. Do nhu cầu sử dụng đất nên cụ T3, cụ T1 chỉ chỗ để ông D cất nhà riêng để ở vào năm 1993, chứ không chia đất cho bất kỳ người con nào. Vào năm 1993 ông D cất căn nhà, khi đó còn là nhà đất, cột tre, đến năm 2013 ông D mới sửa và cất căn nhà như hiện nay. Khi cha cho đất ông D chỉ cho cất nhà ở chứ không nói diện tích, ông D sử dụng diện tích đất gắn liền với căn nhà và diện tích đất trống bên hông nhà và phía sau nhà ông D là ông D dùng để trồng cây, chứ không ai quản lý sử dụng. Cụ T3 và cụ T1 từ trước đến nay ở chung với ông Ngô Văn L1, căn nhà này nằm cặp bên hông nhà ông D, căn nhà hiện nay ông L1 đang ở là nhà của cha mẹ ở từ trước đến nay và cụ T1 hiện nay đang ở căn nhà này. Còn phía sau nhà ông D là căn nhà của ông Ngô Văn H1.

Vào ngày 30/11/2022, các bà T, H, P biết được việc Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới có Quyết định số 85/QĐ-CC.THADS ngày 09/11/2022 về việc kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C và quyền sử dụng đất diện tích 347,3m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2 để thi hành bản án dân sự phúc thẩm số 173/2022/DS-PT ngày 16/9/2022 về việc tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Vũ Thị C với bị đơn ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Theo nội dung quyết định của Tòa án thì vợ chồng ông D, bà Bé H2 có trách nhiệm phải trả cho bà Vũ Thị C số tiền vốn và lãi là 223.519.000 đồng. Vợ chồng ông D, bà Bé H2 tự ý kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối phần đất diện tích 347,3m² là không đúng quy định. Vì vậy, bà T, H, P yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với ½ diện tích 347,3m² cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3; yêu cầu nhận hiện vật mỗi người diện tích 21,7m².

Bị đơn ông Ngô Văn D trình bày:

Nguồn gốc diện tích 347,3m² đất đang tranh chấp là của cụ ông Ngô Văn T3 (đã chết) và cụ bà Nguyễn Thị T1, được thừa hưởng từ ông, bà của cụ T3, cụ T1 và đã quản lý, sử dụng từ trước năm 1975. Cụ T3, cụ T1 có 07 người con gồm: Ngô Văn H1, Ngô Thị H, Ngô Thị T, Ngô Thị L, Ngô Văn L1, Ngô Thúy P và Ngô Văn D. Ông là con út nên sinh sống cùng cha mẹ cho đến khi lập gia đình. Do ông có nhu cầu sử dụng đất nên vào năm 1993, cụ T3, cụ T1 có chỉ chỗ để vợ chồng ông cất nhà riêng để ở. Khi đó ông cất nhà ngang 4m, dài 8m, căn nhà thời điểm năm 1993 là nhà lá, cột tre, vợ chồng ông sử dụng từ năm 1993 đến năm 2013 thì cất lại căn nhà như hiện nay. Vào năm 1993 cụ T3, cụ T1 chỉ đất cho ông cất nhà là cụ T3, cụ T1 không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đất này cụ T3, cụ T1 thừa hưởng từ ông bà để lại. Đến khoảng năm 2016 - 2017, vợ chồng ông tự đi kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 vào ngày 21/4/2017 với phần đất diện tích 347,3m². Việc vợ chồng ông tự kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì các anh, chị, em ruột trong gia đình đều không hay biết. Hiện nay bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông và bà Bé H2 vào ngày 21/4/2017 là bà Vũ Thị C (B) đang giữ. Vì vậy, ông chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đồng ý chia thừa kế theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bé H2 trình bày:

Bà và ông Ngô Văn D kết hôn vào năm 1993, sau đó thì được cha mẹ chồng chỉ chỗ để cất nhà ở trên đất của cha mẹ chồng. Cha mẹ chồng sinh được 07 người con gồm: Ngô Văn H1, Ngô Thị H, Ngô Thị T, Ngô Thị L, Ngô Văn L1, Ngô Thúy P và Ngô Văn D. Còn về nguồn gốc phần đất đang tranh chấp với các nguyên đơn thì bà không rõ. Do chồng bà là con út nên vợ chồng bà sinh sống cùng cha mẹ, đến năm 1993, cha mẹ chồng chỉ chỗ để vợ chồng bà cất nhà riêng để ở, năm 1993 vợ chồng bà cất căn nhà lá, cột tre diện tích ngang 4m, dài 8m, đến năm 2013 thì vợ chồng bà sửa chữa và cất lại căn nhà như hiện nay. Đến khoảng năm 2016 - 2017, vợ chồng bà tự đi kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 vào ngày 21/4/2017 diện tích 347,3m², việc vợ chồng bà tự kê khai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất nêu trên thì mẹ chồng bà và các anh chị em bên chồng đều không hay biết. Đối với yêu cầu của các nguyên đơn thì bà không có ý kiến vì là đất bên phía gia đình cha mẹ chồng, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại đơn trình bày ý kiến người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị L trình bày:

Cha mẹ của bà là cụ ông Ngô Văn T3 (đã chết vào năm 1995) và cụ bà Nguyễn Thị T1 được thừa hưởng từ ông bà diện tích đất khoảng gần 400m² đất tọa lạc xã L, huyện C và cha mẹ của bà đã quản lý, sử dụng đất từ trước năm 1975. Cha mẹ sinh được 07 người con gồm: Ngô Văn H1, Ngô Thị H, Ngô Thị T, Ngô Thị L, Ngô Văn L1, Ngô Thúy P và Ngô Văn D. Khi các anh chị em còn nhỏ sinh sống cùng với cha mẹ để tiện bề chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau. Đến khi các anh, chị em trong gia đình lớn lên, mỗi người đều lập gia đình riêng và đi về những nơi khác sinh sống. Sinh sống gần gũi với cha mẹ là vợ chồng anh thứ hai (Ngô Văn H1), vợ chồng ông Ngô Văn L1 và vợ chồng em út là Ngô Văn D, Nguyễn Thị Bé H2. Cha mẹ của bà chỉ chỗ để em D cất nhà riêng để ở nhưng không nhớ rõ năm nào, chứ cha mẹ chưa chia đất cho bất kỳ người con nào. Việc vợ chồng ông D, bà Bé H2 tự ý kê khai, đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH05570 vào ngày 21/4/2017 diện tích 347,3m² là không đúng quy định vì sonh thời khi còn sống, cha của bà chưa chia đất cho bất kỳ người con nào trong gia đình và mẹ của bà cũng không hay biết việc vợ chồng ông D, bà B hai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, đối với yêu cầu của các nguyên đơn thì bà cũng thống nhất việc chia thừa kế đối với ½ diện tích 347,3m² cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3; yêu cầu nhận hiện vật, không nhận giá trị tuy nhiên bà sẽ để lại kỷ phần mà bà được chia cho bà Ngô Thị H, sinh năm 1960 (là một trong những nguyên đơn trong vụ án) đồng thời bà xin vắng mặt xuyên suốt quá trình tố tụng tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới và đề nghị xét xử đúng quy định pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị C (B) trình bày:

Trước đây bà Nguyễn Thị Bé H2 có vay tiền của bà sau đó bà có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, sau khi Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử thì vợ chồng bà Bé H2, ông D có đơn kháng cáo và được giải quyết bằng bản án số 173/2022/DS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về việc tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Vũ Thị C (B) với bị đơn ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Sau đó Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới có quyết định số 85/QĐ-CC.THADS ngày 09/11/2022 về việc kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C và quyền sử dụng đất diện tích 347,3m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới đang tạm dừng thi hành án để chờ Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế giữa các chị em của ông D. Đối với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 diện tích 347,3m² do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông D, bà Bé H2 vào ngày 21/4/2017 là bà đang giữ bản chính. Nay nguyên đơn bà T, bà H, bà P yêu cầu chia thừa kế là không đúng, vì chị em ông D ở kế bên nhà nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D mà bà T, bà H, bà P cho rằng không biết là không đúng, khi ông D chưa thiếu nợ thì không yêu cầu chia mà đến khi biết ông D, bà Bé H2 có nghĩa vụ trả nợ cho bà thì yêu cầu chia thừa kế do đó bà yêu cầu Tòa án giải quyết đúng theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Kim T2 trình bày:

Trước đây bà Nguyễn Thị Bé H2 có vay tiền của bà sau đó bà có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, sau khi Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử thì vợ chồng bà Bé H2, ông D có đơn kháng cáo và được giải quyết bằng bản án số 142/2022/DS-ST ngày 16/8/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về việc tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Trần Thị Kim T2 với bị đơn ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Sau đó Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới có quyết định số 85/QĐ-CC.THADS ngày 09/11/2022 về việc kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C và quyền sử dụng đất diện tích 347,3m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Hiện nay Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới đang tạm dừng thi hành án để chờ Tòa án giải quyết tranh chấp thừa kế giữa các chị em của ông D. Nay nguyên đơn bà T, bà H, bà P yêu cầu chia thừa kế thì bà không đồng ý vì trước khi bà B Hai hỏi nợ thì chị em ông D không yêu cầu chia mà đến nay có quyết định thi hành án mới yêu cầu chia là có dấu hiệu tẩu tán tài sản không trả nợ cho bà.

Tại phiên tòa hôm nay, các nguyên đơn bà T, bà H, bà P yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với ½ diện tích 347,3m² cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3; yêu cầu nhận hiện vật mỗi người diện tích 21,7m².

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới phát biểu:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, Điều 71, Điều 72, Điều 73 và Điều 234 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 609, Điều 611, Điều 612 Bộ luật Dân sự, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Ngô Thị T, Ngô Thị H, Ngô Thúy P yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với ½ diện tích 347,3m².

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: theo đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thúy P yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật đối với ½ diện tích 347,3m² cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3. Căn cứ khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về thừa kế tài sản.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: bị đơn ông Ngô Văn D, cư trú ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, bà Nguyễn Thị T1, ông Ngô Văn H1, ông Ngô Văn L1, anh Ngô Nhựt N, anh Ngô Hữu N1 đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Riêng bà Ngô Thị L có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà L theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về hàng thừa kế của cụ ông Ngô Văn T3 (đã chết vào năm 1995), các đương sự thống nhất hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3 gồm: Nguyễn Thị T1 (vợ) và 07 người con: Ngô Văn H1, Ngô Thị H, Ngô Thị T, Ngô Thị L, Ngô Văn L1, Ngô Thúy P và Ngô Văn D, ngoài ra không còn người con nào khác. Qua các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ và trình bày của các đương sự có căn cứ xác định hàng thừa kế thứ nhất của cụ ông Ngô Văn T3 gồm: cụ bà Nguyễn Thị T1 (vợ) cùng 07 người con: Ngô Văn H1, Ngô Thị H, Ngô Thị T, Ngô Thị L, Ngô Văn L1, Ngô Thúy P và Ngô Văn D.

[2.2] Về di sản thừa kế:

Theo các nguyên đơn bà T, bà H, bà P thì cụ ông T3 (đã chết), cụ bà T1 được thừa hưởng từ ông, bà của cụ T3, cụ T1 quyền sử dụng đất diện tích đất khoảng 400m², tọa lạc xã L, huyện C, tỉnh An Giang và đã quản lý, sử dụng đất từ trước năm 1975. Diện tích đất này hiện nay ông Ngô Văn D đang trực tiếp quản lý, sử dụng và theo Bản trích đo hiện trạng khu đất ngày 23/02/2024 của Công ty TNHH Đ thì diện tích đất được xác định là 347,3m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Qua lời khai của các đương sự thể hiện vào năm 1993 cụ T3 và cụ T1 có chỉ chỗ cho ông D cất nhà, diện tích đất cất căn nhà vào năm 1993 là diện tích đất nằm trong diện tích 347,3m² theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Bà T, bà H, bà P, ông D đều thừa nhận vào năm 1993 khi cụ T3 cho ông D cất nhà là căn nhà có kết cấu nhà đất, cột tre, đến năm 2013 ông D mới sửa và cất căn nhà có kết cấu mái tole, vách gạch, nền gạch bông theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới. Bà T, bà H, bà P cũng xác định căn nhà của cha mẹ ở là hiện nay do ông Ngô Văn H1 đang quản lý, sử dụng, hiện nay cụ T1 vẫn còn ở trong căn nhà này. Từ đó cho thấy diện tích đất 347,3m² ông D quản lý, sử dụng trực tiếp từ năm 1993, thời điểm năm 1993 ông D cất căn nhà có kết cấu nhà lá, cột tre, đến năm 2013 thì sửa chữa thành căn nhà kiên cố như hiện nay. Thời điểm ông D, bà Bé H2 cất nhà và sửa chữa nhà thì cụ T3 và cụ T1 không có ý kiến. Đến năm 2016, ông D, bà Bé H2 kê khai nguồn gốc đất do cha mẹ tặng cho, cơ quan có thẩm quyền tiến hành niêm yết công khai thủ tục kê khai cấp quyền sử dụng đất cho ông D, bà Bé H2. Thời điểm này các hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3 không có ý kiến nên Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà Bé H2 theo quy định của pháp luật.

Các nguyên đơn bà T, bà H, bà P yêu cầu chia ½ diện tích đất 347,3m² mà vợ chồng ông D, bà Bé H2 đang quản lý, sử dụng nhưng không cung cấp các giấy tờ chứng minh diện tích 347,3m² là của cụ ông T3, cụ bà T1 và cũng xác định diện tích đất này cụ ông T3, cụ bà T1 không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đến năm 1993 cụ ông T3 chỉ cho ông D cất nhà ở cho đến nay.

Đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông D, bà Bé H2, Hội đồng xét xử nhận thấy, ông D, bà Bé H2 cho rằng vợ chồng tự kê khai, đăng ký, các anh chị em không biết, lời khai của ông D, bà Bé H2 không có cơ sở để xem xét bởi ông D, bà Bé H2 đang thực hiện nghĩa vụ thi hành án đối với bản án số 173/2022/DS-ST ngày 16/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang về việc tranh chấp “hợp đồng vay tài sản” giữa nguyên đơn bà Vũ Thị C (B) với bị đơn ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2 và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới có quyết định số 85/QĐ-CC.THADS ngày 09/11/2022 về việc kê biên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại số nhà A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C và quyền sử dụng đất diện tích 347,3m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2. Hơn nữa, diện tích 347,3m² ông D, bà Bé H2 kê khai đăng ký vào năm 2017 là sau khi sửa nhà vào năm 2013, việc sửa chữa nhà các anh chị em đều biết, năm 1993 khi cụ ông T3 cho đất ông D thì các anh chị đều biết, quá trình sử dụng của vợ chồng ông D từ năm 1993 đến nay, căn nhà cha mẹ đang ở là kế nhà ông D nên việc bà T, bà H, bà P cho rằng không biết việc ông D, bà Bé H2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có cơ sở. Còn lời khai của ông D, bà Bé H2 không có căn cứ để xem xét bởi ông D, bà Bé H2 đang có nghĩa vụ thực hiện đối với hai bản án có hiệu lực pháp luật

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T, bà H, bà P về việc yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với ½ diện tích 347,3m² cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3; yêu cầu nhận hiện vật mỗi người diện tích 21,7m².

[2.3] Về chi phí tố tụng: do yêu cầu khởi kiện của bà T, bà H, bà P không được chấp nhận nên phải chịu chi phí tố tụng với số tiền là 4.300.000 đồng (đã nộp xong).

[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Căn cứ điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, bà Ngô Thị T, bà Ngô Thúy P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bà Ngô Thị T được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014674 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 11 năm 2023. Bà Ngô Thúy P được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014673 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 11 năm 2023. Riêng bà Ngô Thị H là người cao tuổi nên được miễn nộp tạm ứng án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 5 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 165, Điều 166, khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, điểm a khoản 1 Điều 650, điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 651, Điều 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thúy P về việc yêu cầu chia thừa kế theo quy định pháp luật đối với ½ diện tích 347,3m² đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH05570 ngày 21/4/2017 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Ngô Văn D, bà Nguyễn Thị Bé H2 cho hàng thừa kế thứ nhất của cụ T3; yêu cầu nhận hiện vật mỗi người diện tích 21,7m².

Về chi phí tố tụng: bà Ngô Thị T, bà Ngô Thị H, bà Ngô Thúy P phải chịu số tiền 4.300.000 đồng (đã nộp xong).

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Ngô Thị T được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014674 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 11 năm 2023.

Bà Ngô Thúy P được hoàn lại số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0014673 do Chi cục thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 28 tháng 11 năm 2023.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của các đương sự vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2024/DS-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 64/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 377/2023/TLST-DS ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “tranh chấp về thừa kế tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 227/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Ngô Thị T, sinh năm 1965, cư trú: số C, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). Bà Ngô Thị H, sinh năm 1960, cư trú: số D, tổ A, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). Bà Ngô Thúy P, sinh năm 1973, cư trú: ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt). 2. Bị đơn: ông Ngô Văn D, sinh năm 1976, cư trú: số A, tổ E, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger