|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 64/2024/HNGĐ-ST Ngày 30/9/2024. V/v: “Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ-TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Việt D
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Việt T và ông Trần Văn T.
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị H - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu H - Kiểm sát viên
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 157/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 67/2024/QÐST – HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đặng Thị T, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khu R, xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Khu R, xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
(Chị T có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh S vắng mặt lần 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại đơn khởi kiện ngày 06/6/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đặng Thị T trình bày: Chị và anh Nguyễn Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 13/10/2006 tại UBND xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Trước khi kết hôn được tự nguyện tìm hiểu, sau khi kết hôn vợ chồng ở tại khu R, xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Qúa trình chung sống, tình cảm vợ chồng hoà thuận hạnh phúc đến đầu năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, lối sống, thường xuyên xảy ra tranh cãi bất hoà. Do mâu thuẫn căng thẳng nên chị và anh S đã sống ly T từ tháng 8 năm 2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh S để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị T và anh S có 04 con chung là Nguyễn Quang H, sinh ngày 30/9/2017; Nguyễn Thị Hoa M, sinh ngày 20/6/2009; Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/8/2017, kể từ khi chị T và anh S ly T, các con ở cùng với chị T. Khi ly hôn, chị T đề nghị trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung, không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị T không yêu cầu giải quyết.
2. Phía bị đơn anh Nguyễn Văn S: Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê đã tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, báo anh S đến làm việc nhiều lần nhưng anh S đều vắng mặt, do vậy hồ sơ không thể hiện quan điểm của anh S.
3. Tại biên bản lấy lời khai ngày 18/6/2024 bà Nguyễn Thị T (mẹ đẻ anh S) trình bày: Anh S là con trai bà, chị T là con dâu. Chị T và anh S kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P. Sau khi kết hôn chị T anh S ở tại khu R, xã P, huyện Cẩm Khê. Quá trình chung sống của chị T và anh S đã xảy ra mâu thuẫn từ nhiều năm nay, nguyên nhân do chị T và anh S chung sống không hòa thuận, thường xảy ra tranh cãi, đánh chửi nhau, khoảng từ đầu năm 2024 chị T và anh S đã sống ly T. Hiện nay anh S đi làm thuê nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của anh S nên không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh S cho Tòa án được. Tuy nhiên anh S vẫn liên lạc bằng điện thoại cho bà, anh S đã biết việc chị T đề nghị Toà án giải quyết ly hôn và có quan điểm không đồng ý ly hôn với chị T vì không muốn bỏ vợ, bỏ con. Chị T cương quyết ly hôn với anh S thì bà đề nghị Toà án giải quyết theo yêu cầu của chị T.
Về con chung: Chị T và anh S có 04 con chung là Nguyễn Quang H, sinh ngày 30/9/2017; Nguyễn Thị Hoa M, sinh ngày 20/6/2009; Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/8/2017. Hiện nay các con chung đều ở cùng chị T. Nếu chị T và anh S ly hôn, bà T đề nghị Tòa án giải quyết việc nuôi con theo nguyện vọng của các cháu, bà T không có ý kiến gì.
4. Nguyện vọng của con chung: Tại bản tự khai ngày 26/7/2024, 04 con chung của chị T và anh S đều có nguyện vọng muốn ở cùng chị T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký: Từ khi thụ lý vụ án đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Việc thu thập chứng cứ, lấy lời khai của đương sự, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Đúng thành phần, đúng quy định từ khi mở phiên toà cho đến khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án.
Về việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn không chấp hành đúng quy định của pháp luật, không có mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án là vi phạm quy định tại khoản 15, 16 Điều 70; Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Quang H, sinh ngày 30/9/2017; Nguyễn Thị Hoa M, sinh ngày 20/6/2009; Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/8/2017 cho chị Đặng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi).. Anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do chị T tự nguyện không yêu cầu.
Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả thẩm tra tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng dân sự:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là vụ án tranh chấp về Hôn nhân và gia đình được quy định tại khoản 1, điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn anh Nguyễn Văn S có hộ khẩu thường trú tại khu R, xã P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Căn cứ điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
[1.3]. Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn: Chị T có đơn đề nghị giải quyết xét xử vắng mặt. Bị đơn anh S đã được Toà án niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh S vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2]. Về nội dung: Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được xem xét tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T và anh Nguyễn Văn S kết hôn ngày 13/10/2006, có đăng ký kết hôn tại UBND P, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Hôn nhân giữa chị T và anh S được xác lập trên cơ sở tự nguyện do đó là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, qua lời trình bày của chị T, bà T mẹ anh S và việc xác minh tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh S tại UBND xã P thì xác định được Hôn nhân của chị T và anh S đã xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, dẫn đến xảy ra tranh cãi, bất hoà. Hiện nay chị T và anh S đã sống ly T, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành niêm yết, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để anh S đến Toà án làm việc, trình bày quan điểm ý kiến cũng như hòa giải nhưng anh S đều vắng mặt, thể hiện anh S không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng. Do vậy cần xử cho chị T được ly hôn anh S là phù hợp thực tế và đúng với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Chị T và anh S có 04 con chung là Nguyễn Quang H, sinh ngày 30/9/2017; Nguyễn Thị Hoa M, sinh ngày 20/6/2009; Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/8/2017, hiện nay các con chung đang ở cùng chị T và đều có nguyện vọng xin ở với chị T. Anh S vắng mặt nên không có lời trình bày của anh S về quan điểm về con chung cũng như việc bà T (mẹ đẻ anh S) không có đề nghị gì. Do vậy, để ổn định chỗ ăn ở, thuận lợi cho việc học tập và sự phát triển về mọi mặt của các con chung cần giao 04 con chung cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do chị T tự nguyện không yêu cầu.
[2.3]. Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Khoản 1, Điều 28; điểm a, khoản 1, điều 35; điểm a, khoản 1, điều 39; khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2, Điều 227; khoản 1, 3 điều 228; Điều 238; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Giao cho chị Đặng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng 04 con chung Nguyễn Quang H, sinh ngày 30/9/2017; Nguyễn Thị Hoa M, sinh ngày 20/6/2009; Nguyễn Thị Như Q, sinh ngày 11/12/2013 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 23/8/2017 kể từ khi vợ chồng ly hôn cho đến khi con chung thành niên (Đủ 18 tuổi). Anh Nguyễn Văn S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung do chị T tự nguyện không yêu cầu.
Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
- Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản; công sức: Chị Đặng Thị T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị Đặng Thị T phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0004889 ngày 11/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Hện Cẩm Khê. Xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết bản án để đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Việt Dũng |
Bản án số 64/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ-TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp về hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 64/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ-TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T xin ly hôn anh S
