|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 64/2024/HS-PT Ngày: 30-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Giang.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp;
Bà Nguyễn Thanh Minh Châu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Quốc Vương – Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 56/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo Bùi Thị L cùng đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
- Bùi Thị L, sinh năm 1969, tại Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Nhà số A ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Nơi cư trú: Hẻm S, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Cao đài; Con ông: Bùi Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị M (đã chết); Chồng ông Phan Văn Đ, sinh năm 1969; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 2006. Tiền án, tiền sự: Không có. Bị cáo tại ngoại (Có mặt)
- Võ Thành N, sinh năm 1965, tại Tây Ninh; Nơi thường trú: Nhà số F, Tổ A, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Con ông Võ Minh C (đã chết) và bà Phạm Thị T1 (đã chết); Vợ tên Nguyễn Bình L1, sinh năm 1968, có 03 người con, lớn nhất sinh năm 1993, nhỏ nhất sinh năm 1998; Tiền án, tiền sự: Không có.
Nhân thân: Ngày 11-01-2019, bị Công an huyện H (nay là thị xã H), tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, nộp phạt ngày 25-01-2019, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Ngày 28-5-2020, bị Công an thị xã H, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 03-6-2020, đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
- Ngày 17-6-2021, bị Công an phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã chấp hành nộp phạt ngày 25-6-2021, đã hết thời hiệu được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt
- Lâm Chí L2, sinh năm 1984, tại Tây Ninh. Nơi thường trú: Nhà số G P, Tổ H, Khu phố A, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Con ông Lâm Chí H, sinh năm 1953 và bà Lê Thị P (đã chết); Vợ tên Khương Thị Ánh T2, sinh năm 1982 (đã ly hôn); Con: 02 người, lớn sinh năm 2001, người nhỏ sinh năm 2004. Tiền án, tiền sự: Không có.
- Bị cáo tại ngoại. Có mặt
- Phạm Thanh T3; sinh năm 1968, tại Tây Ninh. Nơi thường trú: Tổ 03, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 02/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Con ông: Phạm Văn H1, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1942; Vợ tên Phan Thị D, sinh năm 1968, có 02 người con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1993. Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt
- Nguyễn Tấn D1, sinh năm 1982, tại: tỉnh Tây Ninh. Nơi thường trú: Nhà số I, Tổ G, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Phạm Thị L3, sinh năm 1958, bị cáo không có vợ con. Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt
- Nguyễn Thị Hồng D2, sinh năm 1974, tại Tây Ninh. Nơi thường trú: Nhà số B, Tổ E, khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Cao đài; Con ông Nguyễn Văn L4 (đã chết) và bà Lê Thị Hồng H2 (đã chết). Chồng tên Nguyễn Dương V, sinh năm 1980, có 02 người con, lớn sinh năm 1995, nhỏ sinh năm 2011. Tiền án, tiền sự: Không có.
Bị cáo tại ngoại. Có mặt
- Lê Văn D3, sinh năm 1973, tại Tây Ninh. Nơi thường trú: Nhà số D, ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao đài; Con ông Lê Văn Q1 (đã chết) và bà Huỳnh Thị X, sinh năm 1952; Vợ tên Nguyễn Thị G, sinh năm 1972, đã ly hôn, có 02 người con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1996.
+ Tại Bản án số 74/2022/HSST ngày 30/9/2022, Toà án nhân dân thị xã Hoà Thành áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” chấp hành xong hình phạt tù ngày 15-02-2023, chưa được xóa án tích;
- Nhân thân
+Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 74/QĐ-XPHC ngày 13/5/2022, Công an xã T, thị xã H áp dụng điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.
- Bị cáo tại ngoại. Có mặt
Ngoài ra, trong vụ án này còn có các bị cáo khác không có kháng cáo, kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 20 giờ 40 phút ngày 11/8/2023, Công an thị xã H, tỉnh Tây Ninh, bắt quả tang Bùi Thị L, Lâm Chí L2, Võ Thành N, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Trần Văn N1, Phạm Thanh S đang tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua ăn thua bằng tiền do bị cáo Bùi Thị L làm cái tại nhà của bị cáo L thuê thuộc ấp T, xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh. Thu giữ 01 bộ dụng cụ lắc bầu cua; thu giữ trên người những người tham gia đánh bạc số tiền 23.410.000 đồng và một số vật chứng khác có liên quan.
Qua điều tra xác định như sau: Vào khoảng 12 giờ ngày 11/8/2023, Nguyễn Dương V đem theo số tiền 270.000 đồng, Lê Thị Diệu H3 đem theo số tiền 100.000 đồng, Lê Văn D3 đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” và đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xoá án tích đem theo số tiền 50.000 đồng; Phạm Thị Lệ H4 đem theo số tiền 300.000 đồng đến nhà bị cáo Bùi Thị L để tham gia đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. Tại đây, L chuẩn bị dụng cụ là bộ lắc bầu cua và dùng số tiền 200.000 đồng hùn tiền với Lệ H4 để làm cái lắc bầu cua cho V, H3, D3 đặt cược. Tổng số tiền dùng đánh bạc của những người tham gia tại chiếu bạc là 920.000 đồng. Việc đánh bạc diễn ra liên tục đến 16 giờ cùng ngày thì nghỉ tất cả ra về.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, bị cáo Bùi Thị L tiếp tục làm cái lắc bầu cua được thua bằng tiền cho các bị cáo Lâm Chí L2, Võ Thành N, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Trần Văn N1, Phạm Thanh S và một số người khác (rời khỏi hiện trường trước khi bị bắt, không rõ nhân thân, địa chỉ) tham gia đặt cược thì bị bắt quả tang, tổng số tiền dùng đánh bạc là 16.360.000 đồng, cụ thể như sau:
- Bị cáo Bùi Thị L sử dụng số tiền 500.000 đồng và hùn với Võ Thành N số tiền 3.800.000 để làm cái lắc bầu cua, mỗi ván người chơi đặt cược với số tiền từ 10.000 đồng đến 300.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo L thua số tiền 500.000 đồng.
- Bị cáo Võ Thành N sử dụng số tiền 3.800.000 đồng để tham gia đánh bạc. Đến nơi, N hùn tiền với bị cáo Bùi Thị L để làm cái lắc bầu cua, bị cáo N có nhiệm vụ phụ bị cáo L chung chi tiền thắng thua. Bị cáo N tham gia đặt nhiều ván, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo N thắng được số tiền 130.000 đồng nhưng làm rơi mất, thu giữ trên người của N số tiền 3.800.000 đồng.
- Bị cáo Lâm Chí L2 mang theo số tiền 15.000.000 đồng (trong đó số tiền 7.000.000 đồng là tiền bị cáo L2 đi gom hụi cho bạn gái Vương Thị Huỳnh N2, sinh năm 1985 ngụ khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh) và dùng 8.000.000 đồng để tham gia đặt cược lắc bầu cua. bị cáo L2 tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván từ 10.000 đồng đến 300.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo L2 thua số tiền 1.600.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 13.400.000 đồng.
- Bị cáo Phạm Thanh T3 mang theo số tiền 2.410.000 đồng để tham gia đặt cược lắc bầu cua. Bị cáo T3 tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván từ 20.000 đồng đến 300.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo T3 thắng số tiền 100.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 2.510.000 đồng.
- Bị cáo Phạm Thanh S mang theo số tiền 2.380.000 đồng để tham gia đặt cược. Bị cáo S tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván số tiền 20.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo S huề tiền, thu giữ trên người số tiền 2.380.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Tấn D1 mang theo số tiền 750.000 đồng để tham gia đặt cược lắc bầu cua. Bị cáo D1 tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván số tiền từ 20.000 đồng đến 60.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo D1 thua số tiền 280.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 470.000 đồng.
- Bị cáo Trần Văn N1 mang theo số tiền 370.000 đồng để tham gia đặt cược. Bị cáo N1 tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván số tiền từ 10.000 đồng đến 30.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo N1 thắng được số tiền 80.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 450.000 đồng.
- Bị cáo Nguyễn Thị Hồng D2 mang theo số tiền 240.000 đồng để tham gia đặt cược. Bị cáo D2 tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván số tiền từ 20.000 đồng đến 40.000 đồng. Đến khi bị bắt bị cáo D2 huề vốn và làm rớt số tiền 120.000 đồng, thu giữ trên người số tiền 120.000 đồng.
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đã xử:
Tuyên bố các bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N, Lâm Chí L2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lê Văn D3 phạm tội “Đánh bạc”.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị L 01 (một) năm tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Thành N 09 (chín) tháng tù..
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt các bị cáo Lâm Chí L2 07 (bảy) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS: Xử phạt các bị cáo Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2 mỗi bị cáo 06 (sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn D3 06 (sáu) tháng tù.
Bản án còn tuyên về hình phạt tù đối với các bị cáo khác; biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15-3-2024 bị cáo Nguyễn Thị Hồng D2 có đơn kháng cáo, nội dung: xin được hưởng án treo để có điều kiện ở nhà nuôi mẹ và con nhỏ.
Ngày 18-3-2024 bị cáo Nguyễn Tấn D1 và Phạm Thanh T3 có đơn kháng cáo, nội dung: xin được hưởng án treo.
Ngày 20-3-2024 bị cáo Lâm Chí L2 có đơn kháng cáo, nội dung: Bị cáo là lao động chính của gia đình, đang chăm sóc phụng dưỡng cha ruột trên 70 tuổi thường xuyên đau ốm, nuôi con đang học đại học, xin xem xét cho bị cáo hưởng án treo.
Ngày 22-3-2024 bị cáo Lê Văn D3 có đơn kháng cáo, nội dung: Hoàn cảnh gia đình khó khăn, là trụ cột chính của gia đình, mua bán phế liệu để muôi mẹ già, xin được hưởng án treo.
Ngày 25-3-2024 bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N có đơn kháng cáo, nội dung: Bị cáo N đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc tế vẻ vang tại chiến trường Campuchia được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba. Xin giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo L cho rằng trình độ học vấn thấp, nhận thức pháp luật có phần hạn chế, vì ham vui nhất thời phạm tội, bản thân lớn tuổi sức khỏe yếu, đang mắc nhiều bệnh, phải nuôi cháu ngoại bị câm, điếc bẩm sinh từ nhỏ, xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N, Lâm Chí L2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lê Văn D3. Căn cứ Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin được Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, giảm nhẹ cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, vào các ngày 15-3-2024; 18-3-2024; 20-3-2024; 22-3-2024 và 25-3-2024 các bị cáo: Nguyễn Thị Hồng D2, Nguyễn Tấn D1, Phạm Thanh T3, Lâm Chí L2, Lê Văn D3, Bùi Thị L, Võ Thành N có đơn kháng cáo, qua xem xét đơn kháng cáo, đúng trình tự, thủ tục quy định tại Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo thể hiện như sau:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 40 phút ngày 11-8-2023 Công an thị xã H bắt quả tang các bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N đánh bạc trái phép bằng hình thức làm cái lắc bầu cua ăn thua bằng tiền với các bị cáo Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lâm Chí L2, Trần Văn N1, Phạm Thanh S, số tiền tham gia đặt cược do bị cáo L quy ước thấp nhất là 10.000 đồng, cao nhất là 300.000 đồng, có căn cứ xác định tiền dùng vào việc đánh bạc là 16.360.000 đồng. Cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự là có căn cứ. Riêng bị cáo Lê Văn D3 sử dụng số tiền 50.000 đồng tham gia đặt cược tại chiếu bạc đã nghỉ trước đó, có căn cứ xác định tiền dùng vào việc đánh bạc của chiếu bạc đã nghỉ là 920.000 đồng không đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, do bị cáo D3 bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích lại tiếp tục tham gia đánh bạc nên bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của BLHS là có căn cứ.
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn tại địa phương. Cần xử lý các bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:
[4.1] Đối với bị cáo Bùi Thị L: là chủ địa điểm đánh bạc, chủ động mua dụng cụ lắc bầu cua và cùng với bị cáo Võ Thành N làm cái trực tiếp chung chi với các con bạc ngoài ngày bị bắt quả tang, trước đó bị cáo tổ chức đánh bạc nhiều ngày, bản thân bị cáo L khai tại BL 23-24 ngày 11-8-2024: “Địa điểm đánh bạc bắt đầu hoạt động được 7 ngày thì bị bắt”, theo bị cáo L2 khai (BL53) “Biết chị 7 Lẹ tổ chức đánh bạc tại địa điểm trên cách khoảng hơn 1 tháng nay”.... Do không có căn cứ xác định tiền dùng vào việc đánh bạc của những ngày trước đó nên không có căn cứ xử lý hình sự, tuy nhiên thể hiện tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội cao. Bị cáo L kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới, sức khỏe đau ốm, gia đình khó khăn là điều kiện chấp hành án, không phải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo L.
[4.2] Đối với bị cáo Võ Thành N: Bị cáo là người hùn với bị cáo L làm cái trực tiếp chung chi với con bạc, bản thân bị cáo trực tiếp tham gia đặt cược. Trong vụ án bị cáo tham gia với vai trò tích cực, vừa làm cái vừa trực tiếp đặt cược ăn thua, bản thân bị cáo từ năm 2019 đến năm 2021 đã 03 lần bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” nhưng vẫn tiếp tục tham gia đánh bạc thể hiện tính xem thường pháp luật, mức độ nguy hiểm cho xã hội sau bị cáo L. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết giảm nhẹ mới. Do đó, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4.3] Đối với bị cáo Lâm Chí L2: Có căn cứ chứng minh bị cáo sử dụng số tiền 8.000.000 đồng để đánh bạc, tham gia đặt cược từ 10.000 đồng – 300.000 đồng, thua hết 1.600.000 đồng. Xét bị cáo bị xét xử khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ: phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra, truy tố thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Hiện tại bị cáo là trụ cột gia đình chăm sóc, nuôi dưỡng cha ruột sinh năm 1953 đã trên 70 tuổi và nuôi con học Đại học, có xác nhận của chính quyền địa phương nơi cư trú và xác nhận của Trường Đại học Ngân hàng Thành phố H về việc học của con ruột bị cáo (Lâm Gia L5). Về nhân thân bị cáo tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này ra bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách địa phương, bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền 50.000 đồng là khoản tiền không lớn, có đủ điều kiện áp dụng chế định án treo cho bị cáo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và được sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao và có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4.4] Đối với các bị cáo: Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, các bị cáo là người trực tiếp đặt cược thắng thua, bị cáo T3 sử dụng 2.410.000 đồng, bị cáo Tấn D1 sử dụng 750.000 đồng, bị cáo D2 sử dụng 200.000 đồng tham gia đánh bạc, số tiền không lớn, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, vai trò trong vụ án chỉ là người đặt cược thắng thua, số tiền nhỏ, các bị cáo tham gia đoạn sau từ 18 giờ đến 20 giờ 40 phút bị bắt, nhân thân các bị cáo tốt, có địa chỉ rõ ràng, đủ điều kiện áp dụng chế định án treo cho bị cáo theo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và được sửa đổi bổ sung tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao và có căn cứ áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo hưởng án treo. Có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[4.5] Đối với bị cáo Lê Văn D3: Bị cáo tham gia sòng bạc trước đó từ 12 giờ đến 16 giờ nghỉ, do bị cáo Bùi Thị L làm cái, các con bạc đặt cược gồm: Lê Văn D3 sử dụng 50.000 đồng, Lê Thị Diệu H3 sử dụng 100.000 đồng, Phạm Thị Lệ H4 sử dụng 300.000 đồng, Nguyễn Dương V sử dụng 270.000 đồng, Cơ quan điều tra xác định số tiền dùng vào việc đánh bạc là 920.000 đồng nên không đủ định lượng xử lý hình sự đối với chiếu bạc trên. Tuy nhiên, bị cáo Lê Văn D3 đã bị xử phạt hanh chính, bị kết án về tội “Đánh bạc”, cụ thể:
Tại Quyết định số 74/QĐ-XPHC ngày 13-5-2022 của Công an xã T, H, Tây Ninh xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc đến ngày 11-8-2023 đã hết thời hiệu thi hành.
Đối với bản án số 74/2022/HSST ngày 30-9-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Đánh bạc” ra trại ngày 15-02-2023 đến ngày 11-8-2023 bị cáo sử dụng 50.000 đồng tham gia đánh bạc, do đã bị kết án về tội “Đánh bạc” chưa được xóa án tích lại tiếp tục đánh bạc dưới 5.000.000 đồng nên việc xét xử bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, xét số tiền đánh bạc nhỏ, cấp sơ thẩm xử phạt tù đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc, cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe phòng ngừa tội phạm, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, làm nghề mua bán ve chai thu nhập không ổn định. Do đó, miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Văn D3.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo của các bị cáo Lâm Chí L2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lê Văn D3 được chấp nhận, nên không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm. Kháng cáo của các bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N không được chấp nhận, nên phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
I/ Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 356; Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của Bùi Thị L, Võ Thành N;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lâm Chí L2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lê Văn D3.
Sửa bản án sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 13 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
II/ Tuyên bố 07 bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N, Lâm Chí L2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lê Văn D3 phạm tội “Đánh bạc”
1 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Thị L 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
2 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Võ Thành N 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Lâm Chí L2 07 (bảy) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 14 (mười bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (30-5-2024).
Giao bị cáo Lâm Chí L2 cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục, gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
4 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh T3 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (30-5-2024).
5. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tấn D1 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (30-5-2024).
Giao các bị cáo Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục, gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
6. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Hồng D2 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (30-5-2024).
Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng D2 cho Ủy ban nhân dân phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh giám sát giáo dục, gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách; nếu một trong các bị cáo L2, T3, Tấn D1, D2 cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án này và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
4 Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn D3 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã H nhận được quyết định thi hành án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Lê Văn D3.
Giao bị cáo Lê Văn D3 cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã H, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
III. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lâm Chí L2, Phạm Thanh T3, Nguyễn Tấn D1, Nguyễn Thị Hồng D2, Lê Văn D3 không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các bị cáo Bùi Thị L, Võ Thành N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm
IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Văn Diệp |
Phạm Thị Thanh Giang |
|
Nguyễn Thanh Minh Châu |
Bản án số 64/2024/HS-PT ngày 30/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 64/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Lẹ cùng đồng phạm
