Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 64/2023/HS-PT

Ngày: 28/11/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Võ Nguyên Tùngông Trần Minh Quang.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 28 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 59/2023/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2023 do có kháng cáo của các bị cáo P4 với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2023/HS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Trần Thái B(tên gọi khác: B1sinh năm 1998 tại tỉnh Phú Yên, nơi cư trú: Thôn P, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yênnghề nghiệp: Làm biển. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 05/12. Con ông Phạm Trọng Q năm 1974 và bà Trần Thị Thanh H năm 1979, có vợ tên Bùi Thị K T1sinh năm 2001 và 01 con sinh năm 2020. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Phạm Trần Thái P, sinh năm 2001 tại tỉnh Phú Yên, nơi cư trú: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yênnghề nghiệp: Không (bị cáo khai tại phiên tòa đang làm thuê). Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông Phạm Trọng Q năm 1974 và bà Trần Thị Thanh H năm 1979. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  3. Huỳnh Ngọc T(tên gọi khác: Csinh năm 1997 tại tỉnh Phú Yên, nơi cư trú: Khu phố L, phường X, thị xã S, tỉnh Phú Yênnghề nghiệp: Làm thuê. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 10/12. Con ông Huỳnh Văn C năm 1973 và bà Phạm Thị Công N năm 1976. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
  4. Trần Khải H1(tên gọi khác: H2), sinh năm 1982 tại tỉnh Phú Yên, nơi ĐKTT: Thôn P, xã X, huyện Đ, tỉnh Phú Yênchỗ ở hiện nay: Khu phố L, thị trấn L, huyện Đ, tỉnh Phú Yênnghề nghiệp: Lái xe. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 08/12. Con ông Trần C2sinh năm 1954 và bà Cao Thị X năm 1954, có vợ tên Mai Thị M H3sinh năm 1989 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 31/01/2016, bị Công an thị trấn L Quyết định số 0009798 xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.000.000 đồng về hành vi đánh bạc, chấp hành xong ngày 28/02/2017. Ngày 10/02/2022, bị TAND huyện Đồng Xuân xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo về tội Đánh bạc theo Bản án số 03/2022/HSST, thời gian thử thách 12 tháng. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

* Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc TÔng Lê T1 H2Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N phòng L2và cộng sự, địa chỉ: Tổ dân phố D, phường N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa Có mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo Trần Văn T2 Văn STrần Văn H4bị xử phạt về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm a, d, Khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự, Ngô Văn MVõ Văn VLê Thị H5Nguyễn Thị LTrần Ngọc S Thị Mỹ H Thị Thu H T, Nguyễn Thị B1 bị xử phạt về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự nhưng không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 16 giờ ngày 04/10/2019, Công an thị xã S với Công an xã X kiểm tra, phát hiện tụ điểm đánh bạc ăn thua bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa tại khu vực “Suối Ngược” thuộc thôn B, xã X, T kiểm tra xác định được những người có mặt tại tụ điểm đánh bạc gồm: T Ngọc S Thị Mỹ H Thị Thu H Văn STrần V Ngọc TTrần V Trần Thái PNguyễn Thị B T Thị Mỹ H Quốc T Trâm AChâu T V1Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản tạm giữ đồ vật, dụng cụ dùng vào việc đánh bạc và tổ chức đánh bạc gồm: 17 ghế nhựa vuông, loại nhỏ; 16 đòn nhựa; 01 lá bài tú lơ khơ (quân bài “ ba chuồng”) bị cắt rỗng dạng hình tròn, đường kính 01 cm; 01 tấm bạc, hai mặt màu xanh - đen diện (04x04) mét; 01 tấm bạc, hai mặt màu xanh - đen, diện (10x06) mét. Thu giữ trên người của Dương Thị M1 H6số tiền 2.000.000 đồng, thu giữ trên người của Lê Thị Hằng số tiền 130.000 đồng.

Quá trình điều tra đã xác định được sòng bạc do Trần Văn T2 Văn T3 Phạm Trần Thái BPhạm Trần Thái PHuỳnh N1 TTrần Văn STrần Văn H4tổ chức để cho Ngô Văn M2 Trần Khải H3 cái xóc đĩa cho nhiều người tham gia đặt cược.

Ngày 04/10/2019, Trần Văn T3 Phạm Trần Thái BTrần Văn T4(sinh ngày 14/11/2003 là em ruột của T2) cùng bàn bạc, thống nhất địa điểm tổ chức đánh bạc và rủ người canh gác sòng bạc tại khu vực khu “Suối Ngược” thuộc thôn B, xã X để thu tiền xâu từ những người tham gia đánh bạc và T2trả cho B, T3mỗi người 200.000 đồng. Sau đó, T3rủ Trần Văn S, Trần Văn H4, Huỳnh Ngọc T, Phạm Trần Thái P canh gác, phục vụ cho sòng bạc do T2tổ chức sẽ được trả số tiền từ 150.000 đồng đến 200.000 đồng thì SH4TPđồng ý. Để tổ chức đánh bạc, T2phân công T3chuẩn bị các dụng cụ dùng để đánh bạc như chén, đĩa, ghế nhựa, đòn nhựa, tấm bạt... còn B, SH4TP canh gác tại khu vực sòng bạc và phân công B thu tiền xâu từ những người tham gia đánh bạc mỗi người 200.000 đồng. T2dùng điện thoại số thuê bao 0985.932.xxx để liên lạc điều hành cho việc tổ chức đánh bạc. Tại sòng bạc, B2 thu tiền xâu từ những người tham gia đánh bạc được số tiền 1.400.000 đồng và sau đó B2 chia đều cho T2BT3SH4PT mỗi người được 200.000 đồng để tiêu xài.

Đã xác định được những người tham gia đánh bạc, số tiền đánh bạc và kết quả thắng thua của từng người cụ thể như sau: Ngô Văn M2 Trần Khải H5 thuận cùng nhau làm cái xóc đĩa từ 13 giờ 30 phút đến 16 giờ ngày 04/10/2019, M3 cho H6 tiền 15.000.000 đồng để H7 tiếp xóc đĩa và chung chi tiền thắng thua cho những người tham gia đặt cược trên chiếu bạc, còn M4 cạnh H8 dõi việc H3 cái xóc đĩa chung chi tiền thắng thua. Mvà Hlàm cái xóc đĩa nhiều ván, mỗi ván những người chơi tham gia đặt cược số tiền dao động từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng. Kết quả Mvà Hthua hết số tiền 15.000.000 đồng. Dương Thị M1 H6dùng số tiền 2.600.000 đồng tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván 200.000 đồng, kết quả thua 600.000 đồng. Thu giữ trên người của H6số tiền 2.000.000 đồng sẽ tiếp tục đánh bạc. Nguyễn Thị L số tiền 350.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược nhiều ván, mỗi ván đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng, kết quả thua hết số tiền 350.000 đồng. Lê Thị H5dùng số tiền 280.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 03 ván, mỗi ván 50.000 đồng, kết quả thua 150.000 đồng. Thu giữ trên người của Hằng số tiền 130.000 đồng sẽ tiếp tục đánh bạc. Võ Văn V số tiền 200.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 03 ván, ván thứ nhất đặt cược 100.000 đồng thắng cược, ván thứ hai đặt cược 100.000 đồng thua cược, ván thứ ba đặt cược 100.000 đồng thua cược, còn lại 100.000 đồng khi lực lượng Công an kiểm tra phát hiện V1 chạy thì bị rơi mất. Trần Ngọc S1dùng số tiền 200.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 100.000 đồng, thua hết 200.000 đồng. Trương Thị T5 H7dùng số tiền 200.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 100.000 đồng, thua hết 200.000 đồng. Nguyễn Thị B2dùng số tiền 200.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 02 ván, mỗi ván 100.000 đồng, thua hết 200.000 đồng. Nguyễn Thị Kim L1dùng số tiền 100.000 đồng đánh bạc, tham gia đặt cược 01 ván số tiền 100.000 đồng, thua hết 100.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc là 19.130.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2023/HS-ST ngày 08/8/2023 của Tòa án nhân dân thị xã Sông Cầu, tỉnh Phú Yên đã tuyên xử:

  • + Các bị cáo Phạm Trần Thái B3 Trần Thái PHuỳnh Ngọc T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm a, d khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt:
    • - Bị cáo Phạm Trần Thái B 01 (Một) năm 06 (S2tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 20.000.000đ.
    • - Các bị cáo Phạm Trần Thái PHuỳnh Ngọc T6: Mỗi bị cáo 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung mỗi bị cáo 20.000.000đ.
  • + Bị cáo Trần Khải H1 phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự với mức hình phạt 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000₫

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phạt các bị cáo Trần Văn T3, Trần Văn S, Trần Văn H4, Ngô Văn M5, Võ Văn VDương T, Trần Ngọc S Thị H H Thị B, Nguyễn Thị L1, tuyên về chế định án treo, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/8/2023, các bị cáo Phạm Trần Thái PPhạm Trần Thái B4 đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Ngày 17 và 23/8/2023, các bị cáo Huỳnh Ngọc TTrần K1 Hcó đơn kháng cáo với nội dung xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Trần Thái BPhạm Trần Thái P1 Khải Hvẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo Huỳnh Ngọc T bổ sung nội dung kháng cáo xin được hưởng án treo và đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tuyên.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Ngọc T7 Luật sư Lê T1 H2trình bày: Sau khi phạm tội, bị cáo T8 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã nộp số tiền thu lợi bất chính 200.000đ. Bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm thứ yếu. Bị cáo có nhân thân tốt nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Bị cáo trình độ nhận thức pháp luật hạn chế, hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo T9 hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo Phạm Trần Thái B3 Trần Thái PHuỳnh Ngọc TTrần Khải H tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị Trần Văn T2 Văn STrần Văn H4Ngô Văn MVõ Văn VDương Thị Mỹ H Ngọc S Thị H5Trương Thị Thu H Thị B L1Nguyễn Thị Lvề thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 04/10/2019, tại thôn B, xã X, thị xã S, tỉnh Phú YênTrần Văn T2cùng Phạm Trần Thái BTrần V Trần Thái PHuỳnh N tổ chức cho Ngô Văn MTrần Khải HVõ Văn VTrần Ngọc S Thị LLê Thị H H Thị Thu H Thị B L1đánh bạc dưới hình thức xóc đĩa ăn thua bằng tiền để hưởng lợi với số tiền 1.400.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 19.130.000 đồng. Trần Khải H9 Ngô Văn M6 thuận cùng nhau làm cái xóc đĩa từ khi mở sòng cho đến khi kết thúc. Mđưa cho H6 tiền 15.000.000 đồng để H7 tiếp xóc đĩa, chung chi tiền thắng thua cho người chơi, còn M4 cạnh H8 dõi việc H3 cái xóc đĩa chung chi tiền thắng thua. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử các bị cáo Phạm Trần Thái B3 Trần Thái PHuỳnh Ngọc T về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại Điểm a, d, Khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự, Trần Khải H1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[2] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nếp sống văn minh, trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an - an toàn xã hội tại địa phương nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo.

[3] Xét kháng cáo của các Phạm Trần Thái BPhạm T13, Hội đồng xét xử thấy:

[3.1] Đối với các bị cáo Huỳnh Ngọc T10 Khải H: Khi lượng hình, bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo; xem xét nhân thân, nguyên nhân, điều kiện phạm tội, áp dụng đúng và đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà từng bị cáo được hưởng và xử phạt: Bị cáo Huỳnh Ngọc T(Một) năm tù và phạt bổ sung 20.000.000đ; bị cáo Trần Khải H1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù và phạt bổ sung 10.000.000đ và không cho các bị cáo hưởng án treo là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ, vai trò phạm tội của từng bị cáo. Đối với bị cáo T11 hiện hành vi tổ chức đánh bạc với vai trò cảnh giới, canh gác và trực tiếp dẫn những người tham gia đánh bạc vào nơi tổ chức đánh bạc nên người bào chữa cho bị cáo Tđề nghị áp quy định tại Điểm i, Khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo T7 không có cơ sở nên Hội đồng xét xử không chấp nhận. Các bị cáo THkháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo nhưng không phát sinh tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới tại cấp phúc thẩm. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo TH và ý kiến của người bào chữa cho bị cáo T12 chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về mức hình phạt để đảm bảo tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo TH và phòng ngừa tội phạm.

[3.2] Đối với bị cáo Phạm Trần Thái B: Bị cáo B phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo T2và phân công nhiệm vụ cho người canh gác, bảo vệ hoạt động của sòng bạc, cảnh giới, thu tiền xâu, trả tiền công cho người canh gác nên bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo mức hình phạt 01 năm 06 tháng tù là có căn cứ. Tuy nhiên, xét thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo chủ động nộp lại số tiền 200.000đ thu lợi bất chính. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp biên lai đã nộp tiền phạt bổ sung 20.000.000₫ và án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ thể hiện thái độ thật sự ăn năn hối cải. Bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ sinh năm 2020, vợ bị cáo hiện đang mang thai, sức khỏe yếu, không lao động được có xác nhận của chính quyền địa phương. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Do đó, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo B, giảm cho bị cáo B5 phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo thành công dân tốt có ích cho xã hội.

[3.3] Đối với bị cáo Phạm Trần Thái P: Bị cáo P phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức do bị cáo B6 rê, lôi kéo, thuê làm nhiệm vụ canh gác, cảnh giới. Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi phạm tội, bị cáo P đã chủ động nộp lại số tiền 200.000đ thu lợi bất chính. Quá trình điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, bị cáo P đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo P cung cấp biên lai đã nộp tiền phạt bổ sung 20.000.000đ và án phí hình sự sơ thẩm 200.000đ thể hiện thái độ thật sự ăn năn hối cải. Bị cáo P2 nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới phát sinh tại cấp phúc thẩm. Mặt khác, bị cáo P và bị cáo B7 hai anh em ruột cùng bị xét xử trong vụ án, bị cáo B đã bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn. Do đó, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa, chấp nhận kháng cáo của bị cáo P, không cần thiết cách ly bị cáo P ra khỏi xã hội một thời gian mà cho bị cáo P được hưởng chính sách hình sự quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo P và phòng ngừa tội phạm.

[4] Các bị cáo Huỳnh Ngọc TTrần K1 H kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm, các bị cáo Phạm Trần Thái BPhạm Trần Thái P không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Huỳnh Ngọc TTrần Khải H10 – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo TH.

Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355; Điểm c, e, Khoản 1, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phạm Trần Thái B8 nhận kháng cáo của bị cáo Phạm Trần Thái P – Sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo BP

Tuyên bố: Các bị cáo P5 phạm tội “Tổ chức đánh bạc”, bị cáo Trần Khải H1 phạm tội “Đánh bạc”.

1. Về hình phạt:

  • -Áp dụng Điểm a, d, Khoản 1, Điều 322; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Phạm Trần Thái B3 Trần Thái PHuỳnh Ngọc TÁp dụng thêm Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Trần Thái P3 Xử phạt:
    • +Bị cáo Phạm Trần Thái B 01 (Một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
    • +Bị cáo Huỳnh Ngọc T 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng).
    • +Bị cáo Phạm Trần Thái P 01 (Một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Phạm Trần Thái P cho Ủy ban nhân dân phường X, tỉnh Phú Yêngiám sát, giáo dục bị cáo trong thời hạn thử thách. Gia đình bị cáo P có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo P3 Trường hợp bị cáo P thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo P được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  • -Áp dụng Khoản 1 Điều 321; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • +Phạt bị cáo Trần Khải H1 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Phạt bổ sung 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Huỳnh Ngọc TTrần K1 H mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN
– CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Trần Minh Quang Võ Nguyên Tùng Nguyễn Việt Hùng

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;
  • - TAND Tx Sông Cầu (2);
  • - CQ CSĐT Công an Tx Sông Cầu;
  • - VKSND Tx Sông Cầu;
  • - CQ THTT, P. KTNV- THAHS; Bị cáo, NTGTT, Lưu THS, AV.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 64/2023/HS-PT ngày 28/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 64/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án HSPT B và đồng phạm - đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger